LỄ HỘI KỲ PHÚC Ở LÀNG PHÚ KHÊ - XÃ HOẰNG PHÚ - HUYỆN HOẰNG HÓA - TỈNH THANH HÓA - KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC - Pdf 14


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
PHẠM THỊ THUYẾT

LỄ HỘI KỲ PHÚC Ở LÀNG PHÚ KHÊ
- XÃ HOẰNG PHÚ - HUYỆN HOẰNG HÓA
- TỈNH THANH HÓA KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
SƠN LA, NĂM 2013

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC


Sử đã động viên giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện khóa luận này.
Xin gửi lời cảm ơn tới bác Lê Xuân Quyền, bác Trần Duy Phương, các
ban ngành, tổ chức văn hóa huyện Hoằng Hóa đã giúp đỡ cung cấp tài liệu giúp
tôi hoàn thành khóa luận này.
Tôi xin trân thành cảm ơn

Sơn La, tháng 5 năm 2013
Tác giả
Phạm Thị Thuyết

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. 3
3.1. Mục đích 3
3.2. Đối tượng 3

PHỤ LỤC ẢNH

1
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Thanh Hóa là tỉnh nằm trải dài theo đường cong hình chữ S. Vùng đất này
từ lâu đã được biết đến với tên gọi khá ấn tượng “đất Thanh đất học”, là vùng
đất tuy khá khô cằn nhưng nơi đây đã sản sinh ra nhiều anh hùng hào kiệt. Có
thể nói đây là vùng đất “địa danh nhân kiệt” của nước ta. Không chỉ thế, Thanh
Hóa còn được biết đến là vùng đất với nét văn hóa độc đáo lưu giữ nhiều truyền
thống tốt đẹp của dân tộc. Hằng năm cứ mỗi độ xuân về nhân dân trong tỉnh lại
nô nức đón mừng các lễ hội truyền thống của quê hương. Đây cũng chính là
món ăn tinh thần không thể thiếu của người dân xứ Thanh.
Lễ hội là đối tượng quan trọng của nền văn hóa dân tộc, có ý nghĩa vô
cùng quan trọng trong đời sống vật chất cũng như tinh thần của con người, đồng
thời phản ánh rõ nét nhất sinh hoạt tín ngưỡng của người dân đất Việt. Vì vậy,
từ lâu lễ hội không chỉ trở thành đối tượng nghiên cứu của các văn hóa, các nhà
dân tộc học mà còn là đối tượng nghiên cứu của các nhà sử học.
Với những lí lẽ trên, việc lựa chọn vấn đề “lễ hội Kỳ Phúc ở làng Phú Khê
- xã Hoằng Phú - huyện Hoằng Hóa - tỉnh Thanh Hóa” làm khóa luận tốt
nghiệp tôi mang theo nhiều băn khoăn trăn trở. Bởi lẽ:
Lễ hội là đối tượng quan trọng của sử học, có thể coi lễ hội là nguồn tư
liệu sống phản ánh một cách rõ nét nhất các sự kiện, nhân vật lịch sử. Lễ hội là
nơi bảo lưu các truyền thống văn hóa xã hội của làng, xã, của một địa phương,
lịch sử và quá khứ sẽ trở nên rõ nét hơn, sinh động hơn bởi những nguồn tư liệu
được cung cấp từ lễ hội.
Trong thời buổi kinh tế thị trường hiện nay, không chỉ ở nước ta, trong
khu vực mà còn trên toàn thế giới đang tập trung phát triển kinh tế theo xu
hướng “công nghiệp hóa - hiện đại hóa” mà vô tình làm mai một dần các giá trị

quát về đình làng Phú Khê cũng như xuất xứ hai vị Thành Hoàng và việc ra đời
của đình làng Phú Khê cũng như lễ hội “Kỳ Phúc”.
- Bản dịch nghĩa từ chữ Hán của tác giả Nguyễn Văn Hải về “Thần tích
làng Phú Khê” đã dịch khá chi tiết về hai vị Thành Hoàng được nhân dân thờ
cúng và các sắc phong của hai Thành Hoàng.
- Văn bản trả lời các câu hỏi về “Phong tục tế lễ thần thánh” ở trong làng
do Viện Hán Nôm thực hiện và do tác giả Phạm Văn Thắm dịch đã nói khá chi
tiết về các nghi thức tế lễ thần thánh trong những ngày hội làng.
- Cuốn sách “Phú Khê trong hồn đất Việt” do tác giả Trần Duy Phương
viết cũng đã giới thiệu một cách khái quát nhất về làng Phú Khê, lịch sử ra đời
và phát triển của làng cùng với đó là đình làng và lễ hội của làng.
- Gần đây nhất là bộ phim tư liệu dài 6 tập do trường ĐH Mỹ Thuật Việt
Nam và Viện Mỹ Thuật hợp tác thực hiện đã dựng lại rất chi tiết về quang cảnh
đình làng Phú Khê và quy trình tổ chức lễ hội.

3
Tuy nhiên những bài viết, những công trình nghiên cứu trên chỉ dừng lại ở
một góc độ, một khía cạnh nhất định qua cái nhìn của từng tác giả, do đó nó
không mang tính tổng thể của ngôi đình Phú Khê cũng như lễ hội “Kỳ Phúc”.Vì
thế tôi chọn đề tài này để nghiên cứu nhằm chỉ ra: Lịch sử hình thành, nội dung,
ý nghĩa của “lễ hội Kỳ Phúc ở làng Phú Khê - xã Hoằng Phú - huyện Hoằng
Hóa - tỉnh Thanh Hóa”.
3. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
3.1. Mục đích
Đề tài được tiến hành với mục đích tập hợp có hệ thống nguồn tư liệu về “lễ
hội Kỳ Phúc” đồng thời khái quát lại: nguồn gốc, nội dung và ý nghĩa của lễ hội này.
3.2. Đối tượng
Như tên gọi của đề tài, tôi chỉ tập trung vào việc tìm hiểu, nghiên cứu về
“lễ hội Kỳ Phúc ở làng Phú Khê - xã Hoằng Phú - huyện Hoằng Hóa - tỉnh
Thanh Hóa”

5
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LÀNG PHÚ KHÊ - XÃ HOẰNG PHÚ
- HUYỆN HOẰNG HÓA - TỈNH THANH HÓA

1.1. Vị trí địa lý - tài nguyên thiên nhiên
1.1.1. Vị trí địa lý
Cũng giống như bao miền quê hương Bắc Trung Bộ khác, tỉnh Thanh Hóa
mang đầy đủ đặc trưng của khu vực miền Trung, địa hình được đan xen cả đồng
bằng và miền núi trong đó huyện Hoằng Hóa là một trong những huyện có địa
hình khá đa dạng của tỉnh.
Hoằng hóa là một huyện đồng bằng ven biển tỉnh Thanh Hóa thuộc
19,46° đến 19,54° vĩ bắc và 105,45° đến 105,58° kinh đông.
Trong quá trình tồn tại theo chiều dài của lịch sử địa danh huyện cũng
theo đó mà thay đổi qua nhiều thời kỳ, thời Đinh - Lê huyện Hoằng Hóa được
gọi là giáp cổ Hoằng, thời Lý - Trần gọi là Cổ Đằng, thời nhà Hồ đổi là huyện
Cổ Linh, thời thuộc Minh lại gọi là huyện cổ Đằng, đến thời Lê Thánh Tông,
niên hiệu Hồng Đức thứ nhất (1470) đổi là huyện Hoằng Hóa.
Dưới triều Minh Mệnh năm thứ 19 (1838), một số làng, tổng ở phía bắc
được cắt ra cùng với tổng Đại Ly ở huyện Hậu Lộc lập nên huyện Mỹ Hóa do
huyện Hoằng Hóa kiêm nhiệm.
Đầu thế kỉ XX, huyện Mỹ Hóa giải thể, các làng tổng trên lại nhập về
Hoằng Hóa.
Từ đó đến nay, Hoằng Hóa có địa giới ổn định với diện tích tự nhiên gồm
226,94 km
2
.
Phía Bắc huyện giáp Hậu Lộc, phía Tây giáp huyện Đông Sơn và thành
phố Thanh Hóa, phía tây bắc giáp huyện Vĩnh Lộc, huyện Hà Trung, phía nam
và Tây Nam giáp huyện Quảng Xương thị xã Sầm Sơn, phía đông là biển.
1.1.2. Tài nguyên thiên nhiên

Trung, Hậu Lộc, đỉnh cao nhất gần 300m. Sử cũ ghi rằng: “Ái Châu có nhiều
ngọn núi gần biển, duy chỉ có núi Nghĩa Trang là cao hơn cả. Thuyền đi biển
trông vào đấy để làm tiêu chí” [7,1]. Dãy Kim Chuế thường gọi là núi Hà Rò
hay núi Trường nằm ở phía đông bắc huyện, làm ranh giới với Hậu Lộc, chạy từ
xã Hoằng Yến đến xã Hoằng Trường, đỉnh cao nhất là 205m, có mỏm đá ăn lan
ra biển như mũi giày (tức mũi Hài). Đây là đồn biên phòng quan trọng của tỉnh
cũng là nơi có cảnh chí thiên nhiên đẹp, gắn liền với chiến tích của con người.
Từ xưa vua Lê Thánh Tông đã có lần đến du ngoạn.
Rải rác trong lòng huyện còn vài ngọn núi nhỏ không cao quá 200m như
núi Tiên tức Trinh Sơn ở Hoằng Giang), núi Bưng (tức Băng Sơn ở Hoằng Sơn)
và núi Đẻn ở Hoằng Trinh… riêng núi Ngọc ở đầu cầu Hàm Rồng (thuộc xã
Hoằng Long) tức núi Hỏa Châu, một ngọn núi nhỏ tròn như xếp đá, cao khoảng
100m, trông xa tựa như hòn ngọc nhả ra từ miệng rồng thuộc núi Long Hạm uốn
khúc bên kia sông Mã. Trên núi Ngọc có đền thờ “thần đồng”, dưới chân núi

7
mọc tách ra một tảng đá giống hệt hình trẻ con đứng thẳng, có tên là “đá Thần
Đồng”, người xưa thường gọi là núi Nít. Đây là vùng “sơn thủy hữu tình”. Thuở
trước một số nhà thơ như Phạm Sư Mạnh, Lê Quát, Nguyễn Trãi đã từng đến
thưởng ngoại. Từ khi có cầu Hàm Rồng thì nơi này là một thắng cảnh và đã trở
thành nguồn cảm hứng của nhiều thi sĩ.
Đất đai canh tác của Hoằng Hóa chia làm ba vùng rõ rệt: phía bắc huyện
thuộc tả ngạn sông Tuần và sông Mã gồm 17 xã vùng đất thịt, thích hợp thâm
canh cây lúa nước cả hai vụ chính.
Phía nam huyện thuộc hữu ngạn sông Tuần và tả ngạn sông Mã, gồm 22
xã phần lớn là đất cát pha, thích hợp thâm canh lúa và hoa màu.
Vùng phía đông sông Cung gồm 8 xã vùng biển hầu hết là đất cát vừa sản
xuất nông nghiệp, vừa có nghề đánh cá lâu đời.
Quan trọng hơn cả là Hoằng Hóa giáp thành phố Thanh Hóa nơi trung tâm
chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học của tỉnh. Đây là một thuận lợi lớn.

thông suốt.
Nhiều cầu cống bằng đá phiến được vận chuyển về xây lát ở những đường
đi lối lại trên nhiều cánh đồng vừa thông thủy, vừa thuận tiện giao lưu.
Mặc dù trước kia dưới chế độ cũ, có những khi giai cấp thống trị tha hóa,
không quan tâm đến đời sống, tính mạng nhân dân nhất là việc phòng chống
thiên tai, nhưng nhiều nơi trong huyện quần chúng đã đoàn kết tự chủ lo liệu
phòng đê, lập, sửa chữa đê điều để kịp thời hạn chế lũ lụt.
Ngoài nghề nông là chủ yếu Hoằng Hóa còn là mảnh đất có nhiều nghề
truyền thống nổi tiếng, nhiều nghề truyền thống đến nay vẫn được người dân
trong huyện phát triển đi lên theo vòng quay của cuộc sống. Song bên cạnh đó,
cũng có nghề đã mai một, hoặc không còn tồn tại cho đến ngày nay.
* Nghề thợ mộc ở Ðạt Tài, Hạ Vũ, Hà Thái
Ba làng Ðạt Tài, Hạ Vũ, Hà Thái thuộc xã Hà Dương, tổng Bút Sơn (cũ).
Theo lời kể của các cụ ở Hoằng Ðạt, Hoằng Hà, nghề mộc ở 3 làng này nổi tiếng
cách đây đã ba, bốn trăm năm. Người truyền nghề cho dân vùng này quê gốc ở
Ý Yên, trấn Nam Sơn (cũ), nay là Hà Nam. Ông vốn là thợ cả của một đoàn thợ
mộc, vào đây làm nhà, lấy vợ người Ðạt Tài, truyền nghề cho dân Ðạt Tài, sau
đó lan sang Hạ Vũ, Hà Thái,
Thợ mộc ở ba làng này không chỉ làm nhà - đình - chùa - nghè - nhà
thánh, cung điện mà còn kiêm cả nghề thợ khảm, chạm cửa võng hoàng phi,
chạm long - ly - quy - phụng, chạm ngư tiều canh mục, chạm bát bửu và làm
kiệu, hương án, khám thờ, tạc tượng phật, tượng thần.
Giờ đây, sắt thép và xi măng đang dần thay thế đồ gỗ trong các công trình
kiến trúc. Vì thế, những người thợ mộc ở Ðạt Tài, Hạ Vũ, Hà Thái tài năng đang
phải đa dạng hoá sản phẩm, để phù hợp với điều kiện xã hội và tâm lý con người
trong thời đại mới nhằm bảo tồn và phát huy nghề truyền thống của cha ông.

9
* Nghề dệt vải tơ lụa ở Nghĩa Hưng
Nghề dệt vải đã có từ rất lâu đời ở nhiều làng của huyện Hoằng Hoá. Vải

Lưỡi cày Ðồng Lạc bán khắp huyện Hoằng Hoá, sang cả huyện Quảng
Xương, Ðông Sơn, qua Hậu Lộc, Hà Trung. Lưỡi cày và diệp cày được đúc

10
bằng gang, nên người đi bán lưỡi cày, diệp cày cũng chính là người đi đổi lưỡi
cày và diệp cày cũ đã cùn hoặc bị gãy mang về làm nguyên liệu.
Dụng cụ đúc lưỡi cày gồm một cái bễ, làm bằng cây gỗ lim chẻ đôi, lọng
ruột, ốp lại rồi gắn bằng hồ đặc biệt gồm vôi, lá bới lời, bồ hóng giã kỹ trộn với
mật. Ðường kính của bễ khoảng 30 - 40cm, thân dài khoảng 4m. Gương bễ hay
lòng bễ (piston) được kết bằng lông cổ gà trống. Lúc kéo gương bễ phải dùng
đến sức người để điều khiển lòng bễ. Quan trọng nhất là người cầm cái guốc của
cán lòng bễ phải khoẻ và có kỹ thuật cao. Lòng bễ có một cái rãnh, lỗ hơi ra để
phụt vào nồi gang nằm giữa ống bễ. Lúc đúc lưỡi cày, bễ phải để nghiêng. Nồi
đúc bằng gang, mặt nồi có trát một lớp đất mỏng. Gang chảy theo một cái khe,
từ đó đổ vào khuôn. Khuôn làm bằng đất, cốt bằng gang. Gang đổ vào khuôn để
nguội, dỡ khuôn ra, lấy lưỡi cày và diệp cày. Tất nhiên phải dùng dao, cái
giũa, kỳ cọ không nhiều để lưỡi cày và diệp cày được tinh tươm. Ngoài ra,
muốn xem kỹ thuật cao hay thấp, lưỡi và diệp cày đẹp hay không còn phụ thuộc
vào dòng chảy của gang, kỹ thuật đổ khuôn, và tay nghề của người thợ khi làm
khuôn nữa.
Có thể nói, nghề đúc lưỡi cày ở Ðồng Lạc khá vất vả. Song điều khiến nông
dân huyện Hoằng Hoá luôn tự hào chính là ở danh tiếng của lưỡi cày Ðồng Lạc.
* Nghề làm nước mắm ở Khúc Phụ (Hoằng Phụ)
Không phải làng nào có nghề đánh cá biển cũng làm được nước mắm.
Trong số 5 xã biển huyện Hoằng Hoá chỉ có làng Khúc Phụ (giờ đây có thêm
Hoằng Trường cũng ướp chượp và nấu nước mắm) làm nước mắm. Ðể làm nước
mắm ngon, công đoạn đầu tiên là phải chọn cá. Cá nục hoặc cá thu ù, nhưng
thường là cá nục (vì cá nục có nhiều đạm) là nguyên liệu được người dân Khúc
Phụ "ưu tiên" lựa chọn.
Nước mắm Khúc Phụ loại nỏ đầu, loại đặc biệt, để lâu là một "tài sản

Nghề nhuộm ở Trinh Hà nay không còn, nhưng nhân dân cả vùng Hoằng
Hoá và Hậu Lộc vẫn còn nhắc đến những người thợ nhuộm ở Trinh Hà đã đem
lại cho họ những tấm quần, tấm áo bền màu để dãi dầu cùng sương gió trong
những ngày lao động vất vả.
* Nghề đục đá ở Xa Vệ (Hoằng Trung)
Ông tổ họ Lê Văn tên là Du đã khai sinh ra nghề này cách đây khoảng 300
năm. Xa Vệ ở dưới chân núi Trán Voi trong dãy núi Sơn Trang. Tương truyền
rằng: tại núi Tráng Voi có loại đá, người dân ở đây thường lấy về làm đá tảng kê
cột nhà, làm đá ghép mép hè, đá bao quanh sân, xây cống Cụ Lê Văn Du thấy
những hòn đá ấy trước mềm sau cứng, nhặt về mấy hòn đẽo làm đá mài, trước
làm để dùng, sau đem đi bán. Do học hỏi được kinh nghiệm ở nhiều nơi, cụ nảy
ra sáng kiến, lên núi vác nhiều hòn đá về, hý hoáy ngồi đục: mấy cái chậu (như
chậu sành) đựng nước, đục đá gác cửa, đá tai cửa, đá ghép mép hè, đá ghép
quanh sân cho phẳng và đẹp. Công việc ngày càng hấp dẫn, cụ đục đá máng,
đá cột nhà, đá cột nanh, đá tảng sau đó là cối xay bột, cối xay ngô.

12
Lúc này, nhiều người ở Xa Vệ đã thấy được tác dụng của loại đá ở núi
Trán Voi. Nhờ đó, nghề đục đá bắt đầu phát triển. Thợ đục đá ở Xa Vệ đã đục
được cả cột hè, trếnh, rui mái hắt, Nhưng có lẽ gay go nhất vẫn là việc tiêu thụ
các sản phẩm này. Vì hàng đá nặng, cồng kềnh nên những ngày phiên chợ Già,
họ phải đặt lên xe cút kít nào là đá mài, cối xay bột, cối xay ngô, đẩy ra chợ
bán. Còn máng, cột, đá tảng, đá ghép hè, ghép sân, trếnh, phải có người đặt
theo kích thước nhất định, họ mới làm. Nghĩa là, những loại hàng hoá ấy, những
người thợ đục đá ở Xa Vệ đều làm theo các đơn đặt hàng của khách.
* Nghề đan ở Ðoan Vĩ (Thái Hoà ).
Nghề đan lát ở Ðoan Vĩ và Thái Hoà (thuộc xã Hoằng Thịnh và Hoằng
Thái bây giờ) có từ khi nào không ai nhớ, chỉ biết là đã từ rất lâu, cách đây hàng
trăm năm, ở hai làng này, không chỉ đàn bà đan giỏi mà đàn ông làm nghề này
cũng tài. Có một bài thơ trong đó có câu đã miêu tả về người thợ đan ở đây:

nghề đánh cá và khai thác thủy sản đã hình thành và phát triển từ rất sớm.
Những nghề chế biến thủy sản được coi là những nghề chính, các cơ sở chế biến
hải sản tập trung nhiều ở Hoằng Phụ, Hoằng Trường, Hoằng Thanh, phát triển
với số lượng lớn, không những tạo ra mạng lưới dịch vụ lưu thông cho ba xã mà
còn mở rộng ra tám xã vùng biển, gắn với việc khai thác, nuôi trồng với chế
biến, lưu thông, thúc đẩy hàng hải - thủy sản trong huyện phát triển.
1.3. Văn hóa - xã hội
Bên cạnh truyền thống lao động cần cù và yêu nước nồng nàn là điểm nổi
bật ấy, truyền thống văn hóa, xã hội còn là điểm sáng chói, đáng tự hào của lớp
lớp nhân dân Hoằng Hóa.
Với bề dày của một huyện có thể gọi là đầy đủ các “duyên cách lịch sử”,
nhân dân hoằng Hóa, đi đôi với việc xây dựng bảo về quê hương, đã sớm ý thức
được bản sắc dân tộc. Càng về sau, ý thức đó càng bền vững bởi giao thông
thêm mở rộng bằng đường bộ, đường sắt, đường sông, đường biển. Khả năng
giao lưu tiếp xúc, đổi mới ngày càng nhiều. Trong quá trình lao động sáng tạo và
đấu tranh dũng cảm, năng lực tổ chức của đời sống nhân dân cũng ngày một
phát triển. Trên cơ sở ấy, sắc thái văn hóa trong huyện sớm được hình thành và
phát triển hòa đồng với văn hóa dân tộc.
Ở mỗi làng xã đều có những thuần phong mỹ tục với những nét sinh hoạt
văn hóa đáng quý như hát ghẹo, hát chèo, hát hội, bơi thuyền, đấu vật, đấu cờ…
Nhiều làng xã, nhiều dòng họ còn có những công trình kiến trúc đẹp đẽ,
khang trang với những họa tiết tinh vi, sắc sảo từ thời Lý đến thời Lê trong các
đình chùa, đền ,miếu, nghè, phủ uy nghi tráng lệ, nhằm thờ cúng các bậc tiền bối
anh linh. Có những công trình khá vĩ đại như nghè thượng( Phú Khê). Cột nghè
có chu vi hai người ôm không khít. Những long ngai, tán lọng đều có kích thước
vừa cao, vừa rộng mà nhân dân trong tỉnh thường truyền tụng “cờ Nam Ngạn,
tán Phú Khê”. Trông nghè được gọi là trông rồng, mỗi khi vang lên thì nửa
huyện cũng nghe tiếng.

14

nuôi thầy dạy học, trước kia là thầy đồ dạy chữ nho, sau là thầy giáo dạy chữ
quốc ngữ.
Bởi thế hầu hết khắp làng tổng dưới thời phong kiến đều có rất nhiều
người đạt trình độ học vấn cao. Hàng trăm người thi đỗ tú tài, cử nhân, hàng

15
chục người đỗ tiến sĩ trở lên trong đó có người là hội nguyên, đình nguyên và cả
trạng nguyên. Tự hào hơn nữa là phần đông các nhà khoa bảng trong huyện đều
là những người đã đem nhiệt huyết của mình để giúp dân, giúp nước, giúp đời
với tấm lòng thanh cao, chân thực. Nhiều người đã để lại những tác phẩm giá trị,
những tấm gương chân, thiện, mỹ gắn liền với truyền thống đạo lý dân tộc trong
sáng. Có người được sử sách ghi nhận là doanh nhân quốc gia, được đông đảo
các tầng lớp nhân dân truyền tụng.

Tiểu kết

Với những nét dẫn chứng cụ thể trên chúng ta có thể phần nào hình dung
được sự phồn thịnh và khá phát triển của nhân dân trong huyện Hoằng Hóa ở tất
cả các lĩnh vực về kinh tế, văn hóa và xã hội tất cả những kết quả đạt được đó
phải kể đến một phần đóng góp không nhỏ của sự ưu đãi về điều kiện tự nhiên
và vị trí địa lý mà thiên nhiên đã ban tặng cho huyện. Đó là những tài nguyên
khoáng sản quý giá sinh ra nguồn lợi lâu dài cho người dân huyện, là những địa
hình địa vật phong phú và đa dạng mang lại những thuận lợi to lớn cho người
dân. Dù vậy đó chỉ là những yếu tố khách quan còn yếu tố chủ quan mới là yếu
tố mang tính quyết định, đó là yếu tố con người, chính con người nơi đây với
những bản chất cần cù lao động sáng tạo đã tạo nên nét tươi sáng trù phú cho
huyện Hoằng Hóa, đưa huyện trở thành một trong những huyện phát triển nhất
tỉnh Thanh Hóa.

16

Theo dòng lịch sử dân tộc, quê hương Phú Khê trước kia đã từng rất sớm
xây dựng lên nền truyền thống yêu nước, thương nòi, kiên cương, bất khuất đấu
tranh chống giặc ngoại xâm, vượt qua nghìn năm bắc thuộc đau thương nhưng
vô cùng anh dũng đã góp phần cùng dân tộc làm bừng sáng lên nền văn minh
Đại Việt.

17
Là vùng đất cuối sông đầu núi của miền Trung, Phú Khê lại nằm sát vùng
văn hóa Qùy Chữ, Đông Sơn, miền đất ấy ẩn chứa một sức mạnh tiềm tàng cả về
tinh thần lẫn vật chất, đã tạo nên nhân cách con người Phú Khê.
Ai vào Nam ra Bắc hôm nay, sẽ bắt gặp một làng quê xanh mướt một
màu xanh bên cạnh con đường thiên lý ( cách Hà Nội 140km) và những cánh
đồng thẳng cánh cò bay đã đi vào ca dao, cổ tích. Điểm ngưng con nước, bến đỗ
con đò, đường ngang lối rẽ, bóng đa tỏa mát chợ làng với những mái đình, mái
chùa đan xen huyền thoại. Một không gian văn hóa được mở ra giữa trời đất
giao thoa cùng sông núi, nâng bổng hồn quê.
2.2 Tổng quan về đình làng Phú Khê
Đến với Phú Khê, ta không chỉ cảm nhận sự gần gũi, ấm áp đậm chất
hoang sơ của vùng quê yên ả, với những con sông, khao bơi tát nước, những
chiếc cối đá, nan tre đã đi vào đời sống niên đại, mà ta còn được chiêm nghiệm
những nét đặc sắc về tôn giáo, tín ngưỡng sớm xuất hiện ở đất này. Nổi bật hơn
cả là ngôi đình thờ hai vị Thành Hoàng làng, một công trình văn hóa tiêu biểu
của xứ Thanh. Trong tâm thức người dân Phú Khê, đây là những vị thần giữ vai
trò quan trọng trong đời sống tâm linh của họ cùng với sự linh thiêng, truyền
tụng bao đời nay.
Theo “Thần phả xã Phú Khê” do Hàn Lâm Viện Đông Các Đại Học Sĩ
Nguyễn Bính biên soạn, đình Phú Khê là nơi thờ hai vị thần đã có công giúp vua Lý
Thái Tông diệt giặc Ai Lao và được nhà vua sắc phong xây đình cho dân thờ phụng.
Đình làng Phú Khê tọa lạc tại phía tây xã Hoằng Phú, trên một khu đất
bằng phẳng, cao ráo, phía bắc, phía tây và phía nam là đồng ruộng trù phú của

hơn và đổi tên gọi là “đình” tức là đình và đền kết hợp với nhau trong một quần thể
kiến trúc, trở thành trung tâm sinh hoạt văn hóa của nhân dân trong làng. Trong tập
“bản xã mục lục” của Phú Khê, do bác học Lê Qúy Đôn biên soạn ngày 13 tháng 7,
niên hiệu Cảnh Hưng thứ 31 (1771) thời vua Lê Hiển Tông (1740 - 1786) đã viết
“Đình ta nay, nức tiếng cõi Thanh, danh lừng đất Phú ”. Điều đó đủ thấy rằng đình
Phú Khê xưa đã có một thời huy hoàng lộng lẫy.
Bước sang đầu thế kỷ XVIII ngôi đình được trùng tu lại vào ngày 2 tháng
9 thời vua Tự Đức năm thứ tư (1851) sự kiện này tới nay vẫn còn được ghi lại ở
Thượng Lương nhà Tiền Đình, lúc này về cơ bản ngôi đình đã được quy hoạch
khá quy mô và to lớn nhưng kiến trúc cũ của nó thì vẫn được giữ nguyên.
Trải qua bao thăng trầm của lịch sử cùng với sự khắc nghiệt của thời gian,
dáng vẻ xưa của ngôi đình nay đã không còn nguyên vẹn. Nhưng với lòng
ngưỡng vọng hai vị thần vẫn còn nguyên giá trị trong đời sống tâm linh của
người dân không hề mai một nên đình Phú Khê đã được chính quyền địa
phương quan tâm, bảo vệ. Nhân dân trong vùng và du khách thập phương rất
ngưỡng mộ đã tự nguyện đóng góp tiền của tu sửa, tôn tạo lại di tích này. Giờ
đây, đình Phú Khê đã trở thành một trong những di tích đã được bảo vệ, tôn tạo
và phát huy tác dụng một cách có hiệu quả nhất ở Thanh Hóa.

19
Hiện nay, đình Phú Khê đã được đăng kí vào danh mục di tích của tỉnh,
qua hai đợt kiểm kê phổ thông năm 1976 và năm 1985. Đến ngày 9 tháng 3 năm
1990, tỉnh đã ra quyết định bảo vệ số 19VH - CĐ. Từ đó đến nay, di tích đã hoạt
động nề nếp, đáp ứng nguyện vọng thiết tha của nhân dân địa phương. Đình Phú
Khê ngày nay đã trở thành trung tâm văn hóa của xã Hoằng Phú và cũng là một
trọng điểm của cụm di tích thắng cảnh phía tây huyện Hoằng Hóa, phục vụ công
tác tham quan, du lịch và cũng là để giáo dục, phát huy truyền thống lịch sử -
văn hóa của địa phương với thế hệ hiện tại và tương lai.
Căn cứ vào nội dung, ý nghĩa lịch sử - văn hóa và giá trị nghệ thuật của di
tích đình Phú Khê. Chính quyền ba cấp, xã - huyện - tỉnh và cơ quan văn hóa

còn có hai dãy nhà (mỗi dãy dài 5 gian) gọi là “xã văn - xã võ”, hay “tả vụ - hữu
vụ”. Liền sát với gian giữa Tiền đình còn có nhà Bồi bái - 4 mái, hình vuông.
Chiều dài mỗi cạnh bằng chiều rộng của gian giữa nhà Tiền đình. Phía bắc đình
là hồ sen, bên cạnh hồ sen là cây đa, giếng nước của đình.
Về nghệ thuật kiến trúc: Có thể nói rằng đình Phú Khê là một công trình
kiến trúc nghệ thuật rất độc đáo và tiêu biểu, được nhà bác học Lê Quý Đôn đánh
giá là “Đình ta nức tiếng cõi Thanh, danh lừng đất Phú” qua mặt những ngôi đình
khác ở thế kỷ XVIII. Trước hết, các cây cột đình có chu vi rất lớn (trung bình mỗi
cây 1,70m) một người ôm không xuể, đá tảng dùng kê cột đình có kích thước
(0,70m x 0,70m) bao gồm 6 hàng cột, mỗi hàng 6 cột, trong đó bao gồm cột cái, cột
quân và cột hiên. Tất cả có 6 vì kèo liên kết với nhau bằng các đường xà thượng, xà
hạ. Kết cấu vì kèo theo lối giá chiêng, kẻ chuyền, nóc đình trang trí theo kiểu
“Lưỡng long chầu nhật” hai bên đỉnh bồi đặt hai con “Đấu” đối diện với nhau. Đặc
biệt, các bộ phận cấu thành vì kèo đều được trạm trổ tinh xảo, đề tài trong trang trí
là “long - lân - quy - phượng”. Phong cách thể hiện khoáng đạt, bố cục chặt chẽ,
nội dung đề tài trang trí giữa các vì kèo không lập theo một khuôn mẫu nhất định
nhưng lại bổ xung cho nhau theo kiểu “cài răng lược” chẳng hạn:
Vì kèo I: Kẻ bẩy khắc rồng, kẻ ngồi khắc hoa lá.
Vì kèo II: Kẻ bẩy khắc phượng, kẻ ngồi khắc rồng.
Vì kèo III: Kẻ bẩy khắc hoa lá, kẻ ngồi khắc phượng.
Với nghệ thuật bố cục trang trí như trên đã tăng thêm sự lộng lẫy của kiến
trúc, nhìn vào những mảng chạm khắc ở các vì kèo, ta có cảm nhận như đang
đứng trước một khung cảnh thiên nhiên hùng tráng, rực rỡ và rất sống động,
song cũng rất uy nghiêm ở chốn đình làng. Điều này khẳng định tài năng sáng
tạo nghệ thuật của người thợ Phú Khê. Đến nay dân gian vẫn lưu truyền nhau
câu truyện về 6 hiệp thợ mộc xây dựng ngôi đình. Truyện kể lại rằng: Ngôi đình
hiện nay là kết quả của một cuộc thi thố tài năng, tay nghề của những hiệp thợ
trong làng, khi những tiêu chuẩn mực thước kiến trúc được đặt ra với yêu cầu
trong 15 ngày phải hoàn thành toàn bộ khung cốt của ngôi đình, kể cả những
việc đi tìm kiểu, chọn gỗ. Bấy giờ có 6 hiệp thợ trong làng đứng ra đảm nhận


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status