BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU VỀ CUỘC KHỞI NGHĨA MAI THÚC LOAN VÀ LỄ HỘI ĐỀN THỜ VUA MAI Ở HUYỆN NAM ĐÀN - TỈNH NGHỆ AN - KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC - Pdf 14


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
PHAN THỊ LÝ
BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU VỀ CUỘC KHỞI NGHĨA
MAI THÚC LOAN VÀ LỄ HỘI ĐỀN THỜ VUA MAI
Ở HUYỆN NAM ĐÀN - TỈNH NGHỆ AN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

SƠN LA, NĂM 2013

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

những thiếu sót nên mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô và các
bạn sinh viên.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 5 năm 2013
Sinh viên thực hiện
Phan Thị Lý
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3. Đối tượng, phạm vi, mục đích nghiên cứu và đóng góp của đề tài 3
3.1. Đối tượng 3
3.2. Phạm vi nghiên cứu 3
3.3. Mục đích nghiên cứu 3
3.4. Đóng góp của đề tài 3
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 3
4.1. Nguồn tư liệu 3
4.2. Phương pháp nghiên cứu 4
5. Bố cục của đề tài 4
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ QUÊ HƯƠNG CỦA VỊ THỦ LĨNH
MAI THÚC LOAN 5
1.1. Vị trí địa lý - tài nguyên thiên nhiên 5
1.1.1. Vị trí địa lý 5
1.1.2. Tài nguyên thiên nhiên 6
1.2. Kinh tế 7
1.3. Dân cư, văn hóa, xã hội 8
1.3.1. Dân cư 8
1.3.2. Văn hóa, xã hội 8
1.4. Truyền thống lịch sử 10

của các vị anh hùng dân tộc thời đó nói chung luôn là một mảng đề tài để cho
các học giả nghiên cứu. Cuộc khởi nghĩa chống ách đô hộ tàn bạo của nhà
Đường do Mai Thúc Loan phát động tuy đã nhanh chóng bị thất bại nhưng với ý
chí quật cường và tấm gương dám xả thân cứu nước của tất cả các nghĩa sĩ tập
hợp dưới ngọn cờ của Mai Thúc Loan thì mãi mãi sáng ngời trong lịch sử dân
tộc Việt Nam.
Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Nam Đàn, nơi có truyền thống cách mạng
và truyền thống hiếu học nên bản thân tôi luôn có khát vọng được tìm hiểu quá
trình đấu tranh hào hùng của dân tộc ta. Chính vì vậy, khi đi sâu vào tìm hiểu
cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan, tôi thấy cũng như biết bao vị anh hùng dân
tộc khác trong mọi thời đại, Mai Thúc Loan đã làm rạng danh truyền thống bất
khuất của dân tộc Việt Nam và qua đó cũng thấy được sự quan tâm, mến mộ của
Đảng, chính quyền cũng như toàn thể quần chúng nhân dân ta, thể hiện lòng biết
ơn đối với vị anh hùng dân tộc họ Mai. Điều đó được cụ thể hóa thông qua lễ
hội đền thờ vua Mai.
Lễ hội đền vua Mai - nét văn hóa tâm linh của người Nam Đàn không chỉ là
lễ hội văn hóa lớn mà còn là một nơi thăm quan thắng cảnh có giá trị nhằm giới
thiệu với khách thăm quan về ý chí vươn lên, bản lĩnh vững vàng cùng tinh thần
hiếu học, khổ học của nhân dân xứ Nghệ và truyền thống đấu tranh bất khuất

2
của dân tộc ta, giáo dục cho thế hệ trẻ hôm nay và mai sau lòng yêu nước, ý chí
tự lực, tự cường dân tộc.
Việc nghiên cứu đề tài này là cần thiết đối với mỗi sinh viên lịch sử vì chỉ
có nghiên cứu mới hiểu được sâu vấn đề, giúp ích cho việc học tập bộ môn tốt
hơn, qua đó giúp tôi tích lũy được những kiến thức cần thiết cho công việc giảng
dạy các cuộc khởi nghĩa trong quá trình dựng nước và giữ nước. Ngoài ra, việc
nghiên cứu đề tài này cũng là nguồn tư liệu quý giá để cho các bạn sinh viên
khóa mới tìm hiểu và tiếp thu khi học giai đoạn này. Đồng thời đây là nguồn dữ
liệu sử dụng trong công tác nghiên cứu lịch sử địa phương và văn hoá của tỉnh

3.1. Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan và
lễ hội đền thờ vua Mai.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Nhằm giới thiệu những nét cơ bản nhất về cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan
và lễ hội đền thờ vua Mai ở huyện Nam Đàn - tỉnh Nghệ An.
3.3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu về cuộc khởi nghĩa Mai Thúc
Loan và lễ hội đền thờ vua Mai nhằm giới thiệu với bạn bè, khách thăm quan hiểu
hơn về Mai Thúc Loan và lễ hội tưởng nhớ ông ở huyện Nam Đàn - tỉnh Nghệ An.
3.4. Đóng góp của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần:
- Khơi dậy niềm tự hào về truyền thống đấu tranh bất khuất của dân tộc ta
nói chung và bản sắc văn hóa tỉnh nhà nói riêng, giúp những ai quan tâm, tìm
hiểu về lễ hội văn hóa của vùng này.
- Giới thiệu và quảng bá về một di tích lịch sử văn hóa, đền chùa, miếu
mạo của đất nước Việt Nam nói chung và Nghệ An nói riêng, qua đó thúc đẩy
phát triển kinh tế du lịch huyện Nam Đàn - tỉnh Nghệ An.
- Là nguồn dữ liệu sử dụng trong công tác nghiên cứu lịch sử địa phương
và văn hóa của tỉnh Nghệ An.
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tư liệu
Nguồn tư liệu của đề tài là những tác phẩm đã được công bố:
- Lịch sử đảng bộ huyện Nam Đàn
- Những bài viết về lịch sử Nghệ An
- Những tác phẩm, bài viết về cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan
- Tạp chí nghiên cứu lịch sử
- Giáo trình đại cương, giáo trình tham khảo

4

Rạng (giáp Đô Lương) đến xã Tràng Cát (giáp Hưng Nguyên). Năm 1886, vì
tránh tên húy của vua Đồng Khánh, huyện Nam Đường được đổi tên là huyện
Nam Đàn.
Năm 1911, thời vua Duy Tân, địa giới của hai huyện Nam Đàn và Thanh
Chương được sắp xếp lại. Huyện Nam Đàn lúc này có 4 tổng: hai tổng ở tả ngạn
là Xuân Liễu và Lâm Thịnh, hai tổng ở hữu ngạn là Xuân Khoa và Nam Kim.
Lãnh thổ này của huyện Nam Đàn được ổn định cho tới ngày nay.
Huyện Nam Đàn nằm ở gần hạ lưu sông Lam và là trung tâm của tỉnh Nghệ
An, trên tọa độ từ 18 độ 34 phút đến 18 độ 47 phút vĩ Bắc, từ 105 độ 24 phút
đến 105 độ 37 phút độ kinh Đông, cách thành phố Vinh 21 ki-lô-mét kể từ
huyện lỵ Sa Nam về phía Đông.
Địa giới huyện Nam Đàn, phía Bắc giáp huyện Đô Lương, Nghi Lộc, phía
Nam giáp huyện Đức Thọ và Hương Sơn, phía Đông giáp huyện Hưng Nguyên,
phía Tây giáp huyện Thanh Chương. Hai dãy núi lớn có tiếng trong tỉnh là Đại
Huệ và Thiên Nhẫn nằm trên đất Nam Đàn. Dãy Đại Huệ chạy dọc địa giới phía
Bắc từ Đông sang Tây. Dãy Thiên Nhẫn chạy dọc địa giới phía Tây từ Bắc đến
Nam. Các dãy núi Đụn, núi Đại… nằm san sát đầu phía Tây Bắc cùng với hàng
trăm núi con xếp trùng điệp dưới chân Đại Huệ và Thiên Nhẫn như những đàn
voi, ngựa ruổi rong quanh bức trường thành che chắn, bảo vệ cho vùng đất thân
yêu của Tổ quốc. 6
1.1.2. Tài nguyên thiên nhiên
Sông núi đã tạo ra ở Nam Đàn một địa hình hết sức phức tạp và đa dạng:
vừa đồng bằng vừa bán sơn địa, núi liền đồng, đồng liền sông và có độ dốc lớn.
Tổng số 29688 ha diện tích tự nhiên trong đó 14234 ha đất nông nghiệp, 8395
ha đất lâm nghiệp, còn lại là sông, bàu, núi đồi.
Nam Đàn có sông Lam là con sông lớn chảy qua huyện, bắt nguồn từ nước
Lào chảy qua các huyện phía Tây, đến cuối huyện Thanh Chương nhận thêm

rừng, tu bổ rừng một cách nghiêm ngặt từ đầu, phát triển vốn rừng, khai thác
rừng hợp lý thì đó là một nguồn tài sản làm giàu cho Nam Đàn mãi đến mai sau.
Trên đất Nam Đàn đã phát hiện được mỏ măng-gan ở núi Thiên Nhẫn, mỏ
coóc-xit ở núi Đại Huệ, mỏ đá ong ở hầu khắp chân đồi núi. Cát, sỏi, làm vật
liệu xây dựng thì có thể nói đâu cũng có. Đất sét làm gạch ngói cũng vậy, có ở
Nam Giang, Nam Cát,v.v…
Thiên nhiên đã ban tặng cho huyện sự màu mỡ của đất, tài nguyên khoáng
sản để phát triển kinh tế - văn hóa. Song tài nguyên cũng không ít khó khăn như
khí hậu khắc nghiệt. Chính thử thách đó đã hun đúc nên phẩm chất cần cù, thông
minh, sáng tạo của người Nam Đàn.
1.2. Kinh tế
Điều kiện đó đã cho phép Nam Đàn phát triển nghề nông nghiệp phong phú
sản vật, đa dạng ngành nghề cùng với một số nghề thủ công truyền thống.
Nghiên cứu các tụ điểm dân cư chúng ta dễ dàng nhận thấy cư dân Nam
Đàn đã tích cực khai thác vùng đồng bằng sông Lam để sản xuất nông nghiệp
trong đó nghề nông trồng lúa nước là phổ biến và xuyên suốt hàng ngàn năm
lịch sử. Cùng với việc thâm canh cây lúa, cư dân ở đây đã sớm mở mang các
loại cây trồng khác. Nghề làm nương rẫy phát triển sớm ở nhiều nơi, đã đúc kết
được những kinh nghiệm quý và đạt trình độ kĩ thuật cao, nhất là các xã sát chân
núi Đại Huệ. Nhiều sản phẩm nông nghiệp đã trở thành hàng hóa đặc sản của địa
phương. Hồng, Thị vùng Xuân Liễu đã chiếm lĩnh thị trường trong và ngoài
huyện từ nhiều thập kỷ. Chè xanh Thanh Thủy thơm ngon có tiếng, được nhiều
nơi trong tỉnh ưa chuộng, nhất là thị trường thành phố Vinh.
Các nghề thủ công truyền thống cũng phát triển sớm và mạnh, đó là nghề
trồng bông dệt vải được phát triển đều khắp các làng xã trong huyện, nghề trồng
dâu nuôi tằm, dệt lụa ở làng Tầm Tang (Nam Tân) và lan nhanh ra các làng, xã
hai bên bờ sông Lam, nghề trồng mía ép mật, nấu đường ở Thanh Đàm, Lương
Gia (Nam Tân), nghề ép dầu các thứ hạt như: vừng, lạc, bưởi… ở làng Đan
Nhiệm, Nghi Lễ (thị trấn Sa Nam).
Ở huyện Nam Đàn hầu như không có làng nào không có nghề thủ công

mảnh đất Nam Đàn về mặt văn hóa vật chất cũng như văn hóa tinh thần, làm cho
Nam Đàn trở thành một địa phương giàu đẹp, rạng rỡ truyền thống đấu tranh,
xây dựng, có nhiều người tài giỏi của dải đất Hồng Lam, của Tổ quốc Việt Nam.
1.3.2. Văn hóa, xã hội
Nam Đàn là một trong nhiều địa phương ở Nghệ An nổi tiếng hiếu học.
Vào cuối thế kỷ XIX, ở Nam Đàn có bốn nhà nho được giới nho sĩ tôn là “tứ
hổ” (thông minh bất như Song, uyên bác bất như San, tài hoa bất như Quý,
cường khí bất như Lương) [1,15]. Nghĩa là không ai thông minh bằng Nguyễn
Quý Song, không ai uyên bác bằng Phan Văn San, tức Phan Bội Châu. Không ai
tài hoa bằng Vương Thúc Quý và không ai có trí nhớ bằng Trần Văn Lương.
Việc học hành, thi cử của huyện Nam Đàn từ lâu đã trở thành phong trào
đua tranh trong tầng lớp nho sĩ. Không riêng con nhà quyền quý mà nhiều nho sĩ

9
bần hàn cũng không chịu thua kém trên đường cử nghiệp. Có người dù sớm bị
mồ côi cha mẹ, sống nhờ vào người thân nhưng vẫn tìm mọi cách để học hành
và thi đỗ đại khoa như các ông: Nguyễn Thái ở Đan Nhiệm (Xuân Hoà), Nguyễn
Sinh Sắc ở Làng Sen (Kim Liên)… Gia đình ông cử Trần (Xuân Lâm) tuy “sáng
khoai, trưa khoai, tối khoai, khoai ba bữa”, song vẫn “ông đỗ, con đỗ, cháu đỗ,
đỗ cả nhà” [1,15]. Tấm gương khổ học của gia đình ông được nhân dân địa
phương ca ngợi, nêu gương cho mọi người:
“Làm trai có chí thì nên,
Học Trần đói khổ mà nghiền kinh thi
Áo rách đổi lấy võng điều,
Nón mê đổi lấy chữ đề vua ban”
Tuy vậy, việc học hành, thi cử vẫn không phải là con đường tiến thân và
mục đích duy nhất của nho sĩ huyện Nam Đàn.
Văn học dân gian ở huyện phong phú cả về hình thức lẫn nội dung. Truyện
vè là thể loại văn học dân gian được phát triển rộng rãi. Những sự biến xảy ra
trong làng, trong nước thường được ghi lại bằng vè. Vè tố cáo, vạch mặt bọn

Từ thời Văn Lang - Âu Lạc, cộng đồng cư dân xứ Nghệ nói chung, Nam
Đàn nói riêng đã góp phần không nhỏ trong việc xây dựng nhà nước tự chủ đầu
tiên. Thất bại của An Dương Vương trong công cuộc chống ngoại xâm (179
TCN) đẩy toàn bộ quốc gia dân tộc vào thời kỳ chịu ách thống trị lâu dài của các
thế lực phong kiến phương Bắc. Không chấp nhận cuộc đời nô lệ, cùng nhân dân
cả nước, nhân dân sống ở lưu vực sông Lam nhiều lần vùng dậy đấu tranh nhằm
đòi lại độc lập, tự chủ. Tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa do Mai Thúc Loan tổ chức,
lãnh đạo bùng nổ vào năm 713 chống ách đô hộ nhà Đường. Trước khí thế nổi
dậy và sự tấn công ào ạt của nghĩa quân, bọn quan quân nhà Đường phải tháo
chạy về Trung Quốc. Đất nước được giải phóng, Mai Thúc Loan lên ngôi hoàng
đế, xây dựng nền độc lập tự chủ trên toàn lãnh thổ của nước nhà.
Không bao lâu, nhà Đường đem 10 vạn quân sang đánh chiếm nước ta.
Dưới sự lãnh đạo của vua Mai, nghĩa quân đã chiến đấu anh dũng đẩy lùi nhiều
cuộc phản công của địch cả đường bộ lẫn đường thủy.
Trong lúc đất nước đang đứng trước giờ phút lâm nguy thì nhà vua bị bệnh
hiểm nghèo và qua đời. Con của ông là Mai Thúc Huy đã lãnh đạo nghĩa quân
tiếp tục chiến đấu. Quan quân nhà Đường lồng lộn, hung hãn đã dìm cuộc khởi
nghĩa trong biển máu.
Tiếp bước cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan, trong những chặng đường
tiếp theo của lịch sử, nhân dân Nam Đàn đã tích cực đóng góp người và của cho
những cuộc khởi nghĩa đấu tranh bảo vệ biên giới dân tộc trước những đội quân
xâm lược bên ngoài như cuộc kháng chiến chống quân Minh của Hồ Quý Ly,
khởi nghĩa Lam Sơn hay những chiến thắng hiển hách của người anh hùng áo
vải cờ đào Quang Trung. Mảnh đất Nam Đàn cũng là nơi xuất phát, đứng chân
của nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân trong lịch sử.

11
Phát huy những tinh thần và truyền thống quý báu đó, trải qua hai cuộc
kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ vĩ đại của dân tộc ta, nhân dân Nam Đàn
không quản ngại khó khăn gian khổ, đặt lợi ích của nhân dân lên hàng đầu, bất


12
CHƯƠNG 2. CUỘC KHỞI NGHĨA MAI THÚC LOAN

2.1. Thân thế và sự nghiệp
2.1.1. Thân thế
Những đêm đông giá rét, quây quần bên bếp lửa hoặc những đêm hè, tụ tập
trên chiếc chiếu trải ở sân, các cụ ông, cụ bà vùng quê Sa Nam - đời này qua đời
khác thường kể cho cháu chắt chút chít nghe những mẩu chuyện lý thú về sự
tích người anh hùng Mai Thúc Loan của quê hương. Chuyện kể dưới đây được
ghi trong cuốn sách chữ Hán có thể được viết cách đây độ 700 năm (cuốn Việt
điện u linh của Chư Cát Thị trong thư tịch cổ Việt Nam - mà các sách truyền
thuyết Việt Nam. Truyện hay nước Việt xuất bản vào những năm cuối thế kỷ
XX các tác giả đều trân trọng nhắc lại).
Chuyện kể rằng, vào thời đất nước ta đang đắm chìm trong đêm dài Bắc
thuộc (lúc đó là nhà Đường cuối thế kỷ VII), ở một thôn làm muối có tên gọi Gò
Mơ, ven biển Thiên Lộc (nay là xã Mai Lâm, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh) có
một đôi trai gái yêu nhau tha thiết. Nàng tên là Vương Thị, thuộc gia đình tương
đối khá giả, có học. Chàng là Mai Sinh, xuất thân trong một gia đình khó khăn.
Yêu nhau nhưng không được gia đình hai bên ủng hộ, tuy vậy họ vẫn bất chấp
mọi rào cản để đến với nhau. Tới một ngày khi tình yêu đã kết nụ đơm hoa, để
tránh mọi tục lệ hà khắc, hương ước, gia phong, dư luận… hai người đã rời khỏi
Gò Mơ tìm đến một vùng đất mới để sinh sống.
Nơi vợ chồng đến định cư là thôn Ngọc Trừng thuộc huyện Sa Nam (nay là
thôn Ngọc Trừng, xã Nam Thái, huyện Nam Đàn), một làng thuộc vùng bán sơn địa.
May mắn cho họ, dân vùng quê mới tuy rất nghèo khổ nhưng lại hết sức tốt
bụng, giàu lòng nhân ái. Họ cùng nhau dựng một túp lều nhỏ trên một mảnh
vườn cũ, nơi có sẵn mấy gốc cây Mai già - một loại cây có tên ngẫu nhiên trùng
với họ của Mai Sinh. Một thời gian sau khi Vương Thị sắp sinh thì kẻ mảnh tã,
người bát ngô, củ sắn, họ gom góp lại giúp vợ chồng chuẩn bị cho ngày sinh

mình để cha mẹ kiếm ăn hàng ngày.
Các cụ thường kể là Mai Thúc Loan lúc tuổi thơ vô cùng hiếu động như đa
phần các cậu bé cùng tuổi. Nhưng khác với bạn bè cùng lứa, đặc điểm nổi bật
nhất ở Mai Thúc Loan là tính hiếu học.
Mai Thúc Loan, phần thì tuổi quá nhỏ, phần khác là nhà Mai lại quá nghèo.
Giá có đến tuổi đi học chăng nữa, thì cũng chẳng thể nào có tiền mua sách vở,
sắm được cái khố để đến lớp.Và tất nhiên cũng chẳng có tiền mua lễ vật đến
mừng nhà Thổ Hào vào dịp lễ tết và đến cúng đủ thứ giỗ ở nhà y.
Ham học nhưng biết rõ hoàn cảnh của mình không đến lớp được như bạn
bầu cùng trang lứa, Mai không ghen tỵ bạn, oán thán cảnh khổ của mình, mà
mày mò và kiên nhẫn học theo cách của cậu là tự học. Và kỳ lạ thay, cậu đã am
tường chữ nghĩa, đọc được, hiểu được sách vở thánh hiền, nhiều đứa cùng tuổi
học chính thức với thầy, xem ra còn kém xa Loan về mặt chữ nghĩa, kinh sử. Có
thể nhờ đức tính ham học, nhờ vào bộ óc thần đồng, nhờ khí thiêng giang sơn
chung đúc, Mai Thúc Loan đã sớm có những nhận thức hơn người. Ngay từ lúc

14
còn nhỏ, Mai Thúc Loan đã có lòng yêu nước, căm thù giặc và luôn tìm mọi
cách để cứu nước, giúp dân, đập tan chế độ đô hộ nhà Đường.
Tình cha mẹ thương con không bờ bến và lòng Mai Thúc Loan quý mến
cha mẹ như biển như trời, đã giúp cho gia đình Mai Thúc Loan, từ trong gian
khổ cùng cực của cuộc đời, nhưng vẫn sống bên nhau đầm ấm yên vui, coi
thường mọi gian lao cực khổ.
Cái gia đình nhỏ nghèo của cậu đang sống bên nhau vui vẻ. Cha mẹ vui có
con sớm khôn, cả nghĩ, lớn trước tuổi. Con vui có cha mẹ thương yêu dìu dắt
mình hết lòng. Một cuộc sống được nhân dân trong vùng coi là đầm ấm, hạnh
phúc thì một tai họa bất ngờ ập xuống đầu cậu.
Năm Mai Thúc Loan 10 tuổi, mẹ đi hái củi bị hổ vồ, khi nỗi đau mất mẹ
còn chưa được hàn gắn thì cha lại qua đời. Số phận quả thật là nghiệt ngã với
một con người còn nhỏ tuổi mà đau thương chồng chất đau thương này.

là một thân tướng có vị trí quan trọng trong cuộc khởi nghĩa.
2.1.2. Sự nghiệp
Ngay từ lúc còn vị thành niên, do có vóc đồ sộ, có nhiều miếng, nhiều mẹo
vật thông minh, nên có lần anh đã rửa được nỗi nhục cho làng vật Sa Nam.
Trong ngày hội xuân năm ấy, một tên lính Đường đã làm lấm lưng ba, bốn đấu
vật bản xứ. Đó là những đô vật trong vùng, thường giật lèo nhiều lần trên xới vật
châu lỵ, mà so với họ, Mai Thúc Loan chỉ là bậc đàn em về tuổi đời cũng như về
ngón nghề trong vật thuật. Nhưng lần đó, trước thái độ kiêu khích của tên lính
Đường, anh đã cởi áo bước vào xới vật. Không ai tin là thắng lợi trận đấu lại
nghiêng về cậu bé tuổi đời cũng như vóc dáng chỉ bằng nửa đối phương. Nhưng
sự thật hiển nhiên trước mắt họ là, chỉ sau một phút bắt đầu, Mai Thúc Loan đã
quật ngã tên lính Đường kiêu ngạo trong sự cổ vũ nhiệt tình của cô bác, bạn bè.
Kể lại chuyện này, nhiều cụ già nhận định rằng có thể ý chí đã quyết định thắng
lợi nhưng cũng có cụ cho rằng ý chí chỉ là một nửa. Nửa còn lại do Mai Thúc
Loan chịu khó rèn luyện từ thửa nhi đồng và có sức khỏe đặc biệt, có nhiều mẹo
vật. Sau lần giật lèo trên xới vật buổi đầu xuân năm ấy, Mai được anh em tráng
đinh trong thôn - bất chấp tuổi anh còn bé như em út họ - mời chào giúp đỡ chỉ
bảo cho họ, khi thì một thế võ mà anh học lỏm được từ những buổi quan sát bọn
lính Đường dạy nhau, khi thì một mẹo vật do anh sáng ý tự nghĩ ra trong lúc
chơi cùng bạn bè. Mai Thúc Loan còn được anh em bạn phường săn cho tham
gia công việc săn bắn vào lúc việc nhà nông rỗi rãi, coi anh như một tráng đinh,
thực thụ bình đẳng cùng mọi bạn phường săn khác.
Và đặc biệt, mới mười ba mười bốn, cậu bé Mai Thúc Loan gần như tay
không bắt hổ, chuyện diệt được hổ dữ, trả thù cho mẹ được truyền thuyết đời sau
kể lại dưới nhiều dạng, nhiều vẻ, nghe cứ như là chuyện thần thoại, thật ly kỳ và
hết sức hấp dẫn.
Thời gian trôi qua, Mai Thúc Loan đã trở thành một thanh niên thực thụ.
So với bạn bè cùng trang lứa, anh vẫn lớn khôn, vượt trội hơn cả.

16

trình dài, đầy rẫy khó khăn bất trắc, một con người chỉ huy bản xứ có trình độ,
có năng lực như Mai Thúc Loan bên cạnh toán quan lính Đường áp tải, thật là
cần cho chúng biết chừng nào.
Từ những phân tích trên, ta có thể tin chắc rằng, chuyện cống nạp - vốn là
một tai họa đối với đất nước - thì với Mai Thúc Loan là cơ hội tốt để thực hiện

17
một ý đồ, một hoài bão lớn mà hơn hai chục năm sau, ý đồ đó đã giành được kết
quả mong muốn.
Nhờ chí du ngoạn, bình định thiên hạ, lại được vợ hết lòng ủng hộ. Từ đó,
tận dụng mọi cơ hội có thể, Mai đã tập hợp được nhiều bậc hiền tài cùng có lòng
căm thù giặc đô hộ, yêu thương nhân dân, lo lắng ưu phiền trước tình hình đất
nước đang đau thương dưới ách Bắc thuộc mà ấp ủ mong muốn diệt thù cứu
nước. Những vị đó sau này trở thành những tướng tài tụ nghĩa dưới lá cờ của
ông như Thôi Thặng, Phong Hậu, Phục Trường Thủ, Hoặc Đan, Khổng Qua,
Cam Hề, Sĩ Lâm, Đỗ Tân, Tiết Anh, Đàm Du Vân,…
Nhờ vào gia sản cha mẹ để lại, cùng tài làm ăn, thu vén của Ngọc Tô và
nhất là nhờ vào sự đồng tâm, đồng lòng của vợ trong mưu toan đại nghĩa, khách
đến với Mai Thúc Loan cả vài nghìn người, mà vợ chồng Mai vẫn thu xếp, cho
ẩn náu ở các trang trại được lập ra để sản xuất lương ăn và luyện tập võ nghệ,
rèn đúc binh khí.
Ngoài căn cứ địa Sa Nam tại quê hương, Mai Thúc Loan đã để tâm tìm
hiểu mọi miền trên cả nước mà lập thêm mấy căn cứ nữa hỗ trợ cho Sa Nam
khi hành sự.
Căn cứ đầu tiên là căn cứ ở miền duyên hải Đông Bắc mà trung tâm chỉ
huy được đặt tại thôn Điều Yêu (nay thuộc xã Quốc Tuấn, huyện An Hải, tỉnh
Hải Phòng). Thôn Điều Yêu nằm ở gần chân núi Voi, một ngọn núi ở vùng đồng
bằng ven biển Hải Phòng. Từ đây tiến lên phía Bắc thì đến được vùng Triều
Dương (nay là Quảng Ninh), khống chế được cửa mấy con sông lớn từ Đông
Bắc Bắc Hà đổ ra biển. Đó là những con đường thủy có thể giúp quân xâm lược

vùng duyên hải Đông Bắc, tại đây Mai Thúc Loan đã tìm hiểu (qua những lần đi
cống nạp trở về - là lúc có điều kiện ngang tắt đó đây suốt lộ trình quay lại quê
hương) đã âm thầm liên kết với Quan Lang đạo địa phương, lấy đây làm căn cứ
hỗ trợ cho Sa Nam khi khởi sự. Rồi do mến đức, trọng tài thủ lĩnh nghĩa quân,
và có lẽ còn do ý muốn tạo thuận lợi cho Mai Thúc Loan, giúp Mai có người
bạn tâm phúc đắc lực, cụ Phùng Hạp Khanh đã gả đứa cháu ruột thịt mình cho
thủ lĩnh nghĩa quân.
Và như thế, ngoài căn cứ Sa Nam tại quê hương, Mai Thúc Loan đã âm
thầm, bí mật xây dựng thêm căn cứ Điều Yêu ở Duyên Hải Đông Bắc và căn cứ
Đường Lâm cạnh Tống Bình để phục vụ cho mưu đồ dấy binh khởi nghĩa.
Sau một thời gian ngấm ngầm chuẩn bị mà chưa gặp thời cơ, các bạn đồng
tâm, đồng chí của Mai Thúc Loan đều có chung một tâm trạng sốt ruột, nôn
nóng. May mắn thay, cuối cùng thì cái thời cơ mong đợi kia cũng đã đến - đó là
sự lộn xộn trong triều nhà Đường lúc bấy giờ.
Vào lúc này, sau khi giành lại được vương quyền bị Võ Tắc Thiên chiếm
đoạt (và lập nên nhà Chu từ năm 690 đến 705), nhà Đường được khôi phục với
vua Đường Trung Tông.
Tuy nhiên, liên tiếp trong 7 năm sau đó (705 đến 712) triều chính nhà
Đường trở nên hết sức rối ren do nhiều cuộc chính biến xảy ra (có đến ba vị vua
được lập nên rồi phế truất). Cuối năm 712 đến lượt Đường Huyền Tông lên ngôi

19
(tức Đường Minh Hoàng mà trong hai năm đầu chấp chính 713 - 714, ông lấy
niên hiệu là Khai Nguyên, rồi sau lại đổi thành niên hiệu Thiên Bảo.
Sau 7 năm lộn xộn (705 đến 712) và thực tế thì việc Lý Long Cơ tức Huyền
Tông, Đường Minh Hoàng lên ngôi cũng chưa phải được sự hoàn toàn nhất trí
của triều đình mà chỉ là của một số thế lực - trong đó có bà phi của một tiên
vương, từ bối cảnh đó dư luận dự đoán sẽ lại có một thời kỳ bất ổn trong triều
chính nhà Đường.
Thấy đây là một cơ hội tốt, một buổi họp đã được tổ chức vào đầu năm

vua quan nhà Đường, đặc biệt ái khanh của vua là Dương Quý Phi rất ưa thích
vải này. Chuyện kể rằng, mỗi khi mùa vải chín, ngắm trời phương Nam, khi
ngựa đưa vải tiến dâng vua về đến Tràng An, Dương Quý Phi nhoẻn miệng
cười. Đỗ Mục, nhà thơ nổi tiếng đời Vãn Đường đã viết:
Nhất kỵ hồng trần Phi tử tiếu
Vô nhân tri thị lệ chi lai
Dịch nghĩa:
Bụi Hồng ngựa ruổi Phi cười nụ
Vải tiến mang về ai biết đâu?
Từ đó, người ta đặt cho vải này cái tên là Phi tử tiếu (Nàng Phi cười).
Hàng năm đến mùa vải chín, bọn quan quân đô hộ sục vào các làng xã,
thu vét quả vải và bắt phu gánh sang Trung Quốc cống nạp cho vua quan nhà
Đường. Những người bị chúng bắt đi phu phải chịu muôn vàn cực nhục và bị
bọn quan lính hành hạ, ngược đãi đủ điều. Lòng căm hận của nhân dân ta đối
với chế độ cai trị nhà Đường chất nén tới cực độ. Nhân dân Hoan Diễn (Nghệ
Tĩnh) đã ghi lại nỗi thống khổ của nhân dân thời đó trong một bài chầu văn
dài: [7,82]
“Nhớ khi nội thuộc Đường triều,
Giang sơn cố quốc nhiều điều ghê gai
Sâu quả vải vì ai vạch lá,
Ngựa hồng trần kể đá héo hon”
Điểm lại một cách tổng quát việc trường kỳ chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa,
ta thấy Mai Thúc Loan đã giăng mắc được một mạng lưới nghĩa quân rải đến
khắp mọi miền Tổ quốc. Mạng lưới đó đặc biệt dày đặc ở quê hương Châu Hoan
và hai châu kế tiếp là Châu Ái và Châu Diễn (vùng đất thuộc ba tỉnh Thanh Hóa,
Nghệ An, Hà Tĩnh bây giờ). Trong bước một của cuộc khởi nghĩa, Mai và các
đồng sự đã quyết định là bằng mọi giá, thanh toán kỳ được bộ máy đô hộ nhà
Đường ở đây, làm bàn đạp cho việc giải phóng cả nước trong bước hai.
Ngày châm ngòi mở đầu cho cuộc khởi nghĩa được Mai Thúc Loan chọn là
thời điểm mà hàng trăm dân phu Sa Nam ở thủ phủ Châu Hoan đi cống nạp vải


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status