BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
ĐINH THỊ TRANG
TÌM HIỂU TỤC TANG MA CỦA NGƯỜI MƯỜNG
Ở HUYỆN TÂN LẠC, TỈNH HÒA BÌNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
SƠN LA, NĂM 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
ĐINH THỊ TRANG TÌM HIỂU TỤC TANG MA CỦA NGƯỜI MƯỜNG
Ở HUYỆN TÂN LẠC, TỈNH HÒA BÌNH
Tác giả
Đinh Thị Trang MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
6. Phương pháp nghiên cứu 4
7. Cấu trúc của đề tài 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 6
1.1. Cơ sở lí luận 6
1.1.1. Phương pháp luận Mácxit 6
1.1.2. Quan niệm chung về tang ma 7
1.1.3. Quan niệm về tang ma của người Mường ở Hòa Bình 8
1.2. Cơ sở thực tiễn 9
1.2.1. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 9
1.2.2. Vài nét về dân tộc Mường 10
CHƯƠNG 2: NHỮNG ĐẶC TRƯNG TRUYỀN THỐNG TRONG TỤC
TANG MA CỦA NGƯỜI MƯỜNG 18
2.1. Quan niệm về sống và chết của người Mường 18
2.1.1. Quan niệm về sống và chết của của người Mường 18
2.1.2. Quan niệm về sống và chết của của người Mường ở Tân Lạc 20
2.2. Tang phục và các điều kiêng kị 22
2.2.1. Tang phục 22
2.2.2. Các điều kiêng kị của gia đình chịu tang 24
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Việt Nam là một quốc gia có hơn năm mươi dân tộc anh em cùng chung
sống. Mỗi dân tộc có một nền văn hóa riêng biệt độc đáo tạo thành một bức
tranh văn hóa sinh động. Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta gắn với xu
thế hội nhập văn hóa các dân tộc và đã góp phần tạo nên văn hóa Việt Nam “đa
dạng trong thống nhất”. Trong số những dân tộc góp phần tạo nên văn hóa Việt
Nam “đa dạng trong thống nhất”, dân tộc Mường là một trong những dân tộc có
đóng góp to lớn tạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam.
Hiện nay, người Mường sống trên lãnh thổ Việt Nam chiếm một số lượng
khá đông, nhưng chủ yếu tập trung ở các tỉnh Hòa Bình, Thanh Hóa, Phú Thọ. Ở
Hòa Bình, người Mường cư trú với số lượng đông đảo, họ sống tập trung ở các
huyện miền núi như: Lạc Thủy, Lạc Sơn, Tân Lạc, Kim Bôi… Tân Lạc là một
vùng đất cổ, trải qua những thăng trầm của lịch sử đến hôm nay vẫn còn bảo lưu
nhiều yếu tố văn hóa truyền thống.
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước đã tác động và làm thay
đổi mọi mặt đời sống kinh tế, xã hội. Sự giao lưu văn hóa ngày càng được mở
rộng giữa quốc gia này với quốc gia khác, tộc người này với tộc người khác.
Tuy nhiên, những hiểu biết sâu sắc về phong tục tập quán của các dân tộc thiểu
số nói chung và của người Mường nói riêng vẫn còn hạn chế. Trong thời đại
công nghiệp hóa và toàn cầu hóa, văn hóa của người Mường ở Tân Lạc đang có
những thay đổi nhanh chóng. Do vậy, việc tìm hiểu văn hóa truyền thống và
những biến đổi là việc làm rất cần thiết có tác dụng giáo dục cho thế hệ trẻ thấy
được bản sắc văn hóa quê hương.
Mặt khác, là một người yêu thích nghiên cứu khoa học đồng thời là người
con của dân tộc Mường, được sinh ra và trưởng thành trên mảnh đất quê hương
Tân Lạc giàu truyền thống, bản thân tác giả cảm nhận được sự hiểu biết của thế hệ
trẻ về những nét văn hóa truyền thống của dân tộc còn rất mơ hồ. Do đó, tác giả
chọn nghiên cứu vấn đề “Tìm hiểu tục tang ma của người Mường ở huyện Tân
Lạc, tỉnh Hòa Bình” làm khóa luận tốt nghiệp. Với mong muốn làm sáng tỏ thêm
trong tang lễ cổ truyền của người Mường thông qua tác phẩm “Tang lễ cổ
truyền người Mường”. Tuy nhiên tác phẩm chỉ là sự khái quát chung tang lễ cổ
truyền của người Mường, chưa tìm hiểu tang lễ cụ thể ở một địa phương [22].
Trong thời gian gần đây, những công trình của giới sử học và dân tộc học
Việt Nam khá đồ sộ, đã cho ra đời một khối lượng lớn về việc tìm hiểu phong
tục tập quán, các lĩnh vực đời sống văn hóa dân tộc Mường nói chung, trong đó
có công trình “ Người Mường ở Tân Lạc tỉnh Hòa Bình” do tiến sĩ dân tộc học
Nguyễn Thị Thanh Nga chủ biên đã phác họa khá phong phú, đa dạng về người
3
Mường ở huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình. Nhưng việc nghiên cứu tục tang ma
của người Mường Tân Lạc một cách toàn diện vẫn chưa thỏa đáng [13].
Ngoài ra, còn một số công trình nghiên cứu của các tác giả, nhà báo, các
cán bộ ban ngành quan tâm như: cơ quan Ban Tuyên giáo của huyện, tỉnh, Bộ
văn hóa…Tuy nhiên, tất cả các công trình nghiên cứu trên mới chỉ dừng lại ở
việc mô tả chung chung về tục tang ma của người Mường, mà chưa đi sâu phân
tích những đặc trưng truyền thống và một số nét thay đổi trong tục tang ma người
Mường nói chung và của người Mường ở huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình nói riêng.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
♦ Ý nghĩa khoa học
Khóa luận giúp chúng ta hiểu sâu hơn về tộc người Mường, bên cạnh đó
còn thấy được quá trình vận động, biến đổi của một số giá trị văn hóa dân tộc
Mường ở huyện Tân Lạc nói riêng và dân tộc Mường trên lãnh thổ Việt Nam nói
chung cụ thể ở đây là tục tang ma.
♦ Ý nghĩa thực tiễn
Khóa luận có thể cung cấp những thông tin có giá trị khoa học làm cơ sở
cho các cơ quan chức năng xây dựng và hoàn thiện các chính sách văn hóa nhằm
bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của tộc người Mường nói
riêng và các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam nói chung.
Các cá nhân, tập thể quan tâm đến vấn đề văn hóa tộc người Mường nói
luận đã dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của
chủ nghĩa Mác - Lênin để tìm hiểu sự vận động, phát triển của văn hóa Mường, cụ
thể là tục tang ma. Từ đó tác giả sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể:
Phương pháp phân tích tài liệu là phương pháp thu thập thông tin thông
qua các tài liệu có sẵn như: sách, báo cáo của huyện theo từng giai đoạn. Thông
qua việc tổng hợp và phân tích những tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu
đã giúp cho tác giả có được những số liệu cần thiết để viết đề tài này.
Phương pháp phỏng vấn (phỏng vấn thầy Mo về một số đoạn mo được
sử dụng trong lễ tang ngày nay của người Mường ở huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa
Bình), và phương pháp thống kê (thống kê các số liệu thứ cấp thu thập được qua
các báo cáo địa phương)…
5
7. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận khóa luận gồm 3 chương.
Chương 1: Cơ sở khoa học của đề tài.
Chương 2: Những đặc trưng truyền thống trong tục tang ma của người Mường.
Chương 3: Một số nét thay đổi trong tục tang ma hiện nay của người
Mường ở huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình.
6
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1 . Cơ sở lí luận
1.1.1. Phương pháp luận Mácxit
Khóa luận sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử của chủ nghĩa Mác – Lênin làm cơ sở lí luận cho việc phân tích những đặc
trưng truyền thống trong tục tang ma của người Mường, từ đó thấy được những
nét thay đổi và một số yếu tố tác động dẫn đến những thay đổi trong phong tục
nên người Việt Nam đón nhận cái chết trong tinh thần chủ động thư thản như
sắm trước quan tài (gọi là Thọ), xây dựng sinh phần (gọi là Kim tỉnh) cho chính
bản thân khi còn sống. Nhân sinh quan người Việt xưa nay cũng cho là "sống ở,
thác về", xem cuộc sống trên mặt đất chỉ là cõi trọ tạm bợ, và chết không phải là
hết, mà về cõi vĩnh cửu. Do vậy, "người chết cần được mồ yên mả đẹp", việc
"động mồ động mả" rất kiêng cử ví có thể ảnh hưởng đến sự nghiệp của con
cháu nhiều đời. Người Việt còn sống theo đạo lý: "nghĩa tử là nghĩa tận", tức là
bao nhiêu hờn oán đều xóa bỏ khi đối tượng đã chết, vì chết là dứt nợ trần gian.
Không ai truy cứu người chết bao giờ. Trong dân gian tới nay ngay vẫn còn một
bộ phận lớn người tin vào linh hồn, cho rằng người chết rồi thì linh hồn sẽ sống
ở cõi âm, nơi đó linh hồn cũng sinh hoạt như ở dương thế [23].
Sống làm vợ khắp người ta
Khéo thay thác xuống làm ma không chồng
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
Dầu quan niệm cái chết thế nào thì tang lễ là một hình thức bày tỏ lòng
nhớ ơn và thương xót của người sống đối với người chết. Người Việt quan niệm
lễ tang là một phần của đạo hiếu mà con cháu dành cho ông bà cha mẹ khi quá
cố. Đám tang là một nghi lễ lớn, nghi lễ cuối cùng trong đời một con người.
Nghi lễ đám tang Việt được thiết kế theo nghi thức tang lễ có gốc từ sách “Văn
công gia lễ” của Chu Hy đời nhà Tống bên Tàu, giản lược theo “Thọ mai gia lễ”
của Hồ Sĩ Dương đời Lê. Nghi lễ đám tang ấy thể hiện rất rõ quan điểm con
người là do khí âm, khí dương hòa hợp lại, con người có hồn có vía nên dù đã
nhắm mắt xuôi tay vẫn có ảnh hưởng tốt hoặc xấu đối với những người sống.
Đám tang là một nghi lễ với những thủ tục quy định nghiêm ngặt, nào “Thiên
chính tẩm” (dời ra giữa nhà), nào lắng nghe “Di ngôn” (lời trăng trối), nào “Gia
tân y” (thay quần áo), nào “Hạ tịch” (đặt xuống chiếu trải dưới đất), nào “Trị
quan” (chuẩn bị quan tài), nào “Nhập quan” (đặt vào quan tài)…[23].
Tóm lại, đám tang hay đám ma, lễ tang, tang lễ, tang ma là một trong
những phong tục của Việt Nam. Bao gồm nhiều quy trình của những người đang
sống thực hiện đối với người vừa chết.
kém trong suốt thời gian lưu quan tài ở trong nhà. Ngược lại với người nghèo đó
là dấu hiệu tủi nhục, vì việc chôn cất người chết chỉ được thực hiện sau khi đã
làm đủ các nghi lễ rất tốn kém theo hủ tục cổ truyền. “Giờ đã đến lúc đưa người
thân vừa mất về thế giới bên kia, một thế giới phù hợp với thân phận người ấy:
một tinh linh đã hoàn toàn tách khỏi thân xác người sống. Giữa thế giới đó và
9
thế giới chúng ta là cả một khoảng cách chỉ có thể vượt qua bằng uy lực của bố
Mo” (Từ Tri - “Vũ trụ luận Mường”).
Theo người Mường ở Hòa Bình nghi lễ tang ma liên quan trực tiếp tới tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Nghi lễ tang ma không chỉ cầu xin sự che chở, bảo vệ
của người chết cho người sống mà còn thể hiện mối quan tâm, trách nhiệm sâu
sắc của người sống đối với người chết. Không phải ngẫu nhiên người Mường
gọi đám ma là đám hiếu và việc hoàn thành những nghi thức tang ma cho cha
mẹ lúc về già là bổn phận lớn lao nhất của một đời người. Dưới góc độ tín
ngưỡng tổ tiên, các nghi lễ tang ma chính là sự định vị cho linh hồn người chết
một vị trí mới trong các thứ bậc của tổ tiên có mặt trên bàn thờ gia đình.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
Tân Lạc là một huyện miền núi nằm ở phía tây tỉnh Hòa Bình, ở vào 21
0
27’ -
20
0
35’ vĩ độ Bắc và 105
0
6’ - 105
0
23’ kinh độ Đông, phía đông giáp với huyện Cao
Phong, phía tây giáp với huyện Mai Châu, phía bắc giáp với huyện Đà Bắc, phía
Tân Lạc thuộc khu vực chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, có
hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến
tháng 4. Nhiệt độ trung bình năm là 23,3
0
C, lượng mưa khoảng 1900mm có nơi
tới 2200mm, độ ẩm trung bình là 85% [7; 15].
Đặc điểm nổi bật trong phân bố dân cư của người Mường Tân Lạc là cư
trú tập trung. Bên cạnh đó, hình thức cư trú xen kẽ với dân tộc Việt (Kinh) cũng
đã xuất hiện. Song cư trú xen kẽ diễn ra ở nhiều mức độ khác nhau, đó là: cư trú
xen kẽ thành từng làng riêng biệt (làng người Việt, làng người Mường - kiểu cư
trú này chủ yếu là ở những xã gần huyện lỵ); hoặc cư trú xen kẽ ngay trong một
làng (tức là trong một làng vừa có người Mường vừa có người Việt cư trú).
Song có một điều dễ nhận thấy là ở các làng cư trú đan xen, các dân tộc thường
tạo lập thành các xóm chòm riêng biệt.
Với địa hình, khí hậu, dân số và kết cấu dân cư như vậy đã tạo nên sự
phong phú, đa dạng của tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái và văn hóa
nơi đây và ảnh hưởng lớn đến đời sống cư dân Mường Tân Lạc.
1.2.2. Vài nét về dân tộc Mường
♦ Nguồn gốc dân tộc Mường
Người Mường và người Kinh đều là những nhóm cư dân bản địa thuộc
các tộc Lạc Việt. Theo tục truyền thì người Việt Nam là nòi giống Tiên Rồng,
vua đầu tiên họ Hồng Bàng nước Xích Quỷ là Lộc Tục, tức Kinh Dương Vương,
một hôm đi ngoạn cảnh ở hồ Động Đình gặp một người thiếu nữ nhan sắc tuyệt
vời tự xưng là Long Nữ, con gái của Động Đình Quân. Lộc Tục kết duyên cùng
nàng ấy sinh ra được một người con trai đặt tên Sùng Lám, nối ngôi cha làm vua
tự xưng là Lạc Long Quân [1; 22].
11
Lạc Long Quân lấy Âu Cơ là con gái Đế Lai, vua một nước láng giềng đẻ
ra một lần trăm cái trứng, sau nở thành trăm người con trai. Một hôm, Lạc Long
Nguyễn Phụng trong cuốn Góp phần tìm hiểu tỉnh Hòa Bình đã trình bày: …
Trên cơ sở các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ học, về dân tộc học, về lịch
sử, về khảo cổ học, chúng ta có thể nhận định rằng: dân tộc Việt và dân tộc
Mường trước đây mấy ngàn năm có chung một tổ tiên là người Lạc Việt, chủ
12
nhân của nền văn hóa Đông Sơn rực rỡ của Việt Nam. Nguyên nhân làm cho
người Lạc Việt phân hóa thành hai dân tộc là do chế độ áp bức của thời Bắc
thuộc. Người Việt ở vùng đồng bằng trong khi bắt buộc phải sống chung với
bọn phong kiến ngoại tộc đã có điều kiện tiếp xúc với văn hóa các nước ngoài
(như văn hóa Trung Quốc, văn hóa Ấn Độ, văn hóa Chiêm Thành), hoàn cảnh
đó làm cho người Việt ở vùng đồng bằng và người Việt ở vùng núi dần dần phát
sinh những yếu tố khác nhau về đời sống tinh thần và đời sống vật chất. Tình
hình này đã kéo dài hơn một ngàn năm và cuối cùng làm cho người Việt phân
hóa thành hai dân tộc: dân tộc Việt (Kinh) chịu ảnh hưởng một phần của văn hóa
nước ngoài; dân tộc Mường do cư trú lâu đời ở miền rừng núi vẫn bảo lưu được
nét đặc biệt của văn hóa Lạc Việt” [18; 50].
Như vậy, người Mường có cùng nguồn gốc với người Việt, tổ tiên của
người Việt - Mường là người Lạc Việt, một cộng đồng nguyên thủy có mặt ở
vùng chân núi phía Tây Bắc Việt Nam từ rất sớm.
♦ Tên tự gọi: Mol (hoặc Mon, Moan, mual); các nhóm địa phương: Ao tá
(Âu tá), Mọi Bi.
♦ Ngôn ngữ: tiếng Mường thộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường (ngữ hệ
Nam Á), rất gần với tiếng Việt.
♦ Trang phục
Trang phục nam, nữ dân tộc Mường
Trang phục nam: nam mặc áo xẻ ngực, cổ tròn, cúc sừng vai, hai túi dưới
hoặc thêm túi trên ngực trái. Đây là loại áo cánh ngắn phủ kín mông. Quần lá tọa
14
Một góc bản làng người dân tộc Mường
♦ Nhà ở truyền thống: người Mường sống trong những ngôi nhà sàn
truyền thống. Nhà sàn của người Mường là kiểu kiến trúc cổ truyền, việc dựng
nhà sàn của người Mường là kết quả của một quá trình dài đúc kết kinh nghiệm
cư trú. Điều đó được thể hiện ở bản mo nổi tiếng là “Tẻ tất tẻ đác” (Đẻ đất đẻ
nước). Trong bản mo đồ sộ này có đoạn nói về sự ra đời của nhà sàn Mường:
“thời con người chưa có nhà ở, họ còn phải cư trú trong các hang núi, hốc cây,
họ phải đối phó với bao tai ương, hiểm họa: thú dữ ăn thịt, mưa, bão… Khi đó
lang Đá Cần được người Mường tôn lên làm vua đã tìm cách dựng nhà ở. Một
hôm ông gặp được con rùa vàng, bắt đem về, sắp bị làm thịt, bỗng nhiên nó xin
tha tội chết và đền mạng bằng cách hiến kiểu xây nhà. Lời cầu xin được chấp
thuận, rùa liền vươn mình trên bốn cái chân tựa như bốn cái cột, mai rùa trở
thành mái nhà, vẩy rùa thành ngói lợp, rùa nói:
…Bốn chân tôi là bốn cái cột
Hai vỉa sườn là hai mái nhà
Xương sống nên đòn nóc bắc cái kèo
Lỗ đầu làm lối lên cửa chạn…
Lang Đá Cần cho người làm lấy nhà ở” [14; 19]. Từ đó, người Mường
sống ở nhà sàn.
♦ Ăn uống: người Mường thích ăn các món như xôi đồ, cơm tẻ đồ, rau, cá
đồ hay “củ mài, rau sắng, măng đắng, mật ong”, “cơm đồ, nhà gác, nước vác,
lợn thui…”
15
Rượu cần người Mường nổi tiếng bởi cách chế biến và hương vị đậm đà
của men được đem ra mời khách quý và uống trong các cuộc vui tập thể.
Phụ nữ cũng như nam giới thích hút thuốc lào bằng loại ống điếu to. Đặc biệt
16
động và các nét đẹp phong tục dân tộc. Đặc biệt, ở người Mường phải kể đến lễ
ca, đó là những áng mo, bài khấn do thầy mo đọc và hát trong đám tang.
Cồng chiêng là nhạc cụ đặc sắc của người Mường, ngoài ra còn có nhị,
sáo, trống, khèn lù…
♦ Tổ chức cộng đồng: xưa kia, hình thái tổ chức đặc thù của người
Mường là chế độ Lang đạo (Đinh, Quách, Bạch, Hà) chia nhau ra cai quản các
vùng. Đứng đầu mỗi mường có các lang cun, dưới lang cun có các lang xóm
hoặc đạo xóm, cai quản một xóm.
♦ Tôn giáo tín ngưỡng
Tục thờ cúng tổ tiên: tục thờ cúng tổ tiên bắt nguồn từ tiềm thức tâm linh
cho rằng chết là về với tổ tiên nơi chín suối, tin rằng tuy ở nơi chín suối nhưng
ông bà tổ tiên vẫn thường xuyên đi về thăm nom, phù hộ cho con cháu.
Người Mường quan niệm con người có hai phần: phần hồn và phần xác;
cái chết là sự tách lìa hồn ra khỏi xác. Hồn người sau khi chết sẽ được nhập vào
thế giới bên kia - nơi có cộng đồng tổ tiên sinh sống và trở thành tổ tiên của gia
đình. Do vậy, họ quan niệm cái chết là sự tiếp tục cuộc sống của linh hồn, linh
hồn đó có thể phù hộ, bảo vệ mang lại điều tốt đẹp cho người sống. Chính vì
lòng tin đó người ta hình thành tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên.
Trong ngôn ngữ người mường tại Tân Lạc khái niệm “Tổ tiên” gọi là
“Thốl thăm”. Có thể khẳng định, thờ cúng tổ tiên là một trong những hình thái
tín ngưỡng xa xưa nhất của người Mường được giữ lại cho đến ngày nay. Theo
quan niệm của người Mường khái niệm tổ tiên không chỉ bao gồm thành viên
thân thuộc dòng họ cha mà gồm cả những thành viên của dòng họ mẹ. Đây là
nét khác biệt với phong tục một số tộc người khác chỉ thờ cúng tổ tiên là thành
viên thuộc dòng họ cha.
Cũng như nhiều dân tộc anh em khác, người Mường coi tổ tiên là ma
lành, thường xuyên che chở, phù hộ cho gia đình nếu được thờ phụng, cúng lễ
chu đáo. Ngược lại sẽ gây ra những điều xui xẻo, ốm đau, bệnh tật… nếu không
tôn kính, thờ cúng. Tổ tiên là người bảo hộ gia đình, chống lại những ma ác, tổ
Như vậy, dân tộc Mường cùng với các dân tộc khác trong cộng đồng 54
dân tộc anh em trên dải đất hình chữ S này đã có những đóng góp to lớn về sự
phát triển kinh tế của đất nước cũng như sự đa dạng văn hóa dân tộc. Những
khái quát chung về dân tộc Mường cho thấy, nền văn hóa dân tộc Mường đã có
từ lâu đời và mang bản sắc dân tộc đậm đà. 18
CHƯƠNG 2
NHỮNG ĐẶC TRƯNG TRUYỀN THỐNG
TRONG TỤC TANG MA CỦA NGƯỜI MƯỜNG
2.1. Quan niệm về sống và chết của người Mường
2.1.1. Quan niệm về sống và chết của của người Mường
Đối với người Mường thì họ cho rằng con người đang sống không tự
nhiên chết đi, mà bệnh tật cùng tai nạn làm cho con người đang từ cõi sống sẽ
chuyển tiếp sang cái chết. Theo quan niệm về thế giới của người Mường, thì con
người tồn tại trong hai thế giới: thế giới người sống và thế giới người chết, hay
là cõi Mường (thế giới trần gian) và cõi hư vô (Mường ma). Họ quan niệm rằng,
cái chết là sự thay đổi môi trường sống của con người từ cõi Mường sang cõi hư
vô. Tuy nhiên, đối với họ hai thế giới ấy không hề có ranh giới rõ ràng, mà
ngược lại giữa chúng còn có mối liên hệ chắc bền không thể tách riêng rẽ.
Với người Kinh, mối liên hệ này trước hết thể hiện ở cuộc đấu tranh giằng
xé nội tâm giữa sự khước từ thực tế và sự chịu đựng vô vọng dẫn tới sự chấp
nhận thực tế mất đi một người thân yêu. Đó là sự tranh chấp của cá nhân và tình
cảm, bởi lẽ sự kiện đột biến của cái chết của thể chất không đủ làm tiêu tan cái
chết trong đầu óc mọi người, hình ảnh của người chết gần đây vẫn tham gia vào
những việc của thế giới này. Sự đấu tranh ấy, xuất phát từ hầu hết mọi người
nghĩ rằng: người chết đã chết từ lâu, vì chúng ta quá gắn chặt người đó vào
chung một cuộc sống với chúng ta, và do vậy những mối liên lạc không thể ngày
lòng thành của người thân, bằng những nghi lễ tập tục đã quy định. Còn một vài
linh hồn rơi vào trạng thái lang thang vĩnh viễn: họ bị đuổi ra khỏi cuộc sống
nhưng cũng không được đưa vào cuộc sống người chết. Họ trở thành những cô
hồn ở giữa cuộc sống của người sống và cuộc sống của người chết.
Người Mường còn tin tưởng và cho rằng có những cuộc tái sinh, tuy là rất
hiếm. Bởi họ cho rằng, những linh hồn tạm thời hay vĩnh viễn lang thang luôn
tìm cách lôi kéo những linh hồn mới lìa khỏi xác, bởi vậy muốn cho thân thể có
khả năng sống lại thì bắt buộc những linh hồn sống phải quay lại nhập vào thân
thể một vài giờ sau khi đã thoát khỏi thân thể đó. Hiện tượng tái sinh như vậy
theo cách giải thích khoa học đó là hiện tượng chết lâm sàng.
Không dừng lại ở hiện tượng chết lâm sàng, người Mường còn tin tưởng
rằng, hiện tượng tái sinh sẽ xuất hiện ở người chết nhiều ngày nhưng có sự can
thiệp của pháp thuật. Nhưng họ cũng nhận ra, nếu người chết được một thời gian
khá lâu thì sự can thiệp của pháp thuật cũng bất lực, không gây ra điều kì lạ nữa.
Tóm lại, theo quan niệm của người Mường thì con người gồm hai phần
tách biệt nhau: phần hồn và phần xác. Khi hồn lìa khỏi xác thì cái chết ập đến,
linh hồn trở thành “con ma” và đi vào thế giới của người chết. Người Mường
cũng cho rằng có hiện tượng tái sinh, nhưng thực chất của vấn đề đấy lại là hiện
tượng chết lâm sàng; nhưng trước do điều kiện chậm phát triển nên họ dựa vào