TÌM HIỂU TỤC TANG MA CỦA NGƯỜI MƯỜNG TỈNH HÒA BÌNH - Pdf 35

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ

HÀ TÔN NGÂN HÀ

TÌM HIỂU TỤC TANG MA
CỦA NGƯỜI MƯỜNG TỈNH HÒA BÌNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử văn hóa

Hà Nội, 2016


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, tác giả xin trân trọng cảm ơn Ban
giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa, quý Thầy, cô giáo khoa Lịch sử trường Đại học
sư phạm Hà Nội 2 và quý thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy đã giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình học tập.
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô hướng dẫn:
TS. Nguyễn Thị Tuyết Nhung, cô đã luôn tận tình hướng dẫn, chỉ bảo
trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành khóa luận.
Tác giả cảm ơn tập thể lớp K38 A – CN Lịch Sử, trường Đại học sư phạm Hà
Nội 2 đã đóng góp ý kiến trong quá trình học tập và thực hiện khóa luận.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 24 tháng 4 năm 2015
Tác giả

Hà Tôn Ngân Hà



1.3. Quan niệm sống và chết của người Mường tỉnh Hòa Bình ................ 21
Tiểu kết chương 1........................................................................................... 24
Chương 2. TANG MA CỦA NGƯỜI MƯỜNG TỈNH HÒA BÌNH ............ 25
2.1. Quan niệm về tang ma của người Mường tỉnh Hòa Bình................... 25
2.2. Các công việc chuẩn bị cho việc mai táng ............................................ 26
2.2.1. Tang phục và Áo quan ...................................................................... 26
2.2.2. Làm nhà ram, nhà xe, không lôộng ................................................. 32
2.2.3. Khai lăng, đào huyệt .......................................................................... 35
2.3. Các bước tiến hành tang ma .................................................................. 38
2.3.1. Báo tin và đón tiến người đến viếng ................................................. 38
2.3.2. Khâm liệm và nhập quan .................................................................. 40
2.3.3. Các nghi lễ mo ................................................................................... 45
2.3.4. Đưa ma ............................................................................................... 51


2.3.5. Chôn cất ............................................................................................. 54
Tiểu kết chương 2........................................................................................... 58
Chương 3. NHỮNG ĐẶC TRƯNG VÀ SỰ BIẾN ĐỔI TRONG TANG MA
CỦA NGƯỜI MƯỜNG TỈNH HÒA BÌNH ................................................... 60
3.1. Những đặc trưng riêng trong tang ma của người Mường tỉnh Hòa Bình. 60
3.1.1.Vai trò của thầy mo............................................................................. 60
3.1.2. Các áng mo......................................................................................... 61
3.1.3. Áo quan .............................................................................................. 62
3.1.4. Tang phục .......................................................................................... 62
3.1.5. Lễ quạt ma .......................................................................................... 63
3.2. Sự thay đổi trong tang ma của người Mường tỉnh Hòa Bình hiện nay
.......................................................................................................................... 64
3.2.1. Biến đổi trong quan niệm và nhận thức ........................................... 64
3.2.2. Biến đổi về hình thức báo tang và chuẩn bị tang lễ ........................ 65
3.2.3. Biến đổi các đêm mo và nghi lễ......................................................... 67

đổi mọi mặt đời sống kinh tế, xã hội. Sự giao lưu văn hóa ngày càng được mở
rộng giữa quốc gia này với quốc gia khác, tộc người này với tộc người khác.
Tuy nhiên, những hiểu biết sâu sắc về phong tục tập quán của các dân tộc
1


thiểu số nói chung và của người Mường nói riêng vẫn còn hạn chế. Trong thời
đại công nghiệp hóa và toàn cầu hóa, văn hóa của người Mường ở Hòa Bình
đang có những thay đổi nhanh chóng. Do vậy, việc tìm hiểu văn hóa truyền
thống và những biến đổi là việc làm rất cần thiết có tác dụng giáo dục cho thế
hệ trẻ thấy được bản sắc văn hóa quê hương. Mặt khác, là một người con của
dân tộc Mường, bản thân tác giả muốn góp một phần công sức của mình để
lưu giữ lại những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Do đó, tác giả chọn
nghiên cứu vấn đề “Tìm hiểu tục tang ma của người Mường tỉnh Hòa Bình”
làm khóa luận tốt nghiệp.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu các phong tục tập quán
của các tộc người, đặc biệt là các dân tộc thiểu số của dân tộc Việt Nam
ngày càng nhiều, góp phần không nhỏ làm phong phú thêm kho tàng văn
hóa Việt Nam.
Cuốn “Bức tranh văn hóa các dân tộc Việt Nam” của tác giả Nguyễn
Văn Huy, do nhà xuất bản Giáo dục xuất bản năm 1998, đã đề cập một cách
khái quát về 54 dân tộc Việt Nam, trong đó có dân tộc Mường. Ở phần viết về
người Mường, tác giả đã giới thiệu đôi nét về người Mường, tuy nhiên chưa
đi sâu cụ thể.
Cuốn sách “Truyền thống văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam” của
tác giả Vũ Ngọc Khánh, do nhà xuất bản Thanh niên xuất bản năm 2006,
trong đó tác giả đã đề cập đến truyền thống văn hóa của các dân tộc thiểu số
Việt Nam ở khía cạnh địa danh, con người huyền thoại dưới dạng câu chuyện.
Trong tác phẩm, tác giả đã đề cập đến người Mường ở lĩnh vực nguồn gốc tộc

Mường tỉnh Hòa Bình.

3


3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu:
Từ những vấn đề mà đề tài tiếp cận, mục đích nghiên cứu của đề tài là
tìm hiểu những đặc trưng truyền thống và làm rõ những nét thay đổi trong
nghi lễ tang ma hiện nay của người Mường tỉnh Hòa Bình.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Khái quát chung về tỉnh Hòa Bình và giới thiệu đôi nét về người Mường
tỉnh Hòa Bình.
Phân tích những nghi lễ truyền thống trong tang ma của người Mường
tỉnh Hòa Bình, từ đó rút ra những nét đặc trưng trong nghi lễ tang ma của
người Mường tỉnh Hòa Bình.
Làm rõ một số nét thay đổi trong nghi lễ tang ma của người Mường tỉnh
Hòa Bình hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Nghi lễ tang ma của người Mường tỉnh Hòa Bình
Phạm vi nghiên cứu:
Các huyện thuộc tỉnh Hòa Bình.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài của mình, tác giả đã sử dụng nhiều nguồn tư liệu khác
nhau như: tư liệu thành văn, tư liệu điền dã, tư liệu phỏng vấn...
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả sử dụng hệ thống phương pháp liên
ngành, các phương pháp nghiên cứu văn hóa, lịch sử, điền dã, xã hội học...
6. Đóng góp của đề tài
Khóa luận góp phần hiểu sâu hơn về tộc người Mường, bên cạnh đó còn

trí ở phía nam Bắc Bộ, giới hạn ở tọa độ 20°19' - 21°08' vĩ độ Bắc, 104°48' 105°40' kinh độ Đông, phía Đông giáp thành phố Hà Nội, phía Bắc giáp tỉnh
Phú Thọ, phía Tây giáp tỉnh Sơn La và Thanh Hóa, phía Đông Nam giáp tỉnh
Hà Nam, Ninh Bình, trung tâm hành chính cách thủ đô Hà Nội 76 km theo
đường quốc lộ 6, là khu vực đối trọng phía Tây của thủ đô Hà Nội, có vị trí
quan trọng trong chiến lược khu vực phòng thủ và cả nước [2; tr.1 ].
Hòa Bình hiện có 1 thành phố (thành phố Hòa Bình), 10 huyện (Lương
Sơn, Cao Phong, Đà Bắc, Kim Bôi, Kỳ Sơn, Lạc Sơn, Lạc Thủy, Mai Châu,
Tân Lạc, Yên Thủy), 11 thị trấn (Lương Sơn, Cao Phong, Đà Bắc, Bo, Kỳ
Sơn, Vụ Bản, Chi Nê, Mai Châu, Mường Khến, Hàng Trạm), 8 phường và
191 xã.
Hòa Bình có mạng lưới giao thông đường bộ và đường thủy tương đối
phát triển so với các tỉnh trong vùng, trong đó có các tuyến đường quốc lộ
quan trọng đi qua như: đường Hồ Chí Minh, Quốc lộ 6, trong tương lai là
đường cao tốc Hòa Bình- Hòa Lạc- Hà Nội… Mạng lưới giao thông phân bố
khá đều khắp, kết nối Hòa Bình với các tỉnh trong khu vực và các địa phương
trong tỉnh khá thuận lợi. Có nguồn điện lực lớn của Nhà máy thủy điện Hòa
Bình, hồ Hòa Bình có tác dụng quan trọng trong việc điều tiết nước cho hệ
thống sông Hồng.
1.1.2. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
Địa hình

6


Đặc điểm nội bật của địa hình tỉnh Hòa Bình là đồi, núi dốc theo hướng
Tây Bắc- Đông Nam, chia thành hai vùng rõ rệt:
Phía Tây Bắc (vùng cao): Bao gồm các dải núi lớn, bị chia cắt nhiều, độ
cao trung bình so với mực nước biển từ 500-600m, nơi cao nhất là đỉnh núi
Phu Canh (huyện Đà Bắc) cao 1.373m. Độ dốc trung bình từ 30-350m, có nơi
dốc trên 400m, địa hình hiểm trở, đi lại khó khăn [21].

thạch sét, diệp thạch; nhóm Feralit phát triển trên đá vôi và biến chất của đá vôi
[21].
Đất đai có độ màu mỡ cao thích hợp với nhiều loại cây trồng, với hàng
trăm ngàn ha gồm các lô đất liền khoảnh có thể sử dụng vào các mục đích
khác nhau nhất là trồng rừng, trồng cây công nghiệp để phát triển công nghiệp
chế biến nông- lâm sản và phát triển công nghiệp. Phần đất trống, đồi núi trọc
khó phát triển nông nghiệp và trồng rừng có diện tích khá thuận lợi cho việc
phát triển và mở rộng các khu công nghiệp.
Tài nguyên nước
Có mạng lưới sông, suối phân bố khắp trên tất cả các huyện, thành phố.
Nguồn cung cấp nước lớn nhất tỉnh Hòa Bình là sông Đà chảy qua các huyện:
Mai Châu, Đà Bắc, Tân Lạc, Kỳ Sơn và thành phố Hòa Bình với tổng chiều
dài 151km. Hồ Hòa Bình với diện tích mặt nước khoảng 8000 ha, dung tích
9,5 tỷ m3 ngoài nhiệm vụ cung cấp điện cho Nhà máy Thủy điện Hòa Bình
còn có nhiệm vụ chính là điều tiết và cung cấp nước cho Đồng bằng sông Hồng
[21].
Ngoài ra Hòa Bình còn có hai con sông lớn nữa là sông Bôi và sông
Bưởi cùng khoảng 1.800 ha ao hồ, đầm nằm rải rác trên địa bàn tỉnh. Đây
cũng là nơi trữ nước, điều tiết nước và nuôi trồng thùy sản tốt.
Bên cạnh đó còn có nguồn nước ngầm ở Hòa Bình cũng có trữ lượng khá
lớn, chủ yếu được khai thác để sử dụng trong sinh hoạt. Chất lượng nước
ngầm ở Hòa Bình được đánh giá là rất tốt không bị ô nhiễm. Đây là một tài
nguyên quan trọng cần được bảo vệ và khai thác hợp lý.
8


Tài nguyên rừng
Năm 2009 diện tích đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Hòa Bình là
251.315 ha, chiếm 54,7% diện tích tự nhiên, trong đó đất rừng tự nhiên
151.949 ha, đất rừng trồng 98.250 ha. Rừng Hòa Bình có nhiều loại gỗ, tre,

Kinh ở đồng bằng Sông Hồng, hay những cánh đồng thẳng cánh cò bay như ở
đồng bằng Sông Cửu Long, nhưng cư dân ở Hòa Bình vẫn cải tạo đất để có đủ
ruộng canh tác, đảm bảo nhu cầu lương thực cho cuộc sống hàng ngày.
Nông nghiệp
Ruộng nước chiếm vai trò quan trọng, là nguồn cung cấp lương thực
chính cho cuộc sống của cư dân Hòa Bình. Bằng kinh nghiệm tích lũy từ đời
này sang đời khác, cư dân ở Hòa Bình đã biết cách đào kênh mương, cung cấp
nước đầy đủ cho đồng ruộng. Ngày nay bên cạnh việc duy trì các hệ thống thủy
lợi truyền thống, thì Nhà nước đã có những biện pháp hỗ trợ, giúp đỡ để nâng
cấp các hệ thống thủy lợi, đê điều để đảm bảo cho cư dân sản xuất. Bên cạnh
cây lúa nước thì các loại cây hoa màu như: ngô, khoai, sắn… cũng chiếm vị trí
cực kỳ quan trọng trong cuộc sống của cư dân Hòa Bình, là nguồn lương thực
chính để phục vụ chăn nuôi gia súc, gia cầm trong mỗi gia đình.
Cùng với trồng trọt thì chăn nuôi cũng là nguồn cung cấp lương thực
hàng ngày, và đem lại hiệu quả kinh tế cao trong cuộc sống của cư dân Hoà
Bình. Xưa kia cư dân ở Hòa Bình chủ yếu dựa vào nguồn lương thực tự cung
tự cấp và sử dụng trâu, bò làm sức kéo nông nghiệp nên chủ yếu là nuôi các
con vật như: gà, vịt, lợn, trâu, bò… Ngày nay bên cạnh việc chăn nuôi cung
cấp lương thực cho cuộc sống hàng ngày, thì cư dân ở Hòa Bình cũng đã có
sự trao đổi kinh tế, buôn bán ra bên ngoài, họ đã biết mở rộng thêm các vât
nuôi như: dê, bò sữa, ong mật….
Các nghề thủ công truyền thống
Trước kia các nghề thủ công truyền ở Hòa Bình chỉ mang tính chất
hộ gia đình như các nghề: đan lát, thêu thùa, dệt vải, làm bông… chủ yếu là
tự cung, tự cấp và phục vụ cho các hộ gia đình lân cận. Sau này khi có sự
10


giao lưu buôn bán với bên ngoài thì các cư dân ở Hòa Bình đã biết làm ra
các mặt hàng có giá trị thẩm mỹ để bán như các loại vải thổ cẩm như của

trong tỉnh, sống xen kẽ với người Kinh và dân tộc khác.
Người Kinh sống ở khắp nơi trong tỉnh, nhưng người Kinh sống ở Hòa
Bình đầu tiên đã lên tới 4-5 đời, đa số di cư đến Hòa Bình vào những năm
1960 của thế kỷ trước thuộc phong trào khai hoang từ các tỉnh đồng bằng lân
cận như (Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Hà Tây..). Trong những năm gần
đây sự giao lưu kinh tế, văn hóa mở rộng nhiều người Kinh từ các tỉnh thành
đều tìm kiếm cơ hội làm ăn sinh sống ở Hòa Bình.
Người Thái tập trung chủ yếu ở huyện Mai Châu, tuy sống với người
Mường lâu đời và bị ảnh hưởng nhiều về phong tục, lối sống (đặc biệt là trang
phục ) nhưng vẫn giữ được nét văn hóa độc đáo. Đây là vốn quý để phát triển
du lịch, Bản Lác là một trong những điểm du lịch thu hút khách du lịch trong
và ngoài nước hàng đầu ở Hòa Bình.
Người Dao sống thành cộng đồng ở các huyện Đà Bắc, Lương Sơn, Kim
Bôi, Cao Phong…. Người H’Mông sống tập trung ở xã Hương Kia và Pà Co
của huyện Mai Châu. Trước đây hai dân tộc này sống du canh, du cư, nhưng
từ những năm 1970-1980 đã chuyển sang chế độ định canh, định cư và đạt
được những thành tựu đáng kể về phương diện kinh tế, xã hội.
Người Tày chủ yếu tập trung ở huyện Đà Bắc sống xen kẽ với người
Mường và người Dao, người Tày có tập quán và nhiều nét văn hóa giống với
người Thái (đặc biệt là ngôn ngữ). Tuy nhiên xét theo khía cạnh trạng phục
thì người Tày ở huyện Đà Bắc tỉnh Hòa Bình giống với người Thái Trắng
thuộc các huyện Phù Yên, Bắc Yên của Sơn La.
Với sự đa dạng về sắc tộc như vậy, đặc biệt là gần với đồng bằng Bắc
Bộ, cách thủ đô Hà Nội chỉ khoảng từ 80 đến 100km, kết hợp với các điều
kiện địa hình, phong cảnh của tỉnh Hòa Bình thì đây là tiềm năng lớn để phát
triển du lịch.

12




Người Thái hay ăn các món xôi nếp, hấp, nấu canh, các món ăn truyền
thống của họ như: Cơm lam, Nặm pịa, Lạp bò, Da trâu nấu canh bon, đuôi
trâu, bò ninh nhừ, thịt trâu sấy khô, măng đắng…
Người Tày hay ăn các món sôi ( hay còn gọi là đồ), nướng, cơm tẻ, các
món ăn truyền thống của họ như: Xôi nếp lẫn rau ngót rừng, xôi trứng kiến,
cá nướng, cá sấy, mắm cá và cá chúa, thịt lợn tái, thịt gà giò nấu canh gừng
nghệ, các loại bánh nếp (bánh Chưng, bánh Dày, bánh nếp với khoai tím...)
Người Dao cũng giống như các dân tộc anh em khác, họ cũng thường
đồ xôi để ăn trong các dịp lễ tết, các món ăn của họn thường là nấu, luộc, hầm
như: thịt lợn nấu canh măng, sương hầm với đu đủ hoặc măng rừng, thịt gà,
cá thì đem nướng….
Người Mông ăn rất đơn giản trong bữa ăn hàng ngày họ chủ yếu là ăn
cơm hoặc bột ngô chộn lẫn cơm với rau luộc hoặc nấu canh, ngô là cây lương
thực không thể thiếu trong cuộc sống của họ. Bên cạnh việc chộn bột ngô với
cơm, họ còn dùng ngô để nấu rượu uống hàng ngày, ngoài ra trong các dịp lễ
hội người Mông còn uống rượu Hoẵng.
Mặc: Mỗi dân tộc ở Hòa Bình đều có một trang phục riêng, mang sắc
thái văn hóa của dân tộc mình. Nhưng tựu chung lại đều có những điểm
chung như: trang phục của nưc giới thì có áo ngắn, áo dài, quần, váy, khăn
vấn đầu, đai lưng và trang sức; nam giới thì có quần áo, mũ, dải quấn lưng.
Tùy vào mỗi bộ trang phục của từng dân tộc mà có nhiều màu sắc khác
nhau, trong đó trang phục của dân tộc của phụ nữ Mông là có nhiều màu
sắc rực rỡ nhất.
Đi lại: Do địa hình ở Hòa Bình chủ yếu là đồi núi nên việc đi lại chủ
yếu là đi bộ, xe ngựa và dùng sức kéo của động vật, một số nơi gần sông suối
thì di chuyển thêm bằng thuyền, bè.

14



Lễ tết: Bên cạnh các lễ hội truyền thống chung của cả nước, thì các dân
tộc ở Hòa Bình lại tổ chức cho mình những lễ hội riêng như: lễ cầu mùa, cầu
mưa của dân tộc Mường, lễ cấp sắc của dân tộc Dao, lễ xuống đồng của dân
tộc Tày…
Với địa hình, khí hậu, dân số và kết cấu dân cư như vậy đã tạo nên sự
phong phú, đa dạng của tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái và văn
hóa nơi đây đã ảnh hưởng đến đời sống cư dân Mường ở Hòa Bình.
1.2. Vài nét về người Mường tỉnh Hòa Bình
Trong 53 dân tộc thiểu số ở Việt Nam người Mường đứng thứ ba về
dân số, sau người Tày và người Thái. Trước đây tên tự gọi của người Mường
là Mol, Mual, Mon, Moan, Mó… có nghĩa là người. Nay tên gọi Mường là
tên gọi chính thức của dân tộc Mường ở nước ta, được nhà nước công nhận và
sử dụng trong các văn bản pháp quy.
Hiện nay ở Hòa Bình, người Mường vẫn là dân tộc có số dân đông
nhất. Theo kết quả Tổng điều tra dân số ngày 1/4/1999, người Mường có
479.197 người, chiếm 63,36% tổng dân số toàn tỉnh và chiếm 36,9% tổng dân
số người Mường trong cả nước[21].
Người Mường ở Hòa Bình cư trú ở một vùng đồi khá rộng lớn, là khu
vực có địa hình núi đá vôi thấp xen kẽ với những khối đá phiến, giữa những
dãy núi có mặt bằng thung lũng rộng lớn, những đồi lượn sóng thấp. Khí hậu
nơi đây mang tính chất nóng ẩm của miền Trung.
Hoạt động kinh tế truyền thống:
Trong hoạt động kinh tế, từ bao đời nay người Mường sống chủ yếu
dựa vào sản xuất nông nghiệp, khai thác ruộng nương để trồng trọt và chăn
nuôi. Sống ở khu vực miền núi, họ đã biết khai thác tự nhiên để có đất canh
tác, tận dụng các thung lũng để làm ruộng. Với kinh nghiệm làm nông ngiệp
lâu đời họ đã biết dựa vào những nguồn nước ven sông, suối dẫn nước tự tạo
chạy ngang, dọc khắp các cánh đồng phục vụ cho việc trồng lúa nước. Các
16



Váy (Wẳl) dài đến mắt cá chân gồm hai phần chính là thân váy và cạp váy,
cạp váy nổi tiếng với các loại hoa văn được dệt kì công.1
Trang sức thường ngày gồm vòng tay, chuỗi hạt và bộ xà tích 2 hoặc 4
dây bạc có treo hộp quả đào và móng vuốt hổ, gấu bịt bạc.
Áo mặc thường ngày có tên là áo pắn (áo ngắn), đây là loại áo cánh, xẻ
ngực, thân ngắn hơn so với áo người Kinh, ống tay dài, áo màu nâu hoặc
trắng (về sau có thêm màu không phải loại vải cổ truyền). Bên trong là Áo
báng (yếm), cùng với đầu váy nổi lên giữa trung tâm cơ thể. Đây là một cách
trang trí và thể hiện ít gặp ở các dân tộc khác trong nhóm ngôn ngữ và khu
vực láng giềng. Trong dịp lễ Tết họ mặc chiếc áo dài xẻ ngực thường không
cài khoác ngoài bộ trang phục thường nhật vừa mang tính trang trọng, vừa
phô được hoa văn cạp váy kín đáo bên trong. Nhóm mặc áo cánh ngắn xẻ
ngực thường mang theo chiếc yếm bên trong, về cơ bản giống yếm của phụ
nữ dân tộc Kinh nhưng ngắn hơn.
Nơi ở: Người Mường sống tập trung thành làng, xóm ở chân núi, ở bên
sườn đồi, nơi đất thoải gần sông suối… Ở hầu khắp các huyện của tỉnh Hòa
Bình. Mỗi làng có vài chục nóc nhà, khuôn viên của mỗi gia đình thường nổi
bật lên những hàng cau, cây mít.
Nhà ở truyền thống: Người Mường sống trong những ngôi nhà sàn
truyền thống. Nhà của người Mường là kiểu kiến trúc cổ truyền, việc dựng
nhà của người Mường là kết quả của một quá trình dài đúc kết kinh nghiệm
cư trú.
Ẩm thực: Người Mường xưa nay vẫn tự hào về ẩm thực của họ, được thể
hiện trong những câu thành ngữ khá nổi tiếng “củ mài, rau sắng, măng đắng,
mật ong” hoặc “cơm đồ, nhà gác, nước vác, lợn thui”. Họ thích ăn các món
như xôi đồ, cơm tẻ đồ, rau, cá nướng. Nguyên liệu dùng để chế biến các món
ăn hàng ngày của người Mường chủ yếu là do họ tự trồng trọt, chăn nuôi,
1

trai trưởng được coi trọng, con trai trong gia đình được thừa kế tài sản.
Lễ hội: Người Mường có nhiều lễ hội trong năm như: hội xuống đồng,
hội cầu mưa, lễ cơm mới… Ngoài ra trong mỗi gia đình người Mường khi có
các công việc quan trọng đều mời thầy cúng hay người Mường còn gọi là thầy
19


Mo (bố Mo) về cúng như lễ đầy tháng của đứa trẻ, khi gia đình có người ốm
đau, bệnh tật, cưới xin, ma chay…..
Văn nghệ dân gian: kho tàng văn nghệ dân gian của người Mường rất
phong phú, có các thể loại thơ dài, bài mo, truyện cổ, ví đúm, tục ngữ, ca dao,
người Mường còn có hát ru em, đồng dao, hát đập hoa, hát đối, hát trẻ con
chơi. Đặc biệt ở người Mường phải kể đến lễ ca, đó là các áng mo, bài khấn
do thầy mo đọc và hát trong đám tang. Cồng chiêng là nhạc cụ đặc sắc của
người Mường, ngoài ra còn có sáo, nhị, trống, khèn lù….
Lịch: Lịch cổ truyền của người Mường là sách đọi làm bằng 12 thẻ tre
tương ứng với 12 tháng, trên mỗi thẻ tre có khắc kí hiệu khác nhau để biết
tính toán, xem ngày giờ tốt xấu cho khởi sự công việc.
Tổ chức cộng đồng: Xưa kia, tổ chức cộng đồng đặc thù của người
Mường là chế độ Lang đạo (Đinh, Quách, Bạch, Hà) chia nhau ra cai quản
vùng. Đứng đầu mỗi Mường có các lang cun, dưới lang cun có các lang xóm,
hoặc đạo xóm, cai quản một xóm.
Tôn giáo tín ngưỡng: Người Mường ở Hòa Bình thờ đa thần (tổ tiên,
thành hoàng, thần đất, thần núi,...). Cũng như một số tộc người thiểu số khác
ở Việt Nam, người Mường ở Hòa Bình cho rằng muôn vật trên thế gian đều
có linh hồn cả. Phật giáo và các tôn giáo khác ảnh hưởng đến nơi đây không
đáng kể. Chính vì quan niệm tín ngưỡng như trên mà họ cầu cúng tất cả các
loại thần thánh, ma quỷ một khi cảm thấy cần thiết.
Tục thờ cúng tổ tiên: tục thờ cúng tổ tiên bắt nguồn từ tiềm thức tâm linh
cho rằng chết là về với tổ tiên nơi chín suối, tin rằng ở chín suối ông bà, tổ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status