Tìm hiểu chế độ lang đạo của người mường tỉnh hòa bình - Pdf 38

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

TRẦN THỊ VIỆT TRINH

TÌM HIỂU CHẾ ĐỘ LANG ĐẠO CỦA NGƯỜI MƯỜNG
TỈNH HÒA BÌNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

SƠN LA, NĂM 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

TRẦN THỊ VIỆT TRINH

TÌM HIỂU CHẾ ĐỘ LANG ĐẠO CỦA NGƯỜI MƯỜNG
TỈNH HÒA BÌNH

Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: ThS. Dương Hà Hiếu

SƠN LA, NĂM 2016


Lời cảm ơn
Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành ThS. Dương

1.2.1. Quá trình lịch sử .......................................................................................... 8
CHƯƠNG 2: CHẾ ĐỘ LANG ĐẠO CỦA NGƯỜI MƯỜNG Ở HÒA BÌNH .. 11
2.1. Quá trình hình thành chế độ Lang Đạo ở Hòa Bình ................................................ 11
2.1.1. Cơ sở hình thành chế độ Lang đạo ............................................................ 11
2.1.2. Tên gọi....................................................................................................... 13
2.1.3. Nguồn gốc của chế độ Nhà Lang .............................................................. 14
2.1.4. Luật lệ nhà Lang ........................................................................................ 16
2.2. Đặc trưng của chế độ Lang Đạo ................................................................... 20
2.2.1. Tổ chức bộ máy cai trị của Lang Đạo ....................................................... 20
2.2.2. Người bình dân và người bị trị trên đất Mường Hòa Bình ....................... 26
2.3. Chế độ ruộng đất ở Mường Hòa Bình dưới chế độ Lang Đạo ..................... 28
CHƯƠNG 3: TÁC ĐỘNG CỦA CHẾ ĐỘ LANG ĐẠO TỚI XÃ HỘI CỦA
NGƯỜI MƯỜNG TRƯỚC NĂM 1945 .......................................................... 32
3.1. Kinh tế .......................................................................................................... 32
3.2. Văn hóa......................................................................................................... 34
3.3. Chính trị - xã hội .......................................................................................... 35
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 39


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Người Mường có cùng nguồn gốc với người Việt cổ, có chung một nền văn
hóa rộng lớn, trải dài suốt bao thế kỷ. Thấm đậm dòng máu con Lạc cháu Hồng,
thế hệ sau tiếp nối thế hệ trước vươn lên chiến thắng thiên nhiên và họ vẫn giữ
được những nét văn hóa đặc trưng của dân tộc mình. Trải qua quá trình tồn tại
và phát triển lâu đời người Mường đã sớm hình thành một tổ chức xã hội cổ
truyền khá điển hình mà cư dân thời bấy giờ vẫn hay truyền miệng nhau với tên
gọi: Chế độ Lang Đạo hay chế độ Nhà Lang.
Chế độ Lang Đạo về bản chất rất là chế độ người bóc lột người được

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề chế độ Lang Đạo của người Mường là vấn đề khoa học đã được đề
cập đến trong nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu, trong đó có thể kể đến
một số công trình quan trọng sau:
Trong cuốn Người Mường với văn hóa cổ truyền Mường Bi (1988) là một
công trình tập thể do nhiều tác giả cùng viết, tác phẩm đã khái quát về các lĩnh
vực văn hóa tiêu biểu của văn hóa cổ truyền Mường Bi trước Cách mạng Tháng
Tám, giúp ta có thêm những tư liệu về vùng đất cổ xưa này, tiêu biểu là chế độ
ruộng đất nhà Lang.[3]
Tác giả Jeanne Cuisinier trong tác phẩm nổi tiếng “Người Mường địa lý
nhân văn và xã hội” (1995) - một công trình nghiên cứu về người Mường - đã
dùng thuật ngữ “thổ lang” để chỉ tầng lớp thống trị trong xã hội Mường cổ
truyền trong đó tác giả chỉ rõ: “Đối với thổ lang, quyền trưởng bảo đảm cho
người con trai cả chức thổ lang và quyền sở hữu ngôi nhà của người cha”.[6]
Trong Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 2 (2005), Bàn lại chế độ cai trị
trong xã hội Mường cổ truyền “ Lang đạo hay Nhà lang” của tác giả Dương
Hà Hiếu có đề cập đến vấn đề vị trí và quyền lợi của Nhà lang trong xã hội
Mường cổ truyền.
Cũng trong năm 2005 trong tác phẩm Địa Chí Hòa Bình, Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội có đề cập đến tổ chức xã hội của người Mường cổ truyền,
thiết chế xã hội Mường tiêu biểu là chế độ Lang Đạo hay còn được gọi với tên
gọi khác là Lang tạo. Tác phẩm này cũng đã phần nào làm rõ được những luật

2


lệ, nguồn gốc hình thành của chế độ nhà Lang nhưng nó được khai thác theo
những chiều hướng khác nhau theo hướng nghiên cứu của tác giả.[5]
Trong cuốn Tản mạn Văn hóa Mường Hòa Bình (2011), do tác giả Nguyễn
Hải viết đã tập hợp những bài báo, những đoạn văn nói về đời sống xã hội người

Thứ nhất, làm rõ quá trình hình thành, phát triển của chế độ Lang Đạo.
Chỉ ra những đặc trưng tiêu biểu của chế độ này. Từ đó làm rõ những tác động
của chế độ Lang Đạo tới xã hội Mường trước Cách mạng tháng Tám 1945.
Thứ hai, góp phần làm sáng tỏ thiết chế xã hội của người Mường - một
trong những thiết chế cổ truyền của người Việt cổ.
Thứ ba, góp phần làm phong phú thêm lý luận về các mô hình chính trị
trong xã hội Việt Nam thời cổ - trung đại.
Thứ tư, giáo dục cho các thế hệ sau về những nét bản sắc văn hóa của
người Mường
Thứ năm, kết quả nghiên cứu sẽ trở thành nguồn tư liệu để giảng dạy, học
tập trong các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp, các trường
Phổ thông.
Thứ sáu, bổ sung nguồn tài liệu cho việc nghiên cứu làm đề tài, khóa luận.
4. Cơ sở tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở tư liệu
- Những văn kiện của Đảng và nhà nước, những bài viết của các nhà
lãnh đạo.
- Những công trình nghiên cứu của các nhà sử học, dân tộc học về văn hóa
Việt Nam và văn hóa người Mường nói riêng.
- Những tư liệu thống kê, những tài liệu liên quan đến đề tài tại thư viện
tỉnh Hòa Bình.
- Những tạp chí dân tộc học, văn hóa - thông tin cơ sở, tư liệu viết tay của
những người nghiên cứu đi trước.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu đề tài này tôi sử dụng một số phương pháp nghiên
cứu đặc trưng của bộ môn khoa học lịch sử như: phương pháp điều tra điền dã,
phương pháp miêu tả, phương pháp logic, phương pháp thống kê, so sánh,
phỏng vấn…

4

này chủ yếu là rừng ký sinh và đồi cọ với độ cao trung bình 100m gồm các
huyện Kỳ Sơn, Lương Sơn, Lạc Thủy.
Địa hình trong tỉnh Hòa Bình chủ yếu là rừng xen kẽ giữa các sườn núi bị
chia cắt bởi nhiều thung lũng và hàng trăm con sông, suối lớn nhỏ. Có nhiều
thung lũng trải rộng kéo dài thành những cánh đồng tương đối bằng phẳng, phì
nhiêu và các triền bãi ven sông mộng mơ.
Với những điều kiện địa hình và vị trí địa lý đó nên khí hậu của vùng này
mang yếu tố nhiệt đới gió mùa. Một năm chia làm hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ
tháng 11 đến tháng 4. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 24 0 c lượng mưa trung
bình hàng năm 1900mm, với tháng mưa nhiều nhất là tháng 7 và tháng 8 và ít
nhất là tháng 11 và 12. Chính do địa hình chia cắt mạnh, độ chênh lệch cao và
kéo dài nên tạo ra nhiều kiểu vùng khí hậu khác nhau.
6


Tài nguyên nước ở Hòa Bình cũng rất phong phú đặc biệt là ở hệ thống
sông suối nổi tiếng với con sông Đà và sông Bôi. Chính từ hệ thống sông nước
này đã tạo cho Hòa Bình có những dạng cảnh quan đặc biệt. Đập thủy điện Hòa
Bình với vùng hồ Hoà Bình. Nước khoáng Kim Bôi là nguồn tài nguyên thiên
nhiên đã ban tặng cho Hòa Bình.
Tất cả các yếu tố trên đã hòa quyện để tạo nên một Hòa Bình với cảnh quan
quyến rũ tuyệt đẹp, có núi, có sông, có đồng bằng, có thung lũng. Có nắng có
mưa, có nóng có lạnh. Đây là điều kiện vô cùng quan trọng để giúp Hòa Bình
trở thành một trung tâm văn hóa lớn của Việt Nam. Và cũng chính từ đặc điểm
điều kiện như trên nên vùng đất này là nơi thích hợp với cuộc sống của các đồng
bào dân tộc ít người. Với 7 dân tộc anh em sinh sống, con người và núi rừng đã
tạo nên những bản sắc Văn hóa đặc sắc độc đáo riêng, tiêu biểu là nền Văn hóa
Hòa Bình mà chủ nhân không phải ai khác chính là dân tộc Mường, cư dân chủ
yếu của tỉnh.
1.1.2. Dân cư

không thể ở được thì rừng núi đất đai Hòa Bình thời tiền sử đã sáng tạo ra một
nền Văn Hóa nổi tiếng mà sau này khi tiến hành khai quật ở 72 điểm trên đất
Hòa Bình bà Cô-la-ni đã đặt tên là “ Nền Văn hóa Hòa Bình”.
Văn hóa Hòa Bình là thuật ngữ gọi chung cho một nền văn hóa nông
nghiệp cổ đại, nằm ở nhiều nước châu Á, như Trung Quốc, đảo Su-ma-tra
(Inđônêxia) Mianma, philippin… Địa danh Hòa Bình của người Mường gắn với
một tầng văn hóa được biết đến một cách rộng rãi trong giới sử học, khảo cổ học
nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, một phần là nhờ vào sự khai quật
khảo cổ do nhà khoa học Cô-la-ni tiến hành sớm ở Hòa Bình. Khoa học khảo cổ
học đã chứng minh rằng người Việt và người Mường có chung một nguồn gốc là
người Việt cổ. Những cuộc khai quật khảo cổ đã tìm thấy dấu vết cư trú sinh
sống của người nguyên thủy thuộc thời đại đồ đá giữa và sau thời đại đồ đá mới
để lại trong lòng hang. Những công cụ bằng đá ghè đẽo thô sơ, những mảnh vỏ
ốc và mảnh xương là di tích của thức ăn. Những vùng than tro và đất cháy là nơi
đốt lửa nấu thức ăn và sưởi ấm, một số ít mảnh gốm thô sơ là di tích của những
đồ đựng và đun nấu. Bốn vùng nổi tiếng nhất của Hòa Bình: “nhất Bi, nhì Vang,
tam Thàng, tứ Động” chính là 4 vùng mà cách đây hàng vạn năm cũng là nơi tập
trung những cư dân nguyên thủy. Truyền thống của Hòa Bình một địa bàn có
8


dân cư từ rất sớm đã bắt nguồn từ thời gian xa xưa ấy. Hòa Bình là trung tâm
của người Mường trong cả nước, theo các tư liệu thì người Mường và người
Việt có chung một nguồn gốc.
Theo nhà ngôn ngữ học Mát-xpe-nô-vô Ô-dơ-ri-cua, thì tiếng Mường và
tiếng việt xưa kia chỉ là một. Về mặt từ, về mặt ngữ pháp, ngữ âm, tiếng Mường
và tiếng việt là giống nhau. Về nhân chủng học người Mường và người Việt là
đồng nhất.
Trên cơ sở nghiên cứu, những tài liệu khoa học đã khẳng định người
Mường và người Việt là hai chi của một họ, hay nói cách khác, người Mường là

Bắc thuộc, đời sống vật chất và đời sống tinh thần của người Việt ở đồng bằng
và người Việt ở miền núi chưa có gì khác biệt.
Ở thời điểm đó miền núi có tầng lớp quan Lang thì ở đồng bằng cũng có
tầng lớp quan Lang. Sang thế kỷ VIII sự phân hóa giữa người Việt ở đồng bằng
và người Việt ở miền núi càng trở nên rõ rệt, lúc này đồng bằng không còn quan
Lang, nếu còn thì chỉ ở vùng tiếp giáp với miền núi. Đến thế kỷ thứ X khi dân
tộc Việt Nam giành độc lập và đến thế kỷ thứ XI khi thành Thăng Long xuất
hiện thì sự phân chia thành dân tộc Mường và dân tộc Việt (Kinh) rất rõ nét.
Ở Hòa Bình người Mường sống tập trung ở các thung lũng và các vùng có
nhiều đồng ruộng. Bốn cánh đồng trù phú của Hòa Bình là Mường Bi (Tân Lạc),
Mường Vang (Lạc Sơn), Mường Thàng (Kỳ Sơn) và Mường Động (Kim Bôi).
Mặc dù có chung nguồn gốc cùng người Việt song do quá trình phân hóa
lâu đời nên đã hình thành nên ở người Mường nền văn hóa đặc sắc cùng truyền
thống bền vững của mình tạo nên sự khác biệt riêng đáng tự hào.

10


CHƯƠNG 2
CHẾ ĐỘ LANG ĐẠO CỦA NGƯỜI MƯỜNG Ở HÒA BÌNH
2.1. Quá trình hình thành chế độ Lang Đạo ở Hòa Bình
2.1.1. Cơ sở hình thành chế độ Lang đạo
2.1.1.1. Cơ sở về kinh tế
Việt Nam là một quốc gia nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa Châu Á
nên nước ta không bị sa mạc và bán sa mạc bao phủ như các nước cùng vĩ độ ở
Tây á, Đông Phi. Mà khí hậu Việt Nam lại rất ẩm ướt, giàu ánh sáng và nhiệt độ.
Với điều kiện khí hậu thuận lợi như vậy cho phép nước ta phát triển một
nền kinh tế nông nghiệp nhiệt đới đa canh với cơ cấu cây trồng, vật nuôi đa
dạng, có thể phát triển quanh năm, đặc biệt là cây lương thực thực phẩm và cây
công nghiệp.

những người đàn ông. Sắn bắn được coi là sự thể hiện sức mạnh tinh thần
thượng võ, sự đoàn kết cũng như tài năng, trí tuệ của từng người và cả cộng
đồng săn bắn cũng chính là hình thức làm kinh tế kiếm tìm thức ăn trong những
lúc nhàn rỗi của cư dân trong bản Mường.
Tóm lại, về mặt kinh tế dưới chế độ cũ cuộc sống của người Mường rất khó
khăn thiếu thốn. Nhưng từ khi cách mạng thành công dưới sự lãnh đạo của Đảng
cùng với sự cần cù chịu khó sáng tạo của người dân nền kinh tế của người
Mường đã phát triển. Cuộc sống bớt cơ cực số hộ giàu tăng lên số hộ nghèo
giảm thiểu. Đời sống được nâng cao cả về vật chất lẫn tinh thần, nhân dân các
bản Mường đời sống ngày càng được cải thiện nâng cao. Ngoài công việc chính
là sản xuất nông nghiệp người dân bản Mường còn tham gia làm du lịch dưới
các hình thức dịch vụ, lưu trú, phục vụ ăn uống, bán quà lưu niệm, sản xuất quà
lưu niệm hay làm hướng dẫn viên cho khách du lịch. Đây là loại hình kinh tế
mới và mang lại lợi ích kinh tế rất lớn cho bản Mường.
2.1.1.2. Cơ sở văn hóa- xã hội
Nhìn chung mỗi một dân tộc đều có những cơ cấu và tổ chức xã hội riêng
cho dân tộc mình. Tuy nhiên hệ thống tổ chức chính quyền của dân tộc lại có sự
khác biệt.
Tổ chức xã hội cổ truyền của người Mường nắm chính quyền ngay trong
tên gọi của dân tộc Mường. Mường được hình thành bởi nhiều xóm làng mỗi
12


một làng có một địa vực, một phạm vi đất đai, nương rẫy, núi rừng riêng và
quan hệ trong làng bản chủ yếu là mối quan hệ địa vực, láng giềng lấy đơn vị
nhà (gia đình) làn nền tảng. Trước cách mạng tháng Tám xã hội Mường cổ
truyền được đặt dưới sự cai quản của dân trong vùng. Còn các thổ lang giữ địa
vị thống trị nắm quyền quản lý và phân phối ruộng đất trong Mường, trong xóm.
Thổ lang có một số người giúp việc gọi là Ậu hay Cai để điều hành các công
việc trong làng xóm. Dưới quyền của Thổ lang có tới hàng chục ậu khác nhau

Phụ đạo - cũng là hình thức của chế độ Tù trưởng thế tập - cha truyền con
nối, quy phục triều đình, được triều đình công nhận. Nếu phụ đạo đó có công, có
thể được triều đình phong thưởng chức tước. Phụ đạo thi hành chế độ tự quản tự
trị trong địa hạt (mường) mình quản lý. Ngoài ra hàng năm phụ đạo phải cống
nạp phu thuế, sản vật địa phương cho triều đình trung ương.
Thổ tù - một cách gọi khác cũng tương tự như phụ đạo.
Quan lang - Lang đạo nhận chức quan của nhà nước phong kiến.
Nhà lang - chỉ gia đình của Nhà lang.
Những năm đầu của thế kỷ XX các học giả thực dân trong đó có bà Jeanne
Cuisiner khi nghiên cứu địa lý nhân văn và xã hội học “người Mường” cũng gọi
tổ chức xã hội cổ truyền của người Mường là “Thổ lang”.
Trong công trình: Góp phần tìm hiểu tỉnh Hòa Bình - Bùi Văn Kín và nhóm
tác giả cũng gọi tổ chức xã hội Mường cổ truyền là chế độ Nhà lang. Song sự
phân tích chế độ đó chưa được sâu sắc.
Trong thực tế có thể còn những cách gọi khác chỉ tổ chức xã hội cổ truyền
Mường. Nhưng nhìn chung những cách gọi trên: Tù trưởng, Thổ tú, Phụ đạo,
Quan lang, Lang đạo, Thổ Lang, Thổ đạo, Thứ lang, Nhà lang, tuy cách gọi khác
nhau song đều phản ánh một đặc điểm chung của xã hội Mường.
Với những kết quả phân tích lột tả xác thực, vừa bao quát tổ chức xã hội
Mường truyền thống trước khi thực dân Pháp áp đặt lên vùng Mường Hòa Bình
ách thống trị mới, chế độ Nhà Lang có khởi nguồn sâu xa từ trong lịch sử xã hội
của tộc Mường cổ ở Hoà Bình. Cư dân Hòa Bình cũng được coi là những người
Việt cổ trong thời đại văn hóa Hòa Bình.
2.1.3. Nguồn gốc của chế độ Nhà Lang
Qua truyền thuyết và lịch sử, đặc biệt với thành tựu khảo cổ học, cho phép
14


khẳng định vào thời tiền sử trong các hang động ở Hòa Bình đã có con người cư
trú. Họ là chủ nhân sáng tạo ra nền văn hóa Hòa Bình, theo đà tiến triển của lịch


2.1.4. Luật lệ nhà Lang
Trong lịch sử mỗi Mường trước kia đều do một chúa đất- Lang cun thống
trị. Muốn cai quản được dân trong Mường, bắt họ khuất phục, tự nguyện thực
hiện nghĩa vụ đối với Nhà lang như làm xâu, làm nõ trên ruộng Lang, hoặc đi
phiên làm nô bộc phục vụ cống nạp lễ vật trong các lễ tiết hiếu hỷ và trong
cuộc sống ngày thường… không thể không có luật lệ. Luật mường do Nhà lang
đặt ra,dân trong Mường phải thi hành. Luật lệ ban đầu có thể bắt nguồn từ tập
quán của xã hội Mường cổ truyền. Dần dần do ảnh hưởng giáo hóa của triều
đình, đặt biệt từ thời Hồng Đức (1470-1497) trở đi và do sự phân hóa ngày
càng sâu sắc giữa đẳng cấp Nhà lang thống trị và dân bị trị trong Mường khiến
tập quán pháp bất thành văn (xâu, nõ…) được nâng lên thành luật lệ. Những
bản luật lệ Mường đầu tiên có thể do những trí thức Mường biên soạn dưới
hình thức văn bản Hán Nôm.
Trong bốn Mường lớn: Bi, Vang, Tháng, Động hay ở Mai Châu trước kia đều
có luật lệ riêng (đương nhiên luật lệ đó không phương hại đến luật pháp Nhà Nước).
Nhưng chúng hầu hết đã bị thất lạc, chỉ còn nghe nói đến tục lệ xưa ở
Mường, hoặc một vài ước thúc giữa Nhà lang và dân ở trong Mường ghi trên
giấy cũ.
Theo cố giáo sư Đào Duy Anh: “Tại Hòa Bình một đôi nơi, nhà Đạo (Lang
đạo) có quyền sở dụng đối với con gái nhà dân (tối đầu tiên khi ra lấy chồng,
người con gái nhà dân phải đến hầu họ nhà Đạo).
Đối lại với những nghĩa vụ của dân chúng thì các Lang đạo cũng có một ít
ước thúc như sau:
1. Khi nhà Đạo có lễ hiếu hỷ trong dịp lễ yết, lễ cơm cá cùng các lễ khác,
hoặc những dịp làm nhà, cày ruộng, dân chúng đến phục dịch thì nhà Đạo phải
làm thịt trâu bò hoặc lợn để dọn ăn đầy đủ, nếu thiếu lễ thì dân chúng có quyền
chỉ trích.
2. Con trai trưởng và con gái trưởng của nhà Đạo, bắt buộc phải do dân
chúng trong biệt ấp làm lễ cưới. Nếu không do dân chúng làm lễ cưới thì họ

việc gì có mổ trâu, bò, dê, lợn thì phải để ra nộp phần biếu cho Đại thủ quan một
miếng vai liền xương bả (3 xương) và chân giò, lại một mâm cỗ đồ chín và
phẩm vật bày trên chiếu ngồi.

17


Lệ 5 - các nhà nhân dân ở các khuê hễ có việc tang lớn, cầu đảo, tế lễ mổ
trâu, bò, dê, lợn phải kính biếu Đại thủ quan một miếng vai liền xương bả và
chân giò với một mâm cỗ đồ ăn chín cùng các phẩm vật.
Lệ 6 - Đại thủ quan có việc làm nhà ở thì nhân dân các khuê phải tạm xuất
mọi người ra làm các việc: Đắn gỗ, tre, nữa, cắt cỏ gianh để dùng đủ việc làm
nhà xong rồi lại làm rào gỗ, phên thưa, nghi môn kín, khi việc làm nhà hoàn
thành, các khuê phải chịu lần lượt phục dịch canh giữ, mỗi phiên 2 người, cả
ngày và đêm, ai thiếu thì phạt.
Lệ 7 - Hệ đại thủ quan khi có ngày giỗ chạp thì nhân dân các khuê phải dự
bị trước ngày, hết thảy mọi người phải đi săn, đánh cá, ai còn thiếu thì phạt về
tội bất kính. Về phần phụ đạo các khuê mỗi Đạo phải lợn 1 con, rượu 1 chum và
phải tề tựu đến lễ bái, ai còn thiếu thì phạt về tội bất kính và tước đoạt mất dân.
Lệ 8 - Đại thủ quan mỗi năm thu lợn, gà của nhân dân trong bản xã, mỗi nhà
phải nộp lợn 1 con, gà 2 con, nếu không có gà thì thế một đôi vịt và phải nộp lá dâu
nuôi tằm. Mỗi nhà nộp 1 bồ cao 1 thước 5 tấc, khoát (rộng) 1 thước 3 tấc.
Lệ 9 - Nhân dân các khuê bản xã, mỗi nhà mỗi năm phải nộp bông 5 cân, tơ
sống 5 nén, gai 1 nén, quả thầu dầu 15 bát, rượu hàng 2 vò.
Lệ 10 - Đại thủ quan có việc tang lớn báo hiếu, nhan dân các khuê bản xã,
mỗi nhà phải nộp trâu 1 con, lụa 10 thước, vải trắng 20 thước, rượu 1 chum để
tiếp đãi các bậc tân khách… Nhà nào cũng phải cắt tóc để tang y như tang bố mẹ
đẻ và xây nhà mồ, mộ đá, chung quanh rào gỗ, đầy đủ các hạng.
Lệ 11 - Nhân dân các khuê ai có phạm điều gì phải tạ lễ. Nếu bỏ thiếu thì
bắt người ấy làm nô tỳ, hoặc nhà ấy không có con trai thì cho thay thế bằng trâu

gồm: 1 con lợn, 1 con gà, lá dâu, bông, tơ sống và nhiều thứ khác.
Những luật lệ trên nếu phụ đạo vi phạm đều bị tước mất phần ruộng đạo
(ruộng được chia) hoặc phần quản dân gián tiếp ở trong làng ngoài Mường.
Đối với dân ai vi phạm luật lệ lang, bị phạt rất nặng: có thể bị bắt làm nô tỳ,
hoặc nộp thế tội bằng một con trâu, nếu không có trâu thì bắt con gái làm nô tỳ,
không có con gái thì tịch thu toàn bộ nhà cửa ruộng nương.
Đối với Lang đạo luật lệ quy định: con trai trưởng, con gái trưởng của Lang
đạo bắt buộc phải do dân trong làng (ấp) làm lễ cưới, nếu con cái nhà Lang đạo

19


không tuân theo lệ đó thì hôn nhân không được dân làng thừa nhận. Đương
nhiên việc đóng góp cho hôn lễ lại đổ vào các gia đình trong làng.
Trong những dịp nhà Lang đạo có lễ hiếu hỷ, dựng nhà, cày ruộng nõ, dân
trong làng đến phục dịch, Đạo phải có trách nhiệm làm thịt trâu, bò hoặc lợn lo
cho bữa ăn của dân được đầy đủ, nếu thiếu thì cũng bị khiển trách. Con gái nhà
Đạo hoang thai thì dân có quyền bắt vạ nặng…
Cũng cần nhắc lại rằng nghĩa vụ của dân đối với Nhà lang quá nặng nề: làm
ruộng xâu, ruộng nõ không công, đi phiên phục dịch Nhà lang đủ mọi thứ việc
như dựng nhà, hiếu hỷ, giỗ chạp, các lễ tiết cầu cúng… Ngoài ra hàng năm dân
Mường phải đóng góp - cống nạp nhiều lễ vật khác nhau để Nhà lang tiêu sài.
Chưa tính đến phạt vạ vô cớ mà Nhà lang xử lý tùy tiện theo ý thích, khiến dân
làng vốn đã nghèo túng trở nên sạt nghiệp, hoặc bị biến thành tôi tớ. Điều đáng
sợ đối với người dân là luật lệ Nhà lang truyền đời.
Như vậy luật lệ Mường - luật lệ Lang thể hiện khá điển hình sự thống trị, áp
bức của đẳng cấp Nhà lang đối với người dân Mường. Thân phận những người
nông dân gần như nông nô, sống lệ thuộc chặt chẽ vào Nhà lang. Đời này qua
đời khác họ chưa thoát ra được. Mặc dù sống trong chế độ Nhà Lang bất công
nhưng sự phản kháng của nhân dân Mưởng xảy ra lẻ tẻ tự phát, như nhiều người

phong các tước vương cho họ.
Dưới thời Trần họ cũng được ban ân như thời trước và giữ các đặc quyền
quan Lang được quyền thế tập cha truyền con nối, phong các tước vương quyền.
Vua Thánh Tông còn sai đúc nhiều trống đồng để phân phát cho Thổ Lang. Đầu
thế kỷ XX , các kỷ vật quý giá ấy vẫn được các Lang lớn giữ gìn cẩn thận.
Vào thế kỷ XV, Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa chống lại quân Minh các quan
Lang ủng hộ rất tích cực. Khi lên ngôi, Lê Thái Tổ ban thưởng rất hậu cho các
Thổ Lang và các phụ đạo Mường đã cộng tác với mình.
Dưới thời Lê Trịnh (Thế Kỷ XVI - XVIII) hiệu quan Lang cùng những luật
lệ của nó cũng không thay đổi. Khi Tự Đức lên ngôi cũng ban phát những đặc
quyền, đặc ân cho các Thổ Lang như đời trước.
Do có lịch sử lâu đời như vậy, nên trong một làng Mường bộ máy cai trị
của Lang đạo được tổ chức như sau.
- Viên quan Lang là người đứng đầu.
- Các ậu giúp việc cho Lang.
- Dân trong Mường.
21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status