TÌM HIỂU MỘT VÀI LUẬT TỤC CỦA NGƯỜI MƯỜNG - Pdf 27

Tiểu luận –Luật Tục người Mường
TIỂU LUẬN LUẬT TỤC
ĐỀ TÀI:
TÌM HIỂU MỘT VÀI LUẬT TỤC CỦA
NGƯỜI MƯỜNG
1
Tiểu luận –Luật Tục người Mường
MỤC LỤC
I.Vài nét sơ lược về cuộc sống người Mường
Lời mở đầu
1. Dân số
2. Cư trú
3. Đặc điểm kinh tế
4. Hôn nhân gia đình
5. Văn hóa
6.Nhà cửa
7. Trang phục
II .Một Số tục lệ cơ bản của người Mường
1.Phong tục cưới hỏi
2.Tang lễ ma chay
3.Phong Tục lễ tế của người mường
4.Tục hát Xec-Bùa của người Mường
III. Kết luận
Lời mở đầu
2
Tiểu luận –Luật Tục người Mường
Mường là một dân tộc khá đông ở đất nước ta.
Không phải ngay từ buổi đầu lịch sử, dân tộc Mường đã có tộc danh như
ngày nay. Và đương nhiên trước đây, người Mường cũng không dùng
danh từ này làm tên gọi cho dân tộc mình. Theo Trần Từ (tức Nguyễn
Đức Từ Chi), Mường là từ dùng để chỉ một vùng cư trú của đồng bào bao

chỉ sau các dân tộc Kinh, Tày, Thái, Hoa, Khơme.
2. Cư trú
Dân tộc này cư trú ở nhiều tỉnh phía Bắc, nhưng tập trung đông
nhất ở Hòa Bình và các huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa.
3. Đặc điểm kinh tế
Đồng bào Mường
4
Tiểu luận –Luật Tục người Mường
sống định canh định cư ở miền núi, nơi có nhiều đất sản xuất, gần
đường giao thông, thuận tiện cho việc làm ăn. Người Mường làm
ruộng từ lâu đời. Lúa nước là cây lương thực chủ yếu. Trước đây,
đồng bào trồng lúa nếp nhiều hơn lúa tẻ và gạo nếp là lương thực
ăn hàng ngày.
Nguồn kinh tế phụ đáng kể của gia đình người Mường là khai thác
lâm thổ sản như nấm hương, mộc nhĩ, sa nhân, cánh kiến, quế, mật
ong, gỗ, tre, nứa, mây, song... Nghề thủ công tiêu biểu của người
Mường là dệt vải, đan lát, ươm tơ. Nhiều phụ nữ Mường dệt thủ
công với kỹ nghệ khá tinh xảo.
4. Văn hóa
Đồng bào Mường có nhiều ngày hội quanh năm: Hội xuống đồng
5
Tiểu luận –Luật Tục người Mường
(Khung mùa), hội cầu mưa (tháng 4), lễ rửa lá lúa (tháng7, 8 âm
lịch) lễ cơm mới...
(Hội xuống đồng)
Kho tàng văn nghệ dân gian của người Mường khà phong phú, có
các thể loại thơ dài, bài mo, truyện cổ, dân ca, ví đúm, tục ngữ.
Người Mường còn có hát ru em, đồng giao, hát đập hoa, hát đố, hát
trẻ con chơi... Cồng là nhạc cụ đặc sắc của đồng bào Mường, ngoài
ra còn nhị, sáo trống, khèn lù. Người Mường ở Vĩnh Phú còn dùng

Mỗi dân tộc đềucó đặc trưng riêng trang phuc về tạo hình và phong
cách thẩm mỹ trên trang phục. trang phuc của người Mường cũng
có những nét độc đáo riêng của nó
+ Trang phục nam
Nam mặc áo cánh xẻ ngực, cổ tròn, cúc sừng vai, hai túi dưới hoặc
thêm túi trên ngực trái. Đây là loại áo cánh ngắn phủ kín mông.
Đầu cắt tóc ngắn hoặc quấn khăn trắng. Quần lá tọa ống rộng dùng
khăn thắt giữa bụng còn gọi là "khăn quần". Xưa có tục để tóc dài
búi tóc. Trong lễ hội
dùng áo lụa tím hoặc tơ
vàng, khăn màu tím
than, ngoài khoác đôi
áo chúng đen dài tới
gối, cái cúc nách và
sườn phải.
+ Trang phục nữ
áo mặc thường ngày có
tên là áo pắn (áo ngắn). Đây là loại áo cánh ngắn, xẻ ngực, thân
ngắn hơn so với áo cánh người Kinh, ống tay dài, áo màu nâu hoặc
trắng (về sau có thêm các màu khác không phải loại vải cổ truyền).
Bên trong là loại áo báng, cùng với đầu váy nổi lên giữa hai vạt áo
ngắn. Đầu thường đội khăn trắng, xanh với phong cách không cầu
kỳ như một số tộc người khác. Váy là loại váy kín màu đen. Toàn
bộ phận được trang trí là đầu váy và cạp váy, khi mặc mảng hoa
văn nổi lên giữa trung tâm cơ thể. Đây là một phong cách trang trí
và thể hiện ít gặp ở các tộc khác trong nhóm ngôn ngữ và khu vực
láng giềng (Trừ nhóm Thái Mai Châu, Hòa Bình do ảnh hưởng văn
hóa Mường mà mặc thường ngày tương tự như họ) Nhóm Mường
8
Tiểu luận –Luật Tục người Mường

phải cách nhau ít nhất là 3 đời.
Khi sang nhà gái dạm hỏi, ông mối phải mang theo 12 chiếc bánh sừng
bò (bánh gói bằng lá cây chít), một chai rượu gạo nếp, đặt trước với bố
mẹ cô gái để thưa chuyện. Bố mẹ cô gái nếu đồng ý thì nhận và làm một
bữa cơm chiêu đãi ông mối rồi nhà gái treo 12 chiếc bánh lên cột nhà gần
khu bếp 3 ngày 3 đêm.
Trong khoảng thời gian 3 ngày 3 đêm đó nếu có con chim cú mèo kêu thì
đó là điềm báo không tốt, trai gái hai nhà không nên lấy nhau. Ngược lại,
nếu không có cú mèo kêu thì là điềm tốt, sau 3 ngày nhà gái sẽ gọi ông
mối nhà trai đến, mang rượu ra uống và đồng ý gả con gái.
Lễ dạm hỏi của người Mường Ao Luông trước kia thông thường phải trải
qua 5 lần đi lại:
Lần 1: Nhà trai mang 1 chai rượu, buồng cau, lá trầu, chè khô.
Lần 2: Khi nhà gái nhận lời thì mang bánh chưng, rượu, chè khô.
Lần 3: Mang theo bánh dày, 2 chai rượu, 1 buồng cau, chè khô.
Lần 4: Nhà trai mang đến bánh dày và rượu.
Lần 5: Nhà trai mang đến cau, trầu, bánh dày và rượu và đây là lần
nhà trai chính thức xin ngày ăn hỏi.
Theo thời gian, việc cưới xin của người Mường đã đơn giản hơn rất
nhiều, nhà trai sau khi đến nhà gái thưa chuyện nếu được nhà gái đồng ý
thì về chuẩn bị lễ ăn hỏi với các lễ vật thông thường như: rượu, thịt, tiền
mặt sau đó chọn ngày lành tháng tốt để tổ chức đám cưới.
Cô dâu khi về nhà chồng thường có một số của hồi môn do chính tay
mình làm như: chăn, chiếu, gối, đệm tặng những người già, bố, mẹ, anh,
10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status