Tìm hiểu một số ảnh hưởng của yếu tố môi trường lên sự tạo protocorn và sự sinh trưởng phát triển của vanda in vitro - Pdf 20

Luận văn tốt nghiệpSVTH: Nguyễn Thò Ngọc Download» Agriviet.Com
1
Chương 1
GIỚI THIỆU VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Giới thiệu
1.1.1 Đặt vấn đề
Nhân giống và bảo quản các giống cây trồng có giá trò kinh tế là một việc
làm cần thiết để phát triển nông nghiệp. Để phục vụ cho công tác nhân giống, trước
đây các phương pháp truyền thống thường được sử dụng như : tách, chiết, giâm
cành, … cho hệ số nhân thấp và cây giống dễ bò thoái hoá qua một số thế hệ. Hiện
nay kỹ thuật nhân giống in vitro được tiến hành nghiên cứu và đưa vào áp dụng
trong thực tiển sản xuất và đã thành công đối với nhiều loại cây khác nhau. Ưu
điểm của kỹ thuật này là cho sự đồng nhất về kiểu hình, tính di truyền ổn đònh, tạo
cây sạch bệnh, cho hệ số nhân lớn trong thời gian ngắn mà không phụ thuộc vào
thời tiết trong năm, giúp cây thu hoạch đồng loạt. Phương pháp nhân giống in vitro
đã mởø ra một hướng phát triển mới trong ngành nông nghiệp giúp thúc đẩy tăng sản
lượng, chất lượng cây giống tốt, đảm bảo nhu cầu người sản xuất và tiêu dùng.
Với mức sống ngày càng cao của con người, bên cạnh việc thỏa mãn nhu cầu
về ăn, mặc thì việc thõa mãn nhu cầu về tinh thần là không thể thiếu. Trong nông
nghiệp, nếu các loài cây có giá trò kinh tế như: cây lương thực, cây công nghiệp, cây
ăn quả có vai trò nuôi sống con người thì cây hoa kiểng đóng vai trò quan trọng
trong đời sống tinh thần con người. Nó biểu tượng cho vẻ đẹp, cho hạnh phúc và sức
sống của con người. Hiện nay hoa được sử dụng rộng rãi khắp nơi vào nhiều dòp
như: lễ, tết, hội họp, … Do vậy, việc phát triển cây hoa và xây dựng hoàn thiện quy
trình nhân nhanh các giống cây hoa là một việc làm cần thiết.
Hoa lan Vanda đẹp, đa dạng màu sắc, hình dạng, dùng làm hoa cắt cành hoặc
trồng chậu, rất thích hợp với vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa ở nước ta. Tuy nhiên,

1.2 Tổng quan tài liệu
Luận văn tốt nghiệpSVTH: Nguyễn Thò Ngọc Download» Agriviet.Com
3
1.2.1 Giới thiệu về nuôi cấy in vitro
1.2.1.1 Khái niệm
Nhân giống in vitro hay nuôi cấy mô đều là thuật ngữ mô tả các phương thức
nuôi cấy các bộ phận thực vật trong ống nghiệm có chứa môi trường xác đònh ở điều
kiện vô trùng. Môi trường có các chất dinh dưỡng thích hợp như muối khoáng,
vitamin, các hormon tăng trưởng và đường.
Kỹ thuật nuôi cấy mô cho phép tái sinh chồi hoặc cơ quan (sự phát sinh cơ
quan) từ các mô như: lá, thân, hoa, hoặc rễ.
♦ Vai trò và ý nghóa
Nhân giống in vitro hay vi nhân giống (micropropagation) là một trong 4 lónh
vực chính của công nghệ tế bào thực vật đã mang lại hiệu quả kinh tế cao.

Mục đích
Duy trì và nhân nhanh các kiểu gen quý hiếm thuộc các loại cây lương thực,
các loại rau, hoa, cây cảnh, cây dược liệu, cây ăn quả, cây lâm nghiệp.
Làm sạch các bệnh do virus bằng cách nuôi cấy đỉnh sinh trưởng.
Bảo quản ngân hàng gen các giống cây trồng.

Ưu điểm
Tính khả thi rộng
Tốc độ nhân giống cực kỳ cao

(1972), Miller và Murashige (1976)) và được ứng dụng thương mại hoá.
b) Ở Việt Nam
Nuôi cấy mô và tế bào thực vật được phát triển ở Việt Nam ngay sau khi
chiến tranh kết thúc (1975). Phòng thí nghiệm nuôi cấy mô và tế bào đầu tiên được
xây dựng tại vòên Sinh vật học, viện Khoa học Việt Nam (KHVN) do tiến só Lê Thò
Muội đứng đầu. Bước đầu phòng tập trung vào nghiên cứu các phương pháp nuôi
cấy cơ bản trong điều kiện Việt Nam như nuôi cấy bao phấn, nuôi cấy mô sẹo và
protoplast. Các kết quả đầu tiên về nuôi cấy thành công bao phấn lúa và thuốc lá
được công bố vào năm 1978 (Lê Thò Muội và cs,, 1978; Lê Thò Xuân và cs,, 1978).
Tiếp đó là thành công về nuôi cấy protoplast ở thuốc lá và khoai tây (Lê Thò Muội
và Nguyễn Đức Thành, 1978; Nguyễn Đức Thành và Lê Thò Muội, 1980, 1981).
Luận văn tốt nghiệpSVTH: Nguyễn Thò Ngọc Download» Agriviet.Com
5
Trong cùng thời gian, tại phân viện KHVN ở thành phố Hồ Chí Minh và muộn hơn
nữa là ở tại Đại học Nông Nghiệp I (ĐHNNI), Hà Nội và viện Khoa Học Kỹ Thuật
Nông Nghiệp Việt Nam (KHKTNNVN) và các phòng thí nghiệm cấy mô và tế bào
củng được thành lập và chủ yếu tập trung vào vi nhân giống khoai tây. Đến nay
chúng ta đã có rất nhiều phòng thí nghiệm cấy mô không những ở các trường Đại
học, các viện nghiên cứu (viện Di Truyền Nông nghiệp /DTNN/, viện Rau quả trung
ương /RQTƯ/) mà cả ở một số tỉnh và cơ sở sản xuất (Yên Bái, Hưng Yên, Thanh
Hoá, Nghệ Tónh, Cần Thơ, …).
Từ giữa những năm 80 trở lại đây, các hướng nghiên cứu ứng dụng nuôi cấy
mô và tế bào thực vật được phát triển mạnh. Những kết quả khích lệ đã đạt được
trong lónh vực vi nhân giống khoai tây (viện Công Nghệ Sinh Học /CNSH/, ĐHNNI,
viện KHKTNNVN), dứa, chuối, mía (viện CNSH, ĐHNNI, viện DTNN, viện
KHKTNNVN, viện RQTƯ) một số cây hoa phong lan (phân viện CNSH thành phố
Hồ Chí Minh), Hồng, Cúc, Cẩm chướng (viện CNSH, viện DTNN) và cây công

gian nuôi cấy nhất đònh mẫu sẽ phát triển thành một chồi hay nhiều chồi. Chồi tiếp
tục phát triển vươn thân, ra lá và rễ để trở thành một cây hoàn chỉnh. Cây con dïc
chuyển dần ra đất và thích nghi bình thường.
b) Nuôi cấy mô sẹo
Mô sẹo là một khối tế bào phát triển vô tổ chức, hình thành do sự phản phân
hoá của các tế bào đã phân hoá. Mô sẹo sẽ phát triển nhanh khi môi trường có sự
hiện diện của auxin. Khối mô sẹo có khả năng tái sinh thành cây con hoàn chỉnh
trong điều kiện môi trường không có chất kích thích tạo mô sẹo.
Nuôi cấy mô sẹo được thực hiện đối với các loại thực vật không có khả năng
nhân giống thông qua nuôi cấy đỉnh sinh trưởng. Cây tái sinh từ mô sẹo có đặc tính
giống như cây me. Từ một cụm tế bào mô sẹo có thể tái sinh cùng một lúc nhiều chồi
hơn là nuôi cấy đỉnh sinh trûng, tuy nhiên mức độ biến dò tế bào soma lại cao hơn.
c) Nuôi cấy tế bào đơn
Khối mô sẹo được nuôi cấy trong môi trường lỏng và được đặt trên máy lắc
có tốc độ điều chỉnh thích hợp sẽ tách ra thành nhiều tế bào riêng lẻ gọi là tế bào
đơn. Tế bào đơn được lọc và nuôi cấy trên môi trường đặc biệt để tăng sinh khối.
Luận văn tốt nghiệpSVTH: Nguyễn Thò Ngọc Download» Agriviet.Com
7
Với các cơ chất thích hợp được bổ sung vào trong môi trường tế bào có khả
năng sản xuất các chất có hoạt tính sinh học.
Sau một thời gian nuôi cấy kéo dài trong môi trường lỏng tế bào đơn được
tách ra và trải trên môi trường thạch.
Khi môi trường thạch có bổ sung auxin, tế bào đơn phát triển thành từng cụm
tế bào mô sẹo.
Khi môi trường thạch có tỷ lệ cytokinine/auxin thích hợp, tế bào đơn có khả
năng tái sinh thành cây con hoàn chỉnh.
d) Nuôi cấy protoplast- chuyển gen

Sự lựa chọn môi trường rắn hay môi trường lỏng là rất cần thiết. Agar đỡ cây
và cho phép sự thoáng khí, nhưng có thể làm giảm sự tiếp xúc của cây mầm để hấp
thu dinh dưỡng. Có thể sử dụng môi trường lỏøng trên máy lắc khoảng 30vòng/phút
hay sử dụng môi trường lỏng với dung tích nhỏ trong bình chứa có lắc hoặc không
lắc.
c) Điều kiện nuôi cấy
♦ Ánh sáng
Mẫu cấy ở trên môi trường có chứa một nguồn năng lượng sẳn có là đường,
được sử dụng ít hay nhiều là tùy khả năng quang hợp của cây.
Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cho thấy ánh sáng hấp thụ đóng vai trò quan
trọng tạo hình cây nuôi cấy in vitro. Ánh sáng đỏ và xanh của quang phổ trông thấy
ảnh hưởng đến việc nuôi cấy in vitro.
Việc nuôi cấy mô tốt nhất trong điều kiện ánh sáng khoảng 1000lux. Trong
giai đoạn chuẩn bò cây in vitro trước khi đem trồng ngoài vườn ươm, cần cường độ
ánh sáng trong khỏang từ 3000lux đến 10,000lux.

♦ Nhiệt độ
Luận văn tốt nghiệpSVTH: Nguyễn Thò Ngọc Download» Agriviet.Com
9
Nhiệt độ có ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng và phát triển của cây nuôi cấy
in vitro. Nhiệt độ tối ưu cho nhiều loại cây trồng trong khoảng 20 – 25
o
C. Một số
loài cây cần có nhiệt độ tối ưu để tạo hình.
d) Môi trường in vitro
Môi trường in vitro là môi trường trên và dưới mặt thạch trong bình nuôi cấy,
có ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển hình thái của cây in vitro. Một số vấn đề

Là một dạng bệnh lý của cây, thân lá cây trong suốt và chứa nhiều nước, khó
nhân giống. Một số phương pháp hạn chế quá trình hoá thuỷ tinh thể bằng cách tăng
nông độ đường hoặc giảm nồng độ đạm trong môi trường nuôi cấy, tạo thông gió,
tăng ánh sáng hay giảm nhiệt độ phòng nuôi cấy …
♦ Sự hoá nâu
Làm hạn chế sự sinh trưởng và phát triển của cây. Do trong mẫu nuôi cấy
mô chứa nhiều chất tannin hay hydroxyphenol (có nhiều trong mô già hơn mô non)
gây độc cho cây. Chống hoá nâu bằng cách thêm vào môi trường nuôi cấy các chất
hấp thu và khử độc như than hoạt tính (1 – 2g/l) vài giờ trước khi cấy, ngoài ra có
thể sử dụng mẫu cấy nhỏ từ mô non trẻ, gây vết thương nhỏ khi vô trùng mẫu cấy
hoặc nhiễm mẫu từ môi trường có chất kích thích sinh trưởng từ thấp đến quá cao.

1.2.1.7 Các chất điều hoà sinh trưởng thực vật trong nuôi cấy tế bào
Sự hiện diện của các hormone thực vật đã được khám phá ra từ cuối thế kỷ
20. Có nhiều công trình nghiên cứu nối tiếp nhau làm nổi bật sự hiện diện của
chúng, nhưng chúng chỉ được nhận dạng một thời gian sau. Chính chất auxin được
khám phá đầu tiên vào năm 1934, tiếp đến là các chất gibberelin và chất cytokinine
vào những năm 1950. Ba loại hormone này có một hoạt động kích thích sự chuyển
hoá của tế bào; người ta cũng có những chất ức chế có nguồn gốc phenol. Sau cùng
chất ethylen, tạo nên khí, đã được nhân ra như một chất điều hoà tăng trưởng một
khi các phương tiện về đònh lượng đã cho phép người ta dò tìm ra chúng trong các cơ
quan thực vật. Chất này có thể có một hoạt động kích thích hoặc ức chế tùy theo
liều lượng sử dụng.
a) Auxin
Luận văn tốt nghiệp
vực thực tiễn, ở đây các hormone ra rễ thường được sử dụng.
Các hiệu quả này không thể do một tác động duy nhất của auxin, các hiệu
quả khác chứng tỏ rằng: các nồng độ tối ưu thì khác nhau, đối với mỗi loại tác động;
giá trò tối ưu này có thể xê dòch tuỳ theo nồng độ của các chất điều hoà khác.
♦ Auxin trong cây trồng
Luận văn tốt nghiệpSVTH: Nguyễn Thò Ngọc Download» Agriviet.Com
12
Tất cả các cây trồng đều tổng hợp được chất auxin dạng tổng hợp tuỳ theo
giai đoạn phát triển của chúng. Sự tinh luyện chất auxin ở mức độ lá rất non, trong
các chồi đang hoạt động, ở mức độ phát hoa và ở trên các quả còn non.
Auxin lưu thông từ đỉnh xuống phần dưới các cơ quan với một sự phân cực rõ
ràng được nhìn rõ trên các cơ quan thực vật còn non, nhưng trong quá trình chuyển
vận này, chúng bò thoái hoá bởi sự auxin- axydases, điều này cho thấy các nồng độ
auxin thì luôn luôn cao hơn gần với những nơi tổng hợp ra chúng. Như vậy auxin
hiện diện với nồng độ vừa đủ ở mức độ các điểm tăng trưởng hoặc ở phát hoa để
bảo đảm sự nhân giống và sự kéo dài tế bào.
♦ Các chất auxin tổng hợp
Ngay từ khi chất auxin được nhận dạng, có nhiều chất có cấu trúc gần nhau
và giống nhau về mặt hoá học đã được thí nghiệm. Một vài chất này đã thể hiện
các đặt tính tương tự như các đặc tính của chất auxin, nhưng thường với các liều
lượng thấp hơn, hơn nữa, chúng ít bò kiểm soát bởi các enzyme; chúng có thể có một
hoạt động kéo dài.
Trong số những chất được sử dụng, chúng ta có thể kể ra các chất chính sau
đây:
- Axid indolylbutirique (AIB)
- Axid naphtylacetique (ANA) hoặc là các chất dẫn xuất của chúng như:
. Axid naphtyloxyacetique (ANOA)

Có một hiệu quả kích thích trên sự chuyển hoá, bởi vì chúng làm thuận lợi
cho sự tổng hợp chất enzyme ly giải.
Một hoạt động phức tạp trên sự ra hoa: thực tế, trong trường hợp cảm ứng
hoa, các gibberelin thường là các chất ức chế; trái lại, đối với các cây cần lạnh để
ra hoa, sự ứng dụng gibberelin cho phép cây ra hoa mà trong lúc vắng nhiệt độ lạnh.
Các gibberelin cũng có một tác động trên sự đậu trái của các trái không hạt.
Một hoạt động cũng phức tạp trong việc làm thức giấc các chồi, mầm ngủ trên các
hạt giống.
Cuối cùng là trong lónh vực sinh tạo cơ quan thực vật, gibberelin cho thấy các
hoạt động đối kháng: chúng dường như đối ngòch với hiện tượng phân hoá tế bào.
Trong sự nuôi cấy in vitro, gibberelin không thể sử dụng vào mục đích này nhưng
chúng sẽ tìm thấy công dụng của chúng trong các mô thực vật đã có tổ chức.
♦ Gibberelin trong cây trồng
Luận văn tốt nghiệpSVTH: Nguyễn Thò Ngọc Download» Agriviet.Com
14
Gibberelin được tìm thấy trong tất cả các loài cây và trong các loài nấm, ở
đây chúng được phân phối không đồng đều. Trong cây trồng, một vài loài cây chỉ
có một chất, các loài cây khác có thể có nhiều chất gibberelin.
Dạng thức tổng hợp của gibberelin là ở trên các lá rất non trong các chồi
đang hoạt động, ở đầu ngoài của rễ cây và ở mức độ các phôi.
c) Các cytokinine
Cytokinine được khám phá do trung gian của sự nuôi cấy in vitro. Người ta
biết rằng trong môi trường nuôi cấy, việc thêm nước dừa sẽ gây ra một hiệu quả
làm thuận lợi cho việc phân chia tế bào và cho việc hình thành các chồi. Những
nghiên cứu được thực hiện để tìm cách khám phá ra yếu tố trách nhiệm của hiệu
quả này, đã đưa đến việc cô lập một phức chất hoạt động có nguồn gốc purine,
nhưng chất này không thể nhận dạng được. Vào năm 1956, Skoog đã cô lập được

còn non của cây ngô; chất thứ hai được khám phá trễ hơn do các cây bò nhiễm bởi
một loại vi khuẩn Corynebacterium fasciens. Tất cả các cây đều chứa cytokinine,
chúng được tinh luyện chính yếu bởi rễ cây và cũng ở mức độ phôi.
Cytokynine có thể liên kết với đường và chúng lưu thông mà không phân
cực.
d) Ethylene
Ethylene là một chất khí được nhận dạng từ lâu trong các kho dự trữ quả.
Người ta nghiệm thấy là tất cả các bộ phận của một cây có khả năng sinh ra chất
ethylen. Những tính chất chính của chất điều hoà này, có một vài chất gần giống với
tính chất của auxin, chúng có những đặc tính sau:
- Gia tăng quá trình rụng lá và trái.
- Tính cảm ứng hoa trên cây trồng thuộc ho ïBromeliaces (họ dứa – ananas).
- Tác động làm thuận lợi cho sự tạo củ.
Tất cả các bộ phận của cây đều có khả năng tổng hợp ethylen, nơi sản xuất
quan trọng nhất là trái cây, kế đến ở mức độ kém hơn là hoa, cũng như chúng có ở
các cơ quan thực vật bò chấn thương.

e) Các chất ức chế tăng trưởng
Luận văn tốt nghiệpSVTH: Nguyễn Thò Ngọc Download» Agriviet.Com
16
Có rất nhiều chất có tác động ức chế, trong số các chất nội sinh, người ta tìm
thấy nhiều chất có thành phần phenol và axid abcisique.

Các chất ức chế có thành phần phenol
Trong nuôi cấy in vitro các chất phenol đôi lúc được phóng thích ra trong môi
trường cấy và gây ra hiện tượng oxy hoá, chất này đã gây ra sự hoá nâu cho môi
trường và thường dẫn đến sự chết của các mô thực vật, chính vì vậy mà trong một

tạo thân.
- Nếu tỷ lệ này gần một đơn vò người ta sẽ thu được sinh tạo mô sẹo.

1.2.1.8 Kỹ thuật nuôi cấy tế bào lớp mỏng
a) Đònh nghóa
Phương pháp nuôi cấy lớp mỏng tế bào bao gồm những mảnh cấy được cắt nhỏ
từ những cơ quan khác nhau (thân, lá, rễ, cụm hoa, mầm hoa, phát hoa, lá mầm, phôi,
…). Chúng được cắt nhỏ theo chiều dài hoặc chiều ngang. Những lớp mỏng dài (1mm
x 0,5 hoặc 10mm) chỉ bao gồm một loại mô như: tế bào biểu bì (có thể được bóc khỏi
ra khỏi mô), tế bào vỏ. Những lớp mỏng tế bào ngang bao gồm một số tế bào nhỏ của
nhiều loại mô khác nhau (biểu bì, vỏ, tượng tầng, xung quanh mạch và nhu
mô)(Phương pháp TCLs, Trần Thanh Vân và Gendy, 1996). Đặc điểm nổi bậc của
phương pháp này là mảnh cấy phải mỏng. Điều này là quan trọng hàng đầu bởi vì nó
giới hạn những tế bào mà ta cần, những tế bào đã chọn lọc và đánh dấu trước đó.
b) Một vài nghiên cứu thành công trong nuôi cấy tế bào lớp mỏng
1. Chuyển gen bằng việc sừ dụng lớp mỏng tế bào. Dương Tấn Nhựt, Bùi
Văn Lệ, Jaime A, Teixeira da Silva, Shanjun Tu, M, Jeanneau, N,T,Do My, J, Vidal
and K, Trần Thanh Vân.
2. Vi nhân giống và tái sinh hoàn chỉnh cây có gổ bằng lớp mỏng tế bào.
Dương Tấn Nhựt, Bùi Văn Lệ, Jaime A, Teixeira da Silva, T, Thorpe và K, Trần
Thanh Vân.
3. Ứng dụng công nghệ lớp mỏng tế bào trong việc tái sinh cây ăn quả.
Dương Tấn Nhựt, Bùi Văn Lệ, Jaime A, Teixeira da Silva, T, Thorpe và K, Trần
Thanh Vân.
Luận văn tốt nghiệpSVTH: Nguyễn Thò Ngọc Download» Agriviet.Com
18
4. Tái sinh cơ quan của cây ngủ cốc và cây cỏ bằng kỹ thuập lớp mỏng tế

Một loài lan khác nữa của Cypripede người ta thấy ở các vùng dưới Bắc Cực
thì mọc khắp Liên Xô sang đến tận A-Lat-xca, tức là mọc ở cả 3 châu, một điều
hiếm thấy xảy ra đối với các loài lan nhiệt đới.
Lan phụ sinh thường mọc ở vùng nhòêt đới và cận nhiệt đới, ít khi mọc sang
vùng khác. Vùng đó nằm ở vó tuyến 30
o
Bắc và vó tuyến 35
o
Nam.Tuy nhiên, ngoài các vùng nhiệt đới này cũng có một vài loài lan phụ sinh
mọc được ở Nhật Bản, Triều Tiên, Bắc Mỹ và Úc Châu. Những loài lan này không
đẹp và ít người biết đến.
Một số vùng nhiệt đới khô hạn hoàn toàn không có lan. Đó là những vùng sa
mạc Sa-ha-ra, Ka-ra-ha-ri, một số vùng khô cằn của Ả Rập, Ba Tư, vùng Tây Bắc
và cao nguyên Ấn Độ. một phần lớn Úc Châu.
Nhìn qua sự phân bố như trên. Việt Nam nằm trong cùng rất thuận lợi cho lan
phát triển. Trong những năm qua, chúng ta đã nhập được khá nhiều loài tốt trong
các giống lan nhiệt đới và xứ lạnh: Phalenopsis, Cattleya, Vanda, Cymbidium …
Trong các giống này có rất nhiều loài đẹp và được thế giới ưa chuộng.

1.2.2.2 Tình hình sản xuất lan trên thế giới và trong nước
♦ Trên thế giới
Tại Mỹ: năm 1994 nhập từ Thái Lan 16,4 triệu cành, từ Singapore 289000
cành lan Dendrobium.
Hà Lan là quốc gia duy nhất ở Châu Âu có công nghiệp trồng lan xuất khẩu.
Do trồng trong nhà kính nên Hà Lan có thể xuất khẩu hoa quanh năm nhất là
Cymbidium.
Italia là quốc gia nhập khẩu lan lớn nhất Châu Âu. Năm 1993, nhập 75,3

Denrobium …và các giống lai của chúng. Với Cattleya thì khó khăn hơn vì đòi hỏi
phải cấy ở môi trường lỏng với máy lắc liên tục. Cho đến nay đối tượng chưa chòu
khuất phục phương pháp nuôi cấy mô là Paphiopedilum.

1.2.2.4 Kỹ thuật trồng lan sau ống nghiệm
Có thể chia thời kỳ trồng lan con sau ống nghiệm ra bốn giai đoạn:
a) Lấy ở ống nghiệm ra
Việc lấy cây ra ống nghiệm phải thật nhẹ nhàng, tránh làm dập lá, gẫy rễ,
nhất là trong lúc cho sạch hết thạch môi trường bám vào trong rễ.
Luận văn tốt nghiệpSVTH: Nguyễn Thò Ngọc Download» Agriviet.Com
21
Công việc này do các nhân viên phòng thí nghiệm thực hiện.
b) Ở trong chậu chung
Đây là giai đoạn khó khăn nhất của việc trồng lan con.
Rebecca Tyson Northen, trong cuốn Home Orchid Growing (1974) chỉ dẫn
như sau:
- Lan con lấy từ ống nghiệm ra cho vào dung dòch sát khuẩn, sau dùng kẹp để
gắp lan con và trồng vào chậu chung. Chất liệu trồng là ba phần vỏ thông xay
nhuyễn với một phần cát; hoặc tám phần rễ dớn xay nhuyễn, một phần cát, một
phần than vụn. Tất cả những chất liệu này được luộc kỹ để diệt nấm và diệt trùng.
- Pha loãng dung dòch phân bón ngay tức khắc sau khi trồng phun vào cây.
- Thời gian trồng chậu chung này vẫn do cơ quan nuôi cấy mô đảm nhiệm, vì
chính trong thời gian đó cây con sẽ được xử lý:
. Các loại thuốc phòng bệnh.
. Cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng.
. Cung cấp các chất kích thích tố với liều lượng thích hợp.
Cây con khoẻ mạnh phải đạt những tiêu chuẩn sau đây: Gỉa hành và lá phải

đặt cây con. Cuối cùng bỏ than chung quanh gốc cây dấy lên gần miệng chậu để giữ
cho cây đứng thẳng.
♦ Trồng vào mùa mưa
Trong thời gian này khi trồng cây con ta không nên dùng xơ dừa nữa, vì xơ
dừa giữ ẩm được khá lâu, nên mưa nhiều sẽ có thời gian cây không được khô ráo,
nấm mốc có thể phát triển làm hư lá và rễ cây.
d) Giai đoạn trồng vào chậu lớn
Việc chuyển chậu có thể được thực hiện trong khoảng thời gian cây con đã
có ở trong chậu nhỏ từ 5 đến 7 tháng.

Kỹ thuật chuyển chậu
Luận văn tốt nghiệpSVTH: Nguyễn Thò Ngọc Download» Agriviet.Com
23
Về chậu, cần có kích thước lớn ít nhất gấp hai lần rưỡi chậu con và có nhiều
lỗ bên hông. Rữa sạch chậu.
Xếp các cục than chuẩn bò sẵn vào đáy chậu lớn, khoảng một phần ba dung
tích.
Khoảng 25 phút sau, rễ cây bám vào thành chậu đã bong ra hết, ta nhẹ nhàng
cầm cây sát gốc cho vào chậu. Một tay giữ cây, một tay bốc than bỏ vào chung
quanh lên đến gần sát miệng chậu.
Sau chuyển chậu khoảng hơn một tuần mới được cung cấp dinh dưỡng.

1.2.2.5 Giới thiệu về Vanda RBr
Vanda do Robert Brown đặt vào năm 1975, có nguồn gốc của chữ phạm là

cục u. Môi có 3 thuỳ, thuỳ giữa có sọc dọc và 2 cục có nắp che hai phấn khối với vó
phấn ngắn mà to và gót đóa lớn .
Thường người ta chia 2 nhóm dựa vào đặc điểm của lá :
- Nhóm có hình trụ tròn, đòi hỏi ánh sáng nhiều nên phải trồng ở nơi sáng
hoàn toàn, không che chắn, thuận tiện cho vùng nóng.
- Nhóm có lá dẹp phẳng, đòi hỏi ánh sáng ít hơn nên có thể trồng ở các sứ khác.
Cây lai giữa hai dạng này cho ra dạng lá thay đổi từ hình lòng máng đến hình
chữ U, cần ánh sáng cao hơn dạng lá dẹp phẳng nhưng thấp hơn dạng lá hình trụ tròn
b) Cách trồng

Trồng Vanda lá hình trụ tròn

Đây là Vanda Terres, Vanda Hookeriana, … (Schlechter đã đề nghò đưa
chúng sang giống Papilionanthe vì dạng lá hình trụ, thân dài leo bò và vì dạng hoa
cùng nơi mọc của chúng).
+ Trồng trong chậu: chậu hơi cao, lớn 20 - 50 cm, có nhiều lỗ thoát, có cọc
ty to ở giữa chậu, cao khoảng 70 - 80 cm. Có thể bó xơ dừa vào cọc này.
+ Trồng theo luống: trồng theo kiểu luống ở phần ba hoặc không dùng nẹp
tre mà chỉ đóng trụ cột ở giữa luống, rồi buộc các ngọn lan vào (như kiểu trồng
tiêu).
Khi mới trồng xong thì che khoảng 50% ánh sáng, đến khi phát triển thì gỡ
hết, không che chắn gì nữa cả.
Nên dùng phân theo tỉ lệ 1:1:1, mỗi tuần 1 lần trong thời gian đầu. Khi thúc
hoa thì dùng 1:2:1 hay 1:3:2, nên tưới thêm phân chuồng (xô lớn khoảng 20 lít) rãi
cho 1 mét vuông luống.
Luận văn tốt nghiệpSVTH: Nguyễn Thò Ngọc Download» Agriviet.Com
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status