bước đầu tìm hiểu mối liên hệ dân số- môi trường - phát triển bền vững - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA MÔI TRƯỜNG

Tiểu luận môn học:
Dân số và môi trường
BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU MỐI LIÊN HỆ
DÂN SỐ- MÔI TRƯỜNG - PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
GVHD: TS. Nguyễn Kim Hồng
Học viên: Nguyễn Thị Thu Thủy
TP. Hồ Chí Minh, tháng 3/2008
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
I. KHÁI QUÁT VỀ DÂN SỐ 1
1.1. Dân số và sự gia tăng dân số 1
1.1.1. Gia tăng tự nhiên 1
1.1.2. Gia tăng cơ học 3
1.1.3. Gia tăng dân số 3
1.2. Gia tăng dân số trên thế giới và Việt Nam 3
1.2.1. Gia tăng dân số thế giới 3
1.2.2. Gia tăng dân số Việt Nam 4
II. TÁC ĐỘNG CỦA DÂN SỐ LÊN TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG.
2.1. Mối tưong quan giữa dân số, tài nguyên và môi trường 5
2.1.1. Công thức chung 5
2.1.2. Tóm tắt các ảnh hưởng 7
2.2. Các tác động cụ thể 8
2.2.1. Cạn kiệt tài nguyên 8
2.2.1.1. Cạn kiệt tài nguyên đất 9
2.2.1.2. Cạn kiệt tài nguyên nước 11
2.2.1.3. Suy giảm tài nguyên rừng, đa dạng sinh học 14
2.2.2. Ô nhiễm môi trường 15

kiện môi trường ảnh hưởng lên chúng. Hiện nay người ta quan tâm đặc biệt tới dân
số học loài người, vì sự gia tăng quá nhanh dẫn tới sựbùng nổ dân số như hiện nay.
Một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất là tỉ lệ gia tăng dân số thường được
biểu diễn bằng phần trăm (%).
1.3.1. Gia tăng tự nhiên
Sự biến động dân số trên thế giới (tăng lên hoặc giảm đi) là do hai nhân tố chủ
yếu quyết định: sinh đẻ và tử vong.
a) Tỉ suất sinh thô
Tỉ suất sinh thô là tương quan giữa số trẻ em được sinh ra trong năm so với số
dân trung bình ở cùng thời điểm. Đơn vị tính là phần nghìn (‰). Đây là thước đo
được sử dụng rộng rãi để đánh giá mức sinh.

Trong đó: S: tỉ suất sinh thô
s: số trẻ em sinh ra trong năm
Dtb: dân số trung bình
Có nhiều yếu tố tác động đến tỉ suất sinh làm cho nó thay đổi theo thời gian và
không gian, trong đó quan trọng nhất là các yếu tố tự nhiên – sinh học, phong tục
tập quán và tâm lí xã hội, trình độ phát triển kinh tế - xã hội và các chính sách phát
triển dân số của từng nước.
b) Tỉ suất tử thô
Tỉ suất tử thô là tương quan giữa số người chết trong năm so với số dân trung
bình ở cùng thời điểm. Đơn vị tính là phần nghìn (‰).

Trong đó: T: tỉ suất tử thô
t: tổng số người chết trong năm
Dtb: dân số trung bình
Bước đầu tìm hiểu mối liên hệ giữa dân số-môi trường- phát triển bền vững Học viên: Nguyễn Thị Thu
Thủy
1
Dân số và môi trường GVGD: TS. Nguyễn Kim Hồng

phải có chính sách khuyến khích sinh đẻ, các biện pháp ưu đãi cho gia đình đông
con…
Bước đầu tìm hiểu mối liên hệ giữa dân số-môi trường- phát triển bền vững Học viên: Nguyễn Thị Thu
Thủy
2
Dân số và môi trường GVGD: TS. Nguyễn Kim Hồng
1.3.2. Gia tăng cơ học
Con người không chỉ sinh sống trên một lãnh thổ cố định. Do những nguyên
nhân và mục đích khác nhau, họ phải thay đổi nơi cư trú, di chuyển từ một đơn vị
hành chính này sang một đơn vị hành chính khác, thay đổi chỗ ở thường xuyên
trong một khoảng thời gian xác định. Gia tăng cơ học bao gồm hai bộ phận: xuất cư
(những người rời khỏi nơi cư trú) và nhập cư (những người đến nơi cư trú mới). Sự
chênh lệch giữa số người xuất cư và số người nhập cư được gọi là hiện tượng gia
tăng cơ học.
Trên phạm vi toàn thế giới, gia tăng cơ học không ảnh hưởng đến số dân,
nhưng đối với từng khu vực, từng quốc gia và từng địa phương thì nhiều khi nó lại
có ý nghĩa quan trọng, làm thay đổi số lượng dân cư, cơ cấu tuổi, giới và các hiện
tượng kinh tế - xã hội.
1.3.3. Gia tăng dân số
Đây là thước đo phản ánh trung thực, đầy đủ tinh hình biến động dân số của
một quốc gia, một vùng. Nó được thể hiện bằng tổng số giữa tỉ suất gia tăng tự
nhiên và tỉ suất gia tăng cơ học (tính bằng %). Mặc dù gia tăng dân số bao gồm hai
bộ phận cấu thành, song động lực phát triển dân số vẫn là gia tăng tự nhiên.
1.4. Gia tăng dân số trên thế giới và Việt Nam
1.2.1. Gia tăng dân số thế giới
Hiện nay, dân số thế giới gia tăng hàng năm thêm khoảng 90 triệu người, với
tỉ lệ gia tăng là 1,7%. Tỉ lệ gia tăng này khác biệt lớn tùy theo trình độ phát triển
của các nước. Các nước công nghiệp phát triển, tức là các nước giàu thì tỉ lệ này là
0,5%/năm; còn đa số các nước nghèo là 2,1%/năm.
Năm 1950, số lượng người sống ở thành phố chỉ bằng 1/3 của năm 1990 (2,5 tỉ

Năm
Số dân
(triệu
người)
Số dân tăng thêm sau
10 năm (triệu người)
Tỷ lệ tăng dân số trung bình hằng năm trong kỳ
(%)
1921
1931
1941
1951
1955
1965
1975
1985
1995
2005
15,5
17,7
20,9
23,1
25,1
35,0
47,6
59,9
72,0
83,1
-
2,2


Rt = Ro : Ro
kt
Trong đó: Rt: tài nguyên của loài người tại thời điểm t cần nghiên cứu –
tính từ khi loài người xuất hiện.
Ro: tài nguyên khi mới xuất hiện loài người.
e: cơ số lg tự nhiên (e= 2,7183).
t: thời gian loài người đã sử dụng tài nguyên.
Khi t=0 có nghĩa là lúc mới xuất hiện loài người, lúc này (1)
hoặc (2) sẽ có Rt = Ro đó là tính đúng đắn của công thức.
k: hệ số tiết kiệm tài nguyên
(3) k= PxF/ γ
Trong đó: P: dân số trên hành tinh. Trong những điều kiện khác nhau nếu dân
số càng đông thì tài nguyên còn lại của loài người càng ít (theo
(1) và (2)).
F: Mức độ ô nhiễm môi trường do con người sản sinh ra:
+ Khi mức độ ô nhiễm càng lớn thì F>1,0
+ Khi môi trường trong lành thì F =1,0
Như vậy: F ≥ 1,0
Bước đầu tìm hiểu mối liên hệ giữa dân số-môi trường- phát triển bền vững Học viên: Nguyễn Thị Thu
Thủy
5
Dân số và môi trường GVGD: TS. Nguyễn Kim Hồng
γ: khả năng khai thác khoa học và tái tạo tài nguyên của con người.
γ ≤ 1,0.
γ = 1,0 khi con người biết khai thác tài nguyên một cách có
khoa học và biết cách tái tạo tài nguyên.
γ < 1,0 khi con người không biết cách tái tạo tài nguyên và khai
thác tài nguyên không khoa học, không hợp lý.
Công thức 2: Tác động môi trường của sự gia tăng dân số có thể mô tả bằng

II.1.2.Tóm tắt các ảnh hưởng
2.1.2.1 Dân số lên tài nguyên
Số lượng dân xác định nhu cầu tài nguyên, cách thụ đắc, số lượng dùng. Các
nhân tố dân số (trình độ xã hội, kinh tế cuả một nước) có ảnh hưởng lên việc sử
dụng tài nguyên. Các nước công nghiệp có nhu cầu về tài nguyên phức tạp và có
khuynh hướng sử dụng nhiều tài nguyên không thể tái tạo. Các nước đang phát
triển sử dụng nhiều tài nguyên tái tạo được. Sự phân bố dân cư cũng ảnh hưởng lên
sự cung cấp, khai thác và sử dụng tài nguyên.
2.1.2.2 Dân số lên ô nhiễm
Dân số gây ra ô nhiễm qua việc khai thác và sử dụng tài nguyên. Ô nhiễm có
thể xảy ra từ việc sử dụng một tài nguyên như là nơi chứa rác thải sinh hoạt và
công nghiệp. Ngoài ra khai thác tài nguyên (than đá, dầu và khí) gây ra sự suy thoái
môi trường. Khối lượng tài nguyên và cách thức khai thác và sử dụng chúng xác
định khối lượng ô nhiễm.
2.1.2.3 Tài nguyên lên dân số
Tác động dương. Khám phá và sử dụng tài nguyên mới (dầu, than) làm tăng
dân số, cũng như sự phát triển xã hội, kinh tế, công nghệ. Tài nguyên cho phép con
người di chuyển đến các nơi ở mới cũng như việc lấy và sử dụng tài nguyên trước
đây không được dùng. Thêm vào đó sự phát triển tài nguyên tạo nhiều nơi ở trong
các môi trường khó khăn.
Tác động âm. Cạn kiệt tài nguyên làm giảm dân số và làm giảm sự phát triển
xã hội, kinh tế, công nghệ. Suy thoái môi trường (ô nhiễm không khí) có thể làm
giảm dân số hay tiêu diệt quần thể.
2.1.2.4 Tài nguyên lên ô nhiễm
Khối lượng, cách thức khai thác và sử dụng tài nguyên có thể ảnh hưởng lên ô
nhiễm. Càng khai thác và sử dụng nhiều tài nguyên thì càng gây nhiều ô nhiễm.
Cạn kiệt tài nguyên có thể làm giảm ô nhiễm.
2.1.2.5 Ô nhiễm lên dân số
Ô nhiễm có thể làm giảm dân số cũng như giảm sự phát triển xã hội, kinh tế
và công nghệ. Ô nhiễm làm gia tăng tử vong và bệnh tật nên ảnh hưởng xấu lên

II.2.1.Cạn kiệt tài nguyên
Tài nguyên thiên nhiên là nguồn của cải vật chất nguyên khai được hình thành
và tồn tại trong tự nhiên mà conh người có thể sử dụng để đáp ứng các nhu cầu
trong cuộc sống. Tài nguyên thiên nhiên phân bố không đồng đều giữa các nơi trên
trái Đất, và trên cùng một lãnh thổ có thể tồn tại nhiều loại tài nguyên, tạo ra sự ưu
đãi của tự nhiên đối với từng vùng lãnh thổ, từng quốc gia. Đại bộ phận các nguồn
tài nguyên thiên nhiên có giá trị kinh tế cao được hình thành qua quá trình lâu dài
của tự nhiên và lịch sử.
Trong khoa học môi trường, người ta chia tài nguyên thiên nhiên ra làm 2
loại:
Bước đầu tìm hiểu mối liên hệ giữa dân số-môi trường- phát triển bền vững Học viên: Nguyễn Thị Thu
Thủy
8
Dân số và môi trường GVGD: TS. Nguyễn Kim Hồng
Tài nguyên tái tạo (renewable resources) như là nước, đất, sinh vật… là loại
tài nguyên mà sau một chu trình sử dụng sẽ trở lại dạng ban đầu, nó có thể tự duy
trì và tự bổ sung nếu được quản lý một cách hợp lý. Tuy nhiên, các loại tài nguyên
này có thể bị suy thoái nếu sử dụng và quản lý không hợp lý.
Tài nguyên không tái tạo (unrenewable resources) là dạng tài nguyên bị biến
đổi và mất đi sau quá trình sử dụng. Tài nguyên không tái tạo thường giảm dần về
số lượng sau quá trình khai thác của con người. Thí dụ như tài nguyên khoáng sản
và nguồn gen con người là dạng tài nguyên không tái tạo được.
Nhìn chung, tài nguyên là hữu hạn và phải biết khai thác sử dụng và bảo vệ
một cách hợp lý.
Vì dân số thế giới tiếp tục gia tăng, nhiều nguồn tài nguyên cần thiết cho sự
sống còn của con người và hàng triệu sinh vật khác sẽ ít đi. Các nước đang phát
triển thì sử dụng quá đáng các nguồn tài nguyên có thể tái tạo được, trong khi các
nước phát triển thì tiêu xài quá mức các nguồn tài nguyên không thể tái tạo được.
Theo báo cáo của Quĩ quốc tế bảo vệ động vật hoang dã (WWF), hiện nay con
người tiêu thụ nhiều hơn 20% so với khả năng tạo ra nguồn tài nguyên mới của trái

giới. Diện tích trên Trái đất với hơn 70% là đại dương còn lại là đất liền nhưng con
người chỉ cư trú được với một diện tích chiếm 32% diện tích đất liền, mặt khác dân
số lại phân bố không đồng đều ở các quốc gia. Các nước kém phát triển hoặc đang
phát triển thì có mật độ dân số cao hơn nhiều so với các quốc gia phát triển.
Số liệu của Liên hợp quốc cho thấy cứ mỗi phút trên phạm vi toàn cầu có
khoảng 10 ha đất trở thành sa mạc. Diện tích đất canh tác trên đầu ngươi giảm
nhanh từ 0,5 ha/người xuống còn 0,2 ha/người và dự báo trong vòng 50 năm tới chỉ
còn khoảng 0,14 ha/đầu người. ở Việt Nam, số liệu thống kê cho thấy sự suy giảm
đất canh tác, sự suy thoái chất lượng đất và sa mạc hoá cũng đang diễn ra với tốc
độ nhanh. Xói mòn, rửa trôi, khô hạn, sạt lở, mặn hoá, phèn hoá, v.v. đang xảy ra
phổ biến ở nhiều nơi đã làm cho khoảng 50% trong số 33 triệu ha đất tự nhiên được
coi là “có vấn đề suy thoái”.
Bảng 2.1. Suy giảm diện tích đất bình quân đầu người trên thế giới(ha/người)
Năm
tính
-10
6
-10
5
-10
4
0 1650 1840 1930 1994 2010
Dân số
(triệu) O,125 1,0 5,0 200 545 1000 2000 5000 7000
Diện
tích
(ha/ng)
12.10
4
15000 3000 75 27,5 15 7,5 3,0 1,88

6,8
7,1
7,0
0,26
0,19
0,12
0,13
0,11
0,105
0,095
2.2.1.2. Cạn kiệt tài nguyên nước
Nước vừa là một nguồn tài nguyên thiết yếu đối với con người vừa là nguồn
tài nguyên đặc biệt, sự phân bố của nó không hề tương ứng với những nhu cầu
đang ngày càng tăng của con người. Trong tổng lượng nước của toàn thế giới, có
tới 97% là nước mặn, và trong số 3% nước ngọt có thể sử dụng, có tới 70% tồn tại
dưới dạng băng ở hai vùng cực và tuyết trên những đỉnh núi cao. Nước ngọt có thể
sử dụng chỉ chiếm 1% tổng lượng nước toàn cầu. Về mặt địa lí, sự phân bố của
nước là không đồng đều. 15% lượng nước ngọt toàn cầu được giữ tại khu vực
Amazon. Ngay trong khu vực Địa trung hải, các nước giàu về tài nguyên nước
(Pháp, Ý, Thổ Nhĩ Kì, Nam Tư cũ) chiếm tới 2/3 lượng nước toàn khu vực. Tình
trạng này dẫn đến sự phân hóa những nước giàu và nghèo tính theo tỉ lệ tài nguyên
nước trên đầu người: giao động từ chưa đến 100m3/năm đến 10.000m3/năm. Dưới
ngưỡng 1000m3/năm/đầu người những căng thẳng bắt đầu xuất hiện và ngưỡng
thiếu nước được xác định ở mức 500m3/năm. Không những thế lượng nước lại có
Bước đầu tìm hiểu mối liên hệ giữa dân số-môi trường- phát triển bền vững Học viên: Nguyễn Thị Thu
Thủy
11
Dân số và môi trường GVGD: TS. Nguyễn Kim Hồng
sự phân bố không đồng đều theo thời gian. Có một sự mất cân đối về lượng nước
giữa mùa khô hạn và mùa mưa và giữa các năm.

Hậu quả là 1/5 chủng loài cá hoặc đã tiệt chủng hoặc đang bên bờ tuyệt chủng.
Sông Jordan (bang Utah, Mỹ) và sông Rio Grande (biên giới Mỹ-Mexico) được
xem là 2 con sông cạn nhất so với chiều dài của nó. Tại Anh, 1/4 tổng số 160 con
sông của nước này đang cạn dần do quá nhiều nhà cửa và do các ngành nông
nghiệp, công nghiệp phát triển tạo ra nhiều chướng ngại vật.
Tại Việt Nam, lượng nước sẵn có trên đầu người ngày càng giảm đi. Cùng với
sự phát triển kinh tế - xã hội, sự gia tăng dân số với tỷ lệ tăng dân số hàng năm
1,7% ở nước ta, nhu cầu sử dụng nước cho sinh hoạt và các ngành kinh tế tăng lên
không ngừng trong khi đó tài nguyên nước trong tự nhiên là có hạn chính vì thế
lượng nước sẵn có theo đầu người có xu hướng giảm dần theo thời gian.
Năm 1943 lượng nước bình quân đầu người của Việt Nam là 16.641 m
3
/người,
nếu dân số nước ta tăng lên 150 triệu người thì chỉ còn đạt 2467 m
3
/người, năm xấp
xỉ với những quốc gia hiếm nước. Hiện nay lượng nước bình quân đầu người của
Việt Nam chỉ khoảng 3.840m
3
/người/năm, thấp hơn 160m3 so với quy định của thế
giới (trên 4.000m
3
/người/năm).
Biểu đồ 2.1: Lượng nước đảm bảo cho cho mỗi người dân trong một năm,
xu hướng thời gian

0
5000
10000
15000

đang suy giảm với tốc độ chóng mặt (mỗi phút mất đi khoảng 30 ha rừng) và theo
dự báo với tốc độ này chỉ khoảng 160 năm nữa toàn bộ rừng trên trái đất sẽ biến
mất.
Nước ta rừng cũng đã từng suy giảm nhanh. Đầu thế kỷ 20 độ che phủ đạt
khoảng 50% sau đó suy giảm mạnh đến cuối những năm 80 chỉ còn gần 30%. Năm
1943 ước tính có khoảng 14 triệu ha, với tỉ lệ che phủ là 43%, năm 1995 còn
khoảng 8 triệu ha và tỉ lệ che phủ là 28%, diện tích rừng bình quân cho một người
là 0,13 ha (1995), thấp hơn mức bình quân ở vùng Đông Nam Á (0,42 ha/người).
Trong thời kỳ 1945 – 1975 cả nước mất khoảng 3 triệu ha rừng, bình quân 100.000
ha/năm. Quá trình mất rừng diễn ra nhanh hơn ở giai đoạn 1975 – 1990: Mất 2,8
triệu ha, bình quân 140.000 ha/năm. Nguyên nhân chính làm mất rừng ở giai đoạn
này là do dân số tăng nhanh, nạn đốt nương làm rẫy tràn lan, quá trình khai hoang
lấy đất trồng các cây công nghiệp như cà phê, chè, cao su và khai thác gỗ xuất khẩu.
Trung bình mỗi năm nước ta chỉ trồng được trên 72.000 ha rừng, trong khi tỉ lệ
mất rừng hiện nay từ 120.000 đến 150.000 ha/năm. Không chỉ người dân lén lút
Bước đầu tìm hiểu mối liên hệ giữa dân số-môi trường- phát triển bền vững Học viên: Nguyễn Thị Thu
Thủy
14
Dân số và môi trường GVGD: TS. Nguyễn Kim Hồng
phá rừng mà các xí nghiệp thực hiện việc khai thác theo chỉ tiêu pháp lệnh thường
thực hiện quá chỉ tiêu cho phép.
Rừng bị mất đi gây ra hậu quả nghiêm trọng đối với đất và nước. Đất bị xói
mòn, thoái hoá tới mức cây trồng không cho năng suất, đất bị bỏ hoang, ảnh hưởng
đến sản xuất nông lâm nghiệp. Bên cạnh đó, mất rừng còn làm giảm đa dạng sinh
học, gây mất cân bằng sinh thái và con người phải nhận hậu quả về thiên tai , lũ lụt
do không có rừng bảo vệ.
Cùng với rừng, đa dạng sinh học cũng đóng vai trò quan trọng đối với con
người và thiên nhiên. Từ nhiều thập kỷ nay, hoạt động của con người đã tác động
mạnh tới thế giới sinh vật, được xem là tương đương hoặc thậm chí lớn hơn nhiều
so với các đợt tuyệt chủng lớn nhất trong thời tiền sử. Hơn 11.000 loài động vật và

Một ví dụ, ở Thái Lan có 80 ngàn nhà máy, trong đó có 20 ngàn nhà máy nằm
ở Bangkok và các thành phố lân cận. Các chất thải độc hại năm 1986 là 1,2 triệu
tấn. Tính đến năm 2001, lượng chất thải sẽ tăng lên 6 triệu tấn/năm.
Mưa acid, mỏng màn ozon, thay đổi khí hậu toàn cầu là hậu quả đáng ngại của
sự phát triển của xã hội loài người. Cùng với ô nhiễm nước, đất và không khí chúng
kìm hãm và đe doạ sự phát triển của con người.
Bảng 2.3. Lượng các tác nhân ô nhiễm trên toàn thế giới năm 1992
(Đơn vị: triệu tấn)
Nguồn gây ô nhiễm Tác Nhân ô nhiễm chính
CO Bụi SO
4
C
n
H
m
NO
x
1.Giaothôngvậntải
-Ôtô chảy xăng 53,5 0,5 0,2 13,8 6,0
-Ôto chảy dầu diezen 0,2 0,3 0,1 0,4 0.5
-Máy bay 2,4 0,0 0,0 0,3 0,0
-Tàu hỏa và các loại
khác
2,0 0,4 0,5 0,6 0,8
Cộng 58,1 1,2 0,8 15,1 7,3
2.Đốt nhiên liệu
-Than 0,7 7,4 18,3 0,2 3,6
-Dầu,xăng 0,1 0,3 3,9 0,1 0,9
-Khí đốt tự nhiên 0,0 0,2 0,0 0,0 4,1
-Gỗ,củi 0,9 0,2 0,0 0,4 0,2

-Tàu hỏa và các loại
khác
2,0 0,4 0,5 0,6 0,8
Cộng 58,1 1,2 0,8 15,1 7,3
2.Đốt nhiên liệu
-Than 0,7 7,4 18,3 0,2 3,6
-Dầu,xăng 0,1 0,3 3,9 0,1 0,9
-Khí đốt tự nhiên 0,0 0,2 0,0 0,0 4,1
-Gỗ,củi 0,9 0,2 0,0 0,4 0,2
Cộng 1,7 8,1 22,2 0,7 8,8
3.Quá trình sản xuất
công nghiệp
8,8 6,8 6,6 4,2 0,2
4.Xử lý chất thải rắn 7,1 1,0 0,1 1,5 0,5
5.Hoạt động khác
-Cháy rừng 6,5 6,1 0,0 2,0 1,1
-Đốt cácsản phẩm 7,5 2,2 0,0 1,5 0,3
-Đốt rác thải 1,1 0,4 0,5 0,2 0,2
-Hàn đốt xây dựng 0,2 0,1 0,0 0,1 0,0
Cộng 15,3 8,8 0,5 3,8 1,6
Bước đầu tìm hiểu mối liên hệ giữa dân số-mơi trường- phát triển bền vững Học viên: Nguyễn Thị Thu
Thủy
17
Dân số và môi trường GVGD: TS. Nguyễn Kim Hồng
Ô nhiễm môi trường làm cho chất lượng môi trường nói chung xuống cấp.
Quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa nhanh thường dẫn đến ô nhiễm các thành
phần môi trường như nước, đất và không khí…nhiều vấn đề vệ sinh môi trường
phức tạp đã phát sinh ở các khu vực thành thị.
Năm 1950, cứ 3 người thì có gần một người sống ở thành phố hay thị trấn.
Hiện nay, gần nửa dân số thế giới sống ở đô thị. Đến năm 2030, tỷ lệ này sẽ là hơn

Ô nhiễm không khí là sự có mặt của các chất trong khí quyển sinh ra từ hoạt
động của con người hoặc các quá trình tự nhiên và nếu nồng độ đủ lớn và thời gian
đủ lâu, chúng sẽ ảnh hưởng đến sự thoải mái, dễ chịu, sức khỏe hoặc lợi ích của
con người hoặc môi trường.
Các hoạt động của con người gây ô nhiễm không khí chính là ô nhiễm do đốt
nhiên liệu và do các phát triển cá ngành công nghiệp.
Quá trình đốt nhiên liệu xảy ra ở khắp mọi nơi. Trong sản phẩm cháy do
nhiên liệu sản sinh ra khi cháy có chứa nhiều loại khí độc hại cho sức khỏe con
người, nhất là khi quá trình cháy không hoàn toàn. Các loại khí độc hại đó là: SO2,
CO2, NOX, hydrocacbon và tro bụi. Người ta phân biệt các nguồn gây ô nhiễm do
đốt nhiên liệu thành các nhóm: Các phương tiện giao thông; Do đun nấu; Các nhà
máy nhiệt điện; Do đốt các loại phế thải đô thị và sinh hoạt (rác thải).
Ô nhiễm do các ngành công nghiệp: công nghiệp gang thép, luyện kim
màu, công nghiệp sản xuất ximăng, công nghiệp hóa chất, công nghiệp lọc dầu.
Hàng năm con người khai thác và sử dụng hàng tỉ tấn than đá, dầu mỏ, khí đốt.
Đồng thời cũng thải vào môi trường một khối lượng lớn các chất thải khác nhau,
làm cho hàm lượng các loại khí độc hại tăng lên nhanh chóng. Hàng năm có: 20 tỉ
tấn cácbon điôxít,1,53 triệu tấn SiO2, Hơn 1 triệu tấn niken, 700 triệu tấn bụi, 1,5
triệu tấn asen, 900 tấn coban, 600.000 tấn kẽm (Zn), hơi thuỷ ngân (Hg), hơi chì
(Pb) và các chất độc hại khác.
Điều đáng lo ngại nhất là con người thải vào không khí các loại khí độc như:
CO2, NOX, CH4, CFC đã gây hiệu ứng nhà kính. Theo nghiên cứu thì chất khí
quan trọng gây hiệu ứng nhà kính là CO2, nó đóng góp 50% vào việc gây hiệu ứng
nhà kính, CH4 là 13%, ozon tầng đối lưu là 7%, nitơ 5%, CFC là 22%, hơi nước ở
tầng bình lưu là 3%.
Nếu như chúng ta không ngăn chặn được hiện tượng hiệu ứng nhà kính thì
trong vòng 30 năm tới mặt nước biển sẽ dâng lên từ 1,5 – 3,5 m (Stepplan Keckes).
Có nhiều khả năng lượng CO2 sẽ tăng gấp đôi vào nửa đầu thế kỷ sau. Điều này sẽ
thúc đẩy quá trình nóng lên của Trái Đất diễn ra nhanh chóng. Nhiẹt độ trung bình
của Trái Đất sẽ tăng khoảng 3,60°C (G.I.Plass), và mỗi thập kỷ sẽ tăng 0,30°C.

Lượng oxy hoà tan (DO) trong nước giảm do các quá trình sinh hoá để
oxy hoá các chất bẩn hữu cơ vừa mới thải vào.
Các vi sinh vật thay đổi về loài và về số lượng. Có xuất hiện các vi trùng
gây bệnh.
Nguồn nước bị ô nhiễm có ảnh hưởng rất lớn đến hệ thuỷ sinh vật và việc sử
dụng nguồn nước vào mục đích cấp nước hoặc mỹ quan của thành phố. Khối lượng
lớn nước thải này đang và sẽ làm nhiều nguồn nước trên phạm vi cả nước ô nhiễm
nghiêm trọng, đặc biệt là các sông, hồ trong các đô thị lớn.
Tình trạng ô nhiễm nước trên thế giới
Trong thập niên 60, ô nhiễm nước lục địa và đại dương gia tăng với nhịp độ
đáng lo ngại. Tiến độ ô nhiễm nước phản ánh trung thực tiến bộ phát triển kỹ nghệ.
Sau đây là vài thí dụ tiêu biểu:
Bước đầu tìm hiểu mối liên hệ giữa dân số-môi trường- phát triển bền vững Học viên: Nguyễn Thị Thu
Thủy
20
Dân số và môi trường GVGD: TS. Nguyễn Kim Hồng
Anh Quốc: Đầu thế kỷ 19, sông Tamise rất sạch. Nó trở thành ống cống lộ
thiên vào giữa thế kỷ này. Các sông khác cũng có tình trạng tương tự trước khi
người ta đưa ra các biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt.
Nước Pháp rộng hơn, kỹ nghệ phân tán, nhiều sông rộng lớn, nhưng vấn đề
cũng không khác bao nhiêu. Cuối thế kỷ 18. các sông lớn và nước ngầm nhiều nơi
không còn dùng làm nước sinh hoạt được nữa, 5.000 km sông của Pháp bị ô nhiễm
mãn tính.
Hoa Kỳ: Vùng Đại hồ bị ô nhiễm nặng, trong đó hồ Erie, Ontario đặc biệt
nghiêm trọng.
Mới đây ngày 13/1/2005, vụ nổ nhà máy hóa dầu ở thành phố Cát Lâm
(Trung Quốc) gây ô nhiễm sông Tùng Hoa với chất benzen, mức độ ô nhiễm dầu
gấp 50 lần mức độ cho phép.
Tình trạng ô nhiễm nước ở Việt Nam
Nước ta có nền công nghiệp chưa phát triển mạnh, các khu công nghiệp và các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status