ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA MÔI TRƯỜNG
Tiểu luận môn học:
Dân số và môi trường
BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU MỐI LIÊN HỆ
DÂN SỐ- MÔI TRƯỜNG - PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
GVHD: TS. Nguyễn Kim Hồng
Học viên: Nguyễn Thị Thu Thủy
TP. Hồ Chí Minh, tháng 3/2008
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
I. KHÁI QUÁT VỀ DÂN SỐ 1
1.1. Dân số và sự gia tăng dân số 1
1.1.1. Gia tăng tự nhiên 1
1.1.2. Gia tăng cơ học 3
1.1.3. Gia tăng dân số 3
1.2. Gia tăng dân số trên thế giới và Việt Nam 3
1.2.1. Gia tăng dân số thế giới 3
1.2.2. Gia tăng dân số Việt Nam 4
II. TÁC ĐỘNG CỦA DÂN SỐ LÊN TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG.
2.1. Mối tưong quan giữa dân số, tài nguyên và môi trường 5
2.1.1. Công thức chung 5
2.1.2. Tóm tắt các ảnh hưởng 7
2.2. Các tác động cụ thể 8
2.2.1. Cạn kiệt tài nguyên 8
2.2.1.1. Cạn kiệt tài nguyên đất 9
2.2.1.2. Cạn kiệt tài nguyên nước 11
2.2.1.3. Suy giảm tài nguyên rừng, đa dạng sinh học 14
2.2.2. Ô nhiễm môi trường 15
kiện môi trường ảnh hưởng lên chúng. Hiện nay người ta quan tâm đặc biệt tới dân
số học loài người, vì sự gia tăng quá nhanh dẫn tới sựbùng nổ dân số như hiện nay.
Một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất là tỉ lệ gia tăng dân số thường được
biểu diễn bằng phần trăm (%).
1.3.1. Gia tăng tự nhiên
Sự biến động dân số trên thế giới (tăng lên hoặc giảm đi) là do hai nhân tố chủ
yếu quyết định: sinh đẻ và tử vong.
a) Tỉ suất sinh thô
Tỉ suất sinh thô là tương quan giữa số trẻ em được sinh ra trong năm so với số
dân trung bình ở cùng thời điểm. Đơn vị tính là phần nghìn (‰). Đây là thước đo
được sử dụng rộng rãi để đánh giá mức sinh.
Trong đó: S: tỉ suất sinh thô
s: số trẻ em sinh ra trong năm
Dtb: dân số trung bình
Có nhiều yếu tố tác động đến tỉ suất sinh làm cho nó thay đổi theo thời gian và
không gian, trong đó quan trọng nhất là các yếu tố tự nhiên – sinh học, phong tục
tập quán và tâm lí xã hội, trình độ phát triển kinh tế - xã hội và các chính sách phát
triển dân số của từng nước.
b) Tỉ suất tử thô
Tỉ suất tử thô là tương quan giữa số người chết trong năm so với số dân trung
bình ở cùng thời điểm. Đơn vị tính là phần nghìn (‰).
Trong đó: T: tỉ suất tử thô
t: tổng số người chết trong năm
Dtb: dân số trung bình
Bước đầu tìm hiểu mối liên hệ giữa dân số-môi trường- phát triển bền vững Học viên: Nguyễn Thị Thu Thủy
1
Dân số và môi trường GVGD: TS. Nguyễn Kim Hồng
Tỉ suất tử thô trên toàn thế giới nói chung, ở các khu vực và trong từng nước
con…
Bước đầu tìm hiểu mối liên hệ giữa dân số-môi trường- phát triển bền vững Học viên: Nguyễn Thị Thu Thủy
2
Dân số và môi trường GVGD: TS. Nguyễn Kim Hồng
1.3.2. Gia tăng cơ học
Con người không chỉ sinh sống trên một lãnh thổ cố định. Do những nguyên
nhân và mục đích khác nhau, họ phải thay đổi nơi cư trú, di chuyển từ một đơn vị
hành chính này sang một đơn vị hành chính khác, thay đổi chỗ ở thường xuyên
trong một khoảng thời gian xác định. Gia tăng cơ học bao gồm hai bộ phận: xuất cư
(những người rời khỏi nơi cư trú) và nhập cư (những người đến nơi cư trú mới). Sự
chênh lệch giữa số người xuất cư và số người nhập cư được gọi là hiện tượng gia
tăng cơ học.
Trên phạm vi toàn thế giới, gia tăng cơ học không ảnh hưởng đến số dân,
nhưng đối với từng khu vực, từng quốc gia và từng địa phương thì nhiều khi nó lại
có ý nghĩa quan trọng, làm thay đổi số lượng dân cư, cơ cấu tuổi, giới và các hiện
tượng kinh tế - xã hội.
1.3.3. Gia tăng dân số
Đây là thước đo phản ánh trung thực, đầy đủ tinh hình biến động dân số của
một quốc gia, một vùng. Nó được thể hiện bằng tổng số giữa tỉ suất gia tăng tự
nhiên và tỉ suất gia tăng cơ học (tính bằng %). Mặc dù gia tăng dân số bao gồm hai
bộ phận cấu thành, song động lực phát triển dân số vẫn là gia tăng tự nhiên.
1.4. Gia tăng dân số trên thế giới và Việt Nam
1.2.1. Gia tăng dân số thế giới
Hiện nay, dân số thế giới gia tăng hàng năm thêm khoảng 90 triệu người, với
tỉ lệ gia tăng là 1,7%. Tỉ lệ gia tăng này khác biệt lớn tùy theo trình độ phát triển
của các nước. Các nước công nghiệp phát triển, tức là các nước giàu thì tỉ lệ này là
0,5%/năm; còn đa số các nước nghèo là 2,1%/năm.
Năm 1950, số lượng người sống ở thành phố chỉ bằng 1/3 của năm 1990 (2,5 tỉ
người). Khi ở các nước phát triển, dân số đô thị chỉ tăng gấp 2 lần thì các nước
đang phát triển tăng lên 5 lần trong cùng thời gian. Bước vào thế kỉ XXI, dân số thế
người)
Số dân tăng thêm sau
10 năm (triệu người)
Tỷ lệ tăng dân số trung bình hằng năm trong kỳ
(%)
1921
1931
1941
1951
1955
1965
1975
1985
1995
2005
15,5
17,7
20,9
23,1
25,1
35,0
47,6
59,9
72,0
83,1
-
2,2
3,2
2,2
9,9
tính từ khi loài người xuất hiện.
Ro: tài nguyên khi mới xuất hiện loài người.
e: cơ số lg tự nhiên (e= 2,7183).
t: thời gian loài người đã sử dụng tài nguyên.
Khi t=0 có nghĩa là lúc mới xuất hiện loài người, lúc này (1)
hoặc (2) sẽ có Rt = Ro đó là tính đúng đắn của công thức.
k: hệ số tiết kiệm tài nguyên
(3) k= PxF/ γ
Trong đó: P: dân số trên hành tinh. Trong những điều kiện khác nhau nếu dân
số càng đông thì tài nguyên còn lại của loài người càng ít (theo
(1) và (2)).
F: Mức độ ô nhiễm môi trường do con người sản sinh ra:
+ Khi mức độ ô nhiễm càng lớn thì F>1,0
+ Khi môi trường trong lành thì F =1,0
Như vậy: F ≥ 1,0
γ: khả năng khai thác khoa học và tái tạo tài nguyên của con người.
Bước đầu tìm hiểu mối liên hệ giữa dân số-môi trường- phát triển bền vững Học viên: Nguyễn Thị Thu Thủy
5
Dân số và môi trường GVGD: TS. Nguyễn Kim Hồng
γ ≤ 1,0.
γ = 1,0 khi con người biết khai thác tài nguyên một cách có
khoa học và biết cách tái tạo tài nguyên.
γ < 1,0 khi con người không biết cách tái tạo tài nguyên và khai
thác tài nguyên không khoa học, không hợp lý.
Công thức 2: Tác động môi trường của sự gia tăng dân số có thể mô tả bằng
công thức đơn giản hơn như sau:
I= C.P.E
Trong đó:
C: Sự gia tăng tiêu thụ tài nguyên trên đơn vị đầu người.
P: Sự gia tăng tuyệt đối dân số thế giới.
triển sử dụng nhiều tài nguyên tái tạo được. Sự phân bố dân cư cũng ảnh hưởng lên
sự cung cấp, khai thác và sử dụng tài nguyên.
2.1.2.2 Dân số lên ô nhiễm
Dân số gây ra ô nhiễm qua việc khai thác và sử dụng tài nguyên. Ô nhiễm có
thể xảy ra từ việc sử dụng một tài nguyên như là nơi chứa rác thải sinh hoạt và
công nghiệp. Ngoài ra khai thác tài nguyên (than đá, dầu và khí) gây ra sự suy thoái
môi trường. Khối lượng tài nguyên và cách thức khai thác và sử dụng chúng xác
định khối lượng ô nhiễm.
2.1.2.3 Tài nguyên lên dân số
Tác động dương. Khám phá và sử dụng tài nguyên mới (dầu, than) làm tăng
dân số, cũng như sự phát triển xã hội, kinh tế, công nghệ. Tài nguyên cho phép con
người di chuyển đến các nơi ở mới cũng như việc lấy và sử dụng tài nguyên trước
đây không được dùng. Thêm vào đó sự phát triển tài nguyên tạo nhiều nơi ở trong
các môi trường khó khăn.
Tác động âm. Cạn kiệt tài nguyên làm giảm dân số và làm giảm sự phát triển
xã hội, kinh tế, công nghệ. Suy thoái môi trường (ô nhiễm không khí) có thể làm
giảm dân số hay tiêu diệt quần thể.
2.1.2.4 Tài nguyên lên ô nhiễm
Khối lượng, cách thức khai thác và sử dụng tài nguyên có thể ảnh hưởng lên ô
nhiễm. Càng khai thác và sử dụng nhiều tài nguyên thì càng gây nhiều ô nhiễm.
Cạn kiệt tài nguyên có thể làm giảm ô nhiễm.
2.1.2.5 Ô nhiễm lên dân số
Ô nhiễm có thể làm giảm dân số cũng như giảm sự phát triển xã hội, kinh tế
và công nghệ. Ô nhiễm làm gia tăng tử vong và bệnh tật nên ảnh hưởng xấu lên
kinh tế và xã hội. Ô nhiễm có thể làm thay đổi thái độ của con người từ đó làm thay
đổi luật lệ, cách thức khai thác và sử dụng tài nguyên.
2.1.2.6 Ô nhiễm lên tài nguyên
Bước đầu tìm hiểu mối liên hệ giữa dân số-môi trường- phát triển bền vững Học viên: Nguyễn Thị Thu Thủy
7
Dân số và môi trường GVGD: TS. Nguyễn Kim Hồng
của tự nhiên và lịch sử.
Trong khoa học môi trường, người ta chia tài nguyên thiên nhiên ra làm 2
loại:
Tài nguyên tái tạo (renewable resources) như là nước, đất, sinh vật… là loại
tài nguyên mà sau một chu trình sử dụng sẽ trở lại dạng ban đầu, nó có thể tự duy
trì và tự bổ sung nếu được quản lý một cách hợp lý. Tuy nhiên, các loại tài nguyên
này có thể bị suy thoái nếu sử dụng và quản lý không hợp lý.
Bước đầu tìm hiểu mối liên hệ giữa dân số-môi trường- phát triển bền vững Học viên: Nguyễn Thị Thu Thủy
8
Dân số và môi trường GVGD: TS. Nguyễn Kim Hồng
Tài nguyên không tái tạo (unrenewable resources) là dạng tài nguyên bị biến
đổi và mất đi sau quá trình sử dụng. Tài nguyên không tái tạo thường giảm dần về
số lượng sau quá trình khai thác của con người. Thí dụ như tài nguyên khoáng sản
và nguồn gen con người là dạng tài nguyên không tái tạo được.
Nhìn chung, tài nguyên là hữu hạn và phải biết khai thác sử dụng và bảo vệ
một cách hợp lý.
Vì dân số thế giới tiếp tục gia tăng, nhiều nguồn tài nguyên cần thiết cho sự
sống còn của con người và hàng triệu sinh vật khác sẽ ít đi. Các nước đang phát
triển thì sử dụng quá đáng các nguồn tài nguyên có thể tái tạo được, trong khi các
nước phát triển thì tiêu xài quá mức các nguồn tài nguyên không thể tái tạo được.
Theo báo cáo của Quĩ quốc tế bảo vệ động vật hoang dã (WWF), hiện nay con
người tiêu thụ nhiều hơn 20% so với khả năng tạo ra nguồn tài nguyên mới của trái
đất. Các vùng đất ngập nước, rừng, savan, cửa sông, ngư trường đánh bắt ven biển
và các nơi cư trú khác tham gia vào chu trình khí, nước và chất dinh dưỡng cho tất
cả sinh vật sống trên Trái đất đang bị huỷ hoại.
Do nhu cầu của con người đối với lương thực, nước ngọt, gỗ, sợi và nhiên
liệu, đất đai ngày càng bị khai thác cho nông nghiệp, trong 60 năm qua, diện tích
được khai thác nhiều hơn cả thế kỷ 80 và 90 gộp lại.
Ước tính 24% diện tích bề mặt Trái đất đang được canh tác.
Lượng nước bơm hút lên từ các sông và hồ đã tăng gấp đôi trong thời gian
độ nhanh. Xói mòn, rửa trôi, khô hạn, sạt lở, mặn hoá, phèn hoá, v.v. đang xảy ra
phổ biến ở nhiều nơi đã làm cho khoảng 50% trong số 33 triệu ha đất tự nhiên được
coi là “có vấn đề suy thoái”.
Bảng 2.1. Suy giảm diện tích đất bình quân đầu người trên thế giới(ha/người)
Năm
tính
-10
6
-10
5
-10
4
0 1650 1840 1930 1994 2010
Dân số
(triệu) O,125 1,0 5,0 200 545 1000 2000 5000 7000
Diện
tích
(ha/ng)
12.10
4
15000 3000 75 27,5 15 7,5 3,0 1,88
Bước đầu tìm hiểu mối liên hệ giữa dân số-môi trường- phát triển bền vững Học viên: Nguyễn Thị Thu Thủy
10
Dân số và môi trường GVGD: TS. Nguyễn Kim Hồng
Bảng 2.2. Sự suy giảm diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người ở Việt Nam
Năm Dân số (triệu
người)
Diện tích đất nông
nghiệp (triệu ha)
2.2.1.2. Cạn kiệt tài nguyên nước
Nước vừa là một nguồn tài nguyên thiết yếu đối với con người vừa là nguồn
tài nguyên đặc biệt, sự phân bố của nó không hề tương ứng với những nhu cầu
đang ngày càng tăng của con người. Trong tổng lượng nước của toàn thế giới, có
tới 97% là nước mặn, và trong số 3% nước ngọt có thể sử dụng, có tới 70% tồn tại
dưới dạng băng ở hai vùng cực và tuyết trên những đỉnh núi cao. Nước ngọt có thể
sử dụng chỉ chiếm 1% tổng lượng nước toàn cầu. Về mặt địa lí, sự phân bố của
nước là không đồng đều. 15% lượng nước ngọt toàn cầu được giữ tại khu vực
Amazon. Ngay trong khu vực Địa trung hải, các nước giàu về tài nguyên nước
(Pháp, Ý, Thổ Nhĩ Kì, Nam Tư cũ) chiếm tới 2/3 lượng nước toàn khu vực. Tình
trạng này dẫn đến sự phân hóa những nước giàu và nghèo tính theo tỉ lệ tài nguyên
nước trên đầu người: giao động từ chưa đến 100m3/năm đến 10.000m3/năm. Dưới
ngưỡng 1000m3/năm/đầu người những căng thẳng bắt đầu xuất hiện và ngưỡng
thiếu nước được xác định ở mức 500m3/năm. Không những thế lượng nước lại có
Bước đầu tìm hiểu mối liên hệ giữa dân số-môi trường- phát triển bền vững Học viên: Nguyễn Thị Thu Thủy
11
Dân số và môi trường GVGD: TS. Nguyễn Kim Hồng
sự phân bố không đồng đều theo thời gian. Có một sự mất cân đối về lượng nước
giữa mùa khô hạn và mùa mưa và giữa các năm.
Trong vòng một thế kỉ vừa qua, trong khi dân số toàn cầu tăng lên ba lần thì
mức tiêu thụ nước đã tăng lên sáu lần, trong đó nông nghiệp tiêu thụ tới 75% lượng
nước ngọt toàn cầu và nhu cầu tưới tiêu của nông nghiệp lại không ngừng tăng lên
cùng với sự phát triển dân số. Ngay cả những nước có khí hậu ôn hòa như Pháp thì
lượng nước dành cho nông nghiệp cũng chiếm tới 30% tổng lượng nhu cầu.
Tiêu thụ ở những thành phố lớn cũng không ngừng tăng lên, nhất là trong hoạt
động du lịch. Tính trung bình, một khách du lịch trong một khách sạn hạng sang
tiêu thụ từ 500 đến 800l nước/ngày, gấp nhiều lần mức tiêu thụ của cư dân bản địa.
Kèm theo là các dịch vụ giải trí và vệ sinh. Một sân golf hằng năm tiêu thụ khoảng
10.000m
3
/người,
nếu dân số nước ta tăng lên 150 triệu người thì chỉ còn đạt 2467 m
3
/người, năm xấp
xỉ với những quốc gia hiếm nước. Hiện nay lượng nước bình quân đầu người của
Việt Nam chỉ khoảng 3.840m
3
/người/năm, thấp hơn 160m3 so với quy định của thế
giới (trên 4.000m
3
/người/năm).
Biểu đồ 2.1: Lượng nước đảm bảo cho cho mỗi người dân trong một năm,
xu hướng thời gian
(Nguồn: GS. Nguyễn Viết Phổ, PGS.TS Vũ Văn Tuấn, PGS. TS Trần Thanh Xuân
– Tài nguyên nước Việt Nam; NXB Nông nghiệp 2003)
Bước đầu tìm hiểu mối liên hệ giữa dân số-môi trường- phát triển bền vững Học viên: Nguyễn Thị Thu Thủy
13
Dân số và môi trường GVGD: TS. Nguyễn Kim Hồng
2.2.1.3. Suy giảm tài nguyên rừng, đa dạng sinh học
Không gian sống của con người luôn luôn cần mở rộng. Do đó con người luôn
giành giật với sinh vật mà điển hình nhất chính là tình trạng phá rừng diễn ra khắp
nơi trên thế giới.
Nhiều diện tích đất rừng bị phá hoại nghiêm trọng. Con người phá rừng với
các mục đích mở rộng diện tích đất nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu sản xuất lương
thực, trong đó những người sản xuất nhỏ du canh là nguyên nhân quan trọng nhất,
nhu cầu lấy củi, chăn thả gia súc, khai thác gỗ và các sản phẩm rừng, phá rừng để
trồng cây công nghiệp và cây đặc sản. Ngoài ra còn có một nguyên nhân khác làm
giảm diện tích rừng là do việc cháy rừng nhưng nguyên nhân sâu xa cũng là do các
hoạt động của con người gây ra cháy rừng.
đến sản xuất nông lâm nghiệp. Bên cạnh đó, mất rừng còn làm giảm đa dạng sinh
học, gây mất cân bằng sinh thái và con người phải nhận hậu quả về thiên tai , lũ lụt
do không có rừng bảo vệ.
Cùng với rừng, đa dạng sinh học cũng đóng vai trò quan trọng đối với con
người và thiên nhiên. Từ nhiều thập kỷ nay, hoạt động của con người đã tác động
mạnh tới thế giới sinh vật, được xem là tương đương hoặc thậm chí lớn hơn nhiều
so với các đợt tuyệt chủng lớn nhất trong thời tiền sử. Hơn 11.000 loài động vật và
thực vật hiện đang đứng trước nguy cơ bị tiệt chủng, 12% loài chim, 25% loài động
vật có vú, 32% loài lưỡng cư v.v đang có nguy cơ tuyệt chủng, khoảng 1/3 dải
san hô sẽ biến mất trong vòng 30 năm tới. Tốc độ giảm đa dạng sinh học do hoạt
động của con người trong 50 năm qua nhanh hơn bất kỳ giai đoạn nào trong lịch sử
và số loài động thực vật tuyệt chủng trong 100 năm qua đã tăng cao gấp 1.000 lần.
Trữ lượng cá trên thế giới đã giảm tới 90% so với thời kỳ bắt đầu khai sinh ngành
công nghiệp đánh cá. Các loài cá nước ngọt đang bị đe doạ tuyệt giống với khoảng
20% của chúng ở 20 nước đã được IVCN-Sách Đỏ của Liên Minh Bảo tồn Thế giới
đánh giá một cách toàn diện. Vào khoảng 35% các loài rùa cũng bị đe doạ như vậy.
Việt Nam là nước có mức độ đa dạng sinh học đứng thứ 10 thế giới nhưng tốc
độ suy giảm được xếp vào loại nhanh nhất. Nhiều hệ sinh thái tự nhiên bị xâm
phạm, suy giảm diện tích. Trong không đầy 50 năm, diện tích rừng ngập mặn suy
giảm gần 3/4. Sự giảm sút nhiều loài động vật trên đồng ruộng đã làm mất căn
bằng sinh thái, dẫn đến bùng phát dịch bệnh. Hiện Việt Nam còn trên 800 loài động
vật và thực vật hiếm, có nguy cơ bị tuyệt chủng, dễ bị tổn thương hay đang bị đe dọa.
II.2.2.Ô nhiễm môi trường
Ô nhiễm môi trường là sự thay đổi chất lượng môi trường theo chiều hướng
tiêu cực đối với mục đích sử dụng môi trường. Ô nhiễm môi trường là sự làm thay
đổi tính chất của môi trường, vi phạm tiêu chuẩn MT. Chất gây ô nhiễm là những
nhân tố làm cho MT trở thành độc hại.
Môi trường đất, nước, không khí bị ô nhiễm bởi các loại chất thải do hoạt
động cuả con người. Dân số càng tăng thì mức độ ô nhiễm càng cao và chính con
người là chủ thể tạo ra ô nhiễm do các hoạt động của mình.
Cộng 58,1 1,2 0,8 15,1 7,3
2.Đốt nhiên liệu
-Than 0,7 7,4 18,3 0,2 3,6
-Dầu,xăng 0,1 0,3 3,9 0,1 0,9
-Khí đốt tự nhiên 0,0 0,2 0,0 0,0 4,1
-Gỗ,củi 0,9 0,2 0,0 0,4 0,2
Cộng 1,7 8,1 22,2 0,7 8,8
3.Quá trình sản xuất
công nghiệp
8,8 6,8 6,6 4,2 0,2
4.Xử lý chất thải rắn 7,1 1,0 0,1 1,5 0,5
5.Hoạt động khác
-Cháy rừng 6,5 6,1 0,0 2,0 1,1
-Đốt cácsản phẩm 7,5 2,2 0,0 1,5 0,3
-Đốt rác thải 1,1 0,4 0,5 0,2 0,2
-Hàn đốt xây dựng 0,2 0,1 0,0 0,1 0,0
Cộng 15,3 8,8 0,5 3,8 1,6
Nguoàn gaây oâ nhieãm Taùc Nhaân oâ nhieãm chính
Bước đầu tìm hiểu mối liên hệ giữa dân số-môi trường- phát triển bền vững Học viên: Nguyễn Thị Thu Thủy
16
Dân số và mơi trường GVGD: TS. Nguyễn Kim Hồng
CO Bụi SO
4
C
n
H
m
NO
x
1.Giaothôngvậntải
phần môi trường như nước, đất và không khí…nhiều vấn đề vệ sinh môi trường
phức tạp đã phát sinh ở các khu vực thành thị.
Năm 1950, cứ 3 người thì có gần một người sống ở thành phố hay thị trấn.
Hiện nay, gần nửa dân số thế giới sống ở đô thị. Đến năm 2030, tỷ lệ này sẽ là hơn
60%. Trong một phần tư thế kỷ tới, tăng dân số hầu hết diễn ra ở các đô thị thuộc
các nước kém phát triển. Tăng dân số nhanh nhất sẽ diễn ra ở các đô thị có số dân
dưới 500.000 người chứ không phải là các thành phố lớn hơn.
Năm 2000, thế giới có 402 thành phố với số dân từ 1 đến 5 triệu người; và 22
thành phố có số dân từ 5 đến 10 triệu người. Năm 1950, New York là thành phố
duy nhất có số dân hơn 10 triệu. Đến năm 2015, có 23 thành phố như New York,
trong đó 19 thành phố ở các nước đang phát triển.
Tại các nước phát triển hơn, 75% dân số sống trong đô thị. Ở châu Á, tỷ lệ này là
dưới 40%, nhưng số dân đô thị của cả khu vực này là 1,5 tỷ người, nhiều hơn châu
Âu, Châu Mỹ La tinh, châu Đại dương và Bắc Mỹ cộng lại. Châu Phi là châu lục có
tốc độ đô thị hoá thấp nhất, song dân số đô thị tăng nhanh nhất.
Đô thị hoá và phát triển kinh tế thường đi đôi với mức tiêu thụ tài nguyên và tỷ
lệ phát sinh chất thải tính theo đầu người tăng lên. Dân thành thị ở các nước phát
triển phát sinh chất thải nhiều hơn các nước đang phát triển 6 lần.
Dân số và lượng rác tỷ lệ thuận với nhau, tuy với hệ số rất cao. Theo một
nghiên cứu thì tỷ lệ tăng dân số (tự nhiên) khoảng 2%/năm, trong khi tỷ lệ tăng rác
lại đến 30-40%/năm, như vậy có thể xác định dân số cứ tăng 1% thì lượng rác tăng
tương ứng 15-20% (cách tính trên chưa xét đến yếu tố tăng dân số cơ học). Các
thành phố có thể phải chi đến hơn 30% ngân sách để tiêu huỷ chất thải, chủ yếu chi
phí cho việc vận chuyển. Các khoản chi này thường đội lên rất nhiều do diện tích
đất thích hợp bị thu hẹp khi mà các khu đô thị mở rộng và giá đất tăng lên. Chi phí
quản lý chất thải rắn ở các nước đang phát triển có thể lên tới 50% ngân sách hàng
năm. Ngoài ra, còn thiếu cơ sở hạ tầng để xử lý an toàn chất thải. Khoảng 30% đến
60% lượng chất thải rắn đô thị không được thu gom và chỉ có dưới 50% dân số đô
thị được cung cấp dịch vụ thu gom.
2.2.2.1. Ô nhiễm không khí
Có nhiều khả năng lượng CO2 sẽ tăng gấp đôi vào nửa đầu thế kỷ sau. Điều này sẽ
thúc đẩy quá trình nóng lên của Trái Đất diễn ra nhanh chóng. Nhiẹt độ trung bình
của Trái Đất sẽ tăng khoảng 3,60°C (G.I.Plass), và mỗi thập kỷ sẽ tăng 0,30°C.
Theo các tài liệu khí hậu quốc tế, trong vòng hơn 130 năm qua nhiệt độ Trái
Đất tăng 0,40°C. Tại hội nghị khí hậu tại Châu Âu được tổ chức gần đây, các nhà
khí hậu học trên thế giới đã đưa ra dự báo rằng đến năm 2050 nhiệt độ của Trái Đất
sẽ tăng thêm 1,5 – 4,50°C nếu như con người không có biện pháp hữu hiệu để khắc
phục hiện tượng hiệu ứng nhà kính.
Một hậu quả nữa của ô nhiễm khí quyển là hiện tượng lỗ thủng tầng ozone.
CFC là "kẻ phá hoại" chính của tầng ozon. Sau khi chịu tác động của khí CFC và
một số loại chất độc hại khác thì tầng ozon sẽ bị mỏng dần rồi thủng, không còn
làm tròn trách nhiệm của một tấm lá chắn bảo vệ mặt đất khỏi bức xạ UV-B, làm
cho lượng bức xạ UV-B tăng lên, gây hậu quả xấu cho sức khoẻ của con người và
các sinh vật sống trên mặt đất.
Bước đầu tìm hiểu mối liên hệ giữa dân số-môi trường- phát triển bền vững Học viên: Nguyễn Thị Thu Thủy
19
Dân số và môi trường GVGD: TS. Nguyễn Kim Hồng
2.2.2.2. Ô nhiễm nước
Sự ô nhiễm môi trường nước là sự thay đổi thành phần và tính chất của nước
gây ảnh hưởng đến hoạt động sống bình thường của con người và sinh vật. Khi sự
thay đổi thành phần và tính chất của nước vượt quá một ngưỡng cho phép thì sự ô
nhiễm đã ở mức nguy hiểm và gây ra một số bệnh ở người.
Nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước hầu hết là do hoạt động sản xuất và
sinh hoạt của con người tạo nên như: nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp,
nước thải nông nghiệp thường cuốn theo chất rắn, chất hữu cơ, thuốc trừ sâu, phân
bón gây ô nhiễm nước mặt, ô nhiễm nước ngầm, nước biển…
Dấu hiệu đặc trưng của nguồn nước bị ô nhiễm:
Có xuất hiện các chất nổi trên bề mặt nước và các cặn lắng chìm xuống đáy
nguồn.
Thay đổi tính chất lý học (độ trong, màu, mùi, nhiệt độ…)
Nước ta có nền công nghiệp chưa phát triển mạnh, các khu công nghiệp và các
đô thị chưa đông lắm nhưng tình trạng ô nhiễm nước đã xảy ra ở nhiều nơi với các
mức độ nghiêm trọng khác nhau.
Nông nghiệp là ngành sử dụng nhiều nước nhất, dùng để tưới lúa và hoa
màu, chủ yếu là ở đồng bằng sông Cửu Long và sông Hồng. Việc sử dụng nông
dược và phân bón hoá học càng góp thêm phần ô nhiễm môi trường nông thôn.
Công nghiệp là ngành làm ô nhiễm nước quan trọng, mỗi ngành có một
loại nước thải khác nhau. Khu công nghiệp Thái Nguyên thải nước biến Sông Cầu
thành màu đen, mặt nước sủi bọt trên chiều dài hàng chục cây số. Khu công nghiệp
Việt Trì xả mỗi ngày hàng ngàn mét khối nước thải của nhà máy hoá chất, thuốc
trừ sâu, giấy, dệt… xuống Sông Hồng làm nước bị nhiễm bẩn đáng kể. Khu công
nghiệp Biên Hoà và TP.HCM tạo ra nguồn nước thải công nghiệp và sinh hoạt rất
lớn, làm nhiễm bẩn tất cả các sông rạch ở đây và cả vùng phụ cận.
Nước dùng trong sinh hoạt của dân cư ngày càng tăng nhanh do tăng dân
số và các đô thị. Nước cống từ nước thải sinh hoạt cộng với nước thải của các cơ sở
tiểu thủ công nghiệp trong khu dân cư là đặc trưng ô nhiễm của các đô thị ở nước
ta.
Các loại nước thải hầu hết đều được trực tiếp thải ra môi trường, chưa qua
xử. Theo số liệu thống kê, hàng năm có khoảng hơn 500 tỷ m3 nước thải (trong đó
phần lớn là nước thải công nghiệp) thải vào các nguồn nước tự nhiên và cứ sau 10
năm thì chỉ số này tăng gấp đôi. Khối lượng nước thải này đã làm ô nhiễm hơn
40% lưu lượng nước ổn định của các dòng sông trên trái đất.
Ở nhiều đoạn sông, kênh rạch đã bị bẩn vượt quá tiêu chuẩn cho phép, ảnh
hưởng trực tiếp đến sản xuất và đời sống, đến các hệ sinh thái nước ngọt. Ví dụ khu
vực Hà Nội nước các sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu rất bẩn, màu sẩm, mùi thối,
tanh, hàm lượng ôxy hòa tan rất thấp nhiều khi bằng 0, lượng BOD5 cao trên
50mg/l, NH4+ trên 10mg/l, NO2- cũng tăng vọt, H2S gần 30mg/l. ở khu vựcthành
phố Hồ Chí Minh nước kênh Tham Luông màu đen xẫm, thối, chất hữu cơ cao
COD có khi tới 596 mg/l, BOD5 184,5mg/l. Hàm lượng oxy hòa tan thường bằng
0. Nước sông Sài Gòn có hàm lượng CO2 giảm, NH4+ tăng sau khi nhận nước của