1. Đặt vấn đề
Thời kỳ tiền sử và sơ sử, người Việt cổ đã quan niệm về linh hồn và có niềm tin về
thế giới bên kia, con người đã nhận thức về cái chết, từ đó đặt nhiều tục lệ, nghi lễ khi
một người nào đó qua đời. Ví dụ, từ xa xưa, người Việt cổ đã biết chôn người chết
trong hang hoặc gần bếp lửa cùng với đồ tuỳ tang (điều này thể hiện được một phần
địa vị xã hội của người chết). Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu cũng đã phát hiện ra
nhiều mộ táng với nhiều cách chôn khác nhau ở các di tích văn hoá cổ như nền văn
hoá Hoà Bình ở tỉnh Hoà Bình, nền văn hoá Bắc Sơn ở tỉnh Lạng Sơn…
Qua tiến trình lịch sử dân tộc và lịch sử văn hoá lâu dài, đến xuyên suốt những thời
kỳ sau, thời kỳ văn hoá Việt Nam tiếp xúc và giao lưu với văn hoá khu vực, thì trong
quan điểm tư duy của người Việt đã phần nào bị ảnh hưởng và tác động mạnh mẽ bởi
các nền văn hoá bên ngoài, đặc biệt là nền văn hóa Trung Hoa. Điều này không những
không làm mất đi những giá trị văn hoá truyền thống mà còn bồi đắp thêm để văn hoá
truyền thống phong phú đặc sắc hơn. Nó ảnh hưỏng rộng khắp đến các lĩnh vực văn
hoá của người Việt như: tín ngưỡng, phong tục, nghệ thuật… Tang ma là một trong
những yếu tố của tín ngưỡng, phong tục người Việt, do đó, nó cũng chịu ảnh hưởng
phần nào của việc giao lưu, tiếp biến văn hoá nhưng vẫn mang đậm truyền thống dân
tộc. Nghiên cứu về nghi thức tang ma không phải là một đề tài mới, vì tang ma là một
trong những nghi lễ vòng đời quan trọng của con người, ở mọi nơi hàng ngày con
người vẫn phải chết đi, vì thế các phong tục tang ma không xa lạ với chúng ta. Hơn
nữa, phong tục tang ma cũng đóng vai trò quan trọng trong nền văn hoá ở nước ta.
Trong phong trào nếp sống mới, đặc biệt là ở đô thị, việc tang ngày nay được
đơn giản hóa rất nhiều. Những tục lệ, nghi thức cổ rưởm rà được lược đi nhiều, chỉ tổ
chức khâm liệm rồi chuyển cữu ra phòng nghi thức để mọi người tới viếng trong
khoảng hai, ba giờ, rồi tiếp đó làm lễ vĩnh biệt người quá cố, sau bài điếu văn là linh
cữu được chuyển lên xe tang hướng về nghĩa trang.
Tuy nhiên, với đặc trưng của văn hoá nông thôn, kế thừa những tín ngưỡng từ xa xưa,
việc tang ma tại các vùng quê vẫn mang đậm nét cổ truyền, chỉ tuỳ hoàn cảnh kinh tế
mà gia giảm, thêm bớt. Để nhằm hiểu rõ và sâu sắc hơn những ý nghĩa xung quanh
vấn đề tang ma ở nông thôn Việt Nam, bài viết này tìm hiểu về phong tục tang ma tại
vùng quê Thái Sơn- một vùng nông thôn của huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang qua
Tang chế là phép tắc quy định việc đưa đám và để tang.
Tang lễ ( lễ tang) là nghi lễ chôn cất người chết.
Từ đó có những từ: tang phục, tang sự, tang gia, tang chủ, đám tang, để tang, bịt khăn
tang, đeo băng tang, mãn tang, xả tang, tống tang, hộ tang…
Ma ( ma chay) là lễ chôn cất và cúng người chết theo tục lệ cổ truyền. Đám ma còn
gọi là đám tang.
Như vậy: tang ma có nghĩa là lễ chôn cất cúng kính cùng những quy định về việc để
tang và đưa đám người thân mới chết.
Khi có tang ma, người ta thường đem tiền hay đồ lễ đến việc để tỏ lòng thương tiếc
người chết và thăm hỏi, chia buồn cùng tang quyến, gọi là phúng viếng hay phúng
điếu. Điếu ca là bài thơ tỏ lòng thương tiếc người đã chết. Điếu văn là bài văn tỏ lòng
thương tiếc người chết (đọc khi làm lễ tang).
Con người sinh ra, lớn lên, học hành, thi cử, dựng vợ gả chồng, sinh con đẻ cái, tạo
lập công danh sự nghiệp, dù có hiển hách đến đâu cuối cùng cũng theo quy luật sinh
lão bệnh tử trở về cát bụi, để lại bao niềm tiếc thương vô hạn cho người ở lại.
Trong việc tang ma, người Việt Nam bị giằng kéo giữa hai thái cực: Một bên quan
niệm coi cái chết là bước vào cuộc sống mới ở thế giới bên khác, nên việc tang ma
được coi là việc đưa tiễn người chết sang một thế giới khác, một kiếp đầu thai khác.
Một bên quan niệm trần tục coi chết là hết nên việc tang ma thể hiện niềm tiếc thương
đau xót của những người còn sống với người đã chết.
Khác với Vinh Hồ, Nguyễn Đăng Duy trong cuốn “ Văn hoá tâm linh” thì cho rằng:
Tang là cây dâu, nương dâu, ta thường nói cuộc bể dâu để chỉ về sự biến đổi tang
thương, đó là sự tiêu biến, tiêu đi, mất đi. Tang ma chỉ sự mất đi, biến đổi của đời
người. Người Việt xưa thường quan niệm cái chết theo Nho giáo, “ Tử tất quy thổ,
cốt nhục tê ư hạ âm vi giả thổ, kỳ khí phát dương ư thượng vi chiêu minh”.( Tức là
chết tất trở về với đất, xương thịt xuống thấp tan biến vào trong đất, còn khí dương
bay lên cao trong sáng rực rỡ).
Theo tác giả Nguyệt Hạ trong cuốn “Phong tục hôn lễ- tang lễ- tế lễ Việt Nam” thì
Tang là nghi lễ chôn cất người chết để bày tỏ lòng thương tiếc đối với người qua đời.
Khi loài người còn ở thời sơ khai, lạc hậu, việc chôn cất không được đặt ra và thường
chết thì con trai vào tắm rửa, mẹ chết thì con gái vào tắm rửa. Lấy vuông vải dấp vào
nước thơm rồi lau ngũ vị, lau mặt, lau mình cho sạch rồi lấy lược chải tóc lấy sợi vải
buộc tóc, lấy khăn khác lau hai tay hai chân, lại lấy dao cắt móng tay, móng chân,
mặc quần áo cho chỉnh, đeo găng tay và tất chân. Móng tay và móng chân gói lại, trên
để trên, dưới để dưới, để vào trong quan tài. Dao, lược, thìa và nước đem đi chôn;
rước thi thể đặt lên giường.
Trong bức ảnh trên, người chết là một người phụ nữ cao niên, được thọ nên mặc y
phục màu đỏ
“ Khi chồng tôi mất thì các con tôi đi làm ăn xa chưa về được, tôi phải tự tay tắm
rửa, thay quần áo cho ông ấy. Tội lắm! Có các dì mua quần áo mới cho ông ấy chứ
tôi có tâm trí nào mà nghĩ đến nữa. Theo các đám khác thì tôi tắm cho ông ấy bằng
nước thơm, lần đó là tôi lấy nước ấm có bỏ lá mùi vào. Lá chanh cũng được. Vừa lau
người mà tôi không dám khóc, người ta bảo trước lúc phát tang không được khóc, sợ
người chết lưu luyến mà không siêu thoát được.” (Bà X, phiếu số 15).
Có thể thấy, nghi lễ đặt ra là một chuyện và việc thực hành nghi lễ lại cũng khác bởi
tuỳ vào từng hoàn cảnh, điều kiện mà việc thực hành nghi lễ đó có thống nhất và hệ
thống hay không.
3.2. Lễ phạn hàm hay lễ ngậm hàn
Nghi lễ này vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay. Theo tục xưa, bỏ gạo và tiền vào
miệng để tránh tà ma, ác quỷ đến cướp đoạt, để tiễn vong hồn đi đường xa được siêu
thoát. Theo “ Thọ mai gia lễ”, lễ này được tiến hành như sau: lấy ít gạo nếp xát cho
sạch, ba đồng tiền mài cho sáng ( nhà giàu có thể dùng vàng hoặc ngọc trai). Tang
chủ vào quỳ khóc, người chấp sự cũng quỳ, cáo từ rằng : “nay xin phạn hàm, phục
duy hâm nạp”. Người chấp sự lần lượt xướng : “Sơ phạn hàm, tái phạn hàm, tam phạn
hàm”. Tang chủ ba lần, mỗi lần xúc ít gạo và một đồng tiền tra vào mồm bên phải rồi
bên trái, cuối cùng vào giữa. Xong, bóp mồm lại, phủ mặt như cũ.
Nghi thức này tiến hành trong đám tang đã phản ánh quan niệm của người dân về sự
tồn tại của linh hồn và cuộc sống của linh hồn sau khi chết. Có nhiều quan niệm của
người dân xung quanh việc cho tiền và gạo vào miệng người chết:
( Anh Th, phiếu số 11).
“ Phải kiêngkhông để cho nước mắt rơi vào thi hài, sợ không mát, sau này con cháu
trong nhà sẽ khó làm ăn”. ( Bác M, phiếu số 12).
“Những người hợp vía người chết, không cẩn thận đến là dễ bị hồn người chết nhập
vào lắm. Tôi từng chứng kiến mấy người đi đám về là lăn ra ốm, có người như mất
hồn. Nói chung, đi đám là phải cẩn thận”. ( Cô B, phiếu số 14).
“ Tôi thì thấy bao giờ người ta cũng để bát cơm, quả trứng ở trước quan tài, chắc là
để người chết khi nào đói thì về ăn”. ( Chị C, phiếu số 6).
Khi nhập quan, thông thường có bát cơm lồng chặt với quả trứng luộc, đặt giữa
hai chiếc đũa bông cắm thẳng. Theo Nguyễn Đăng Duy, quả trứng với ý nghĩa trong
đó có đủ cả âm dương, đủ điều kiện cho sự phát triển. Cũng là để ghi nhớ khởi thuỷ tổ
tiên từ trong trứng do bà Âu Cơ sinh ra. Bát cơm nhắc nhớ tố chất hình thành, nuôi
sống con người là hạt gạo, bát cơm. Hình ảnh bát cơm, quả trứng (đất- âm) cắm giữa
đũa bông là mây ( trời- dương) thể hiện trời đất, âm dương hoà hợp, nhắc lại sự biến
hoá âm dương sinh ra con người. Cũng là để sau sự chết mất đi, sự sống sinh sôi, nảy
nở.
Theo Phạm Minh Thảo, bát cơm thể hiện sự đầy đặn, lòng hiếu thảo. Quả trứng
( sau này sẽ là con gà) là dấu tích của việc thờ thần Mặt Trời.
Mỗi nhà nghiên cứu lý giải theo một hướng khác nhau, từ những cách tiếp cận, quan
niệm khác nhau. Tuy nhiên, có thể hiểu những điều kiêng kỵ đó theo một khía cạnh
khoa học cũng rất hợp lý như sau:
Lý giải việc nước mắt rơi vào thi hài theo khoa học thì hoàn toàn khác, nhỏ
nước mắt vào thi hài cũng giống như việc kiêng không cho mèo nhảy qua xác chết,
có bát cơm và quả trứng phía trước quan tài, việc dỡ ngói hoặc lá tranh ở nhà chật
hẹp, thai phụ, sản phụ không nên ở gần linh cữu khi nhập quan, đốt đèn hương xung
quanh linh cữu… tất cả những điều kiêng kỵ này đều xuất phát từ kinh nghiệm dân
gian, tuy chưa có chứng thực khoa học nhưng rất hợp về việc cân bằng âm dương.
Trên nắp quan tài thường có khúc chuối để cắm hương, hoặc khi rước tang, bao
giờ cũng có bốn cây chuối làm bàn khiêng di ảnh. Đó là do cây chuối là đại hàn chi
phẩm, chuối rất lạnh, đầy yếu tố âm, người chết cũng rất lạnh, đầy âm khí, nên phải
chết qua sông, qua suối một cách dễ dàng. Đồng thời, tiền đó cũng là tiền hối lộ cho
ma quỷ ko quấy nhiễu người chết trên đường siêu thoát.
Tiếp theo là hương án bày giá gương, bát hương, mâm hoa quả… Trướng đối của con
cháu thân thuộc và bạn hữu phúng đều căng lên trục và đem đi rước. Ở thôn quê
trướng đối thường là vải trắng chữ viết mực đen; những năm gần đây, người ta
thường dùng tơ lụa nhung màu sắc rực rỡ thêu vẽ.
Con trai trưởng hoặc cháu trưởng cầm di ảnh đi trước xe tang. Đi sau xe sẽ là con
cháu khóc than, níu giữ không cho những người đẩy xe mang người thân của mình đi.
4. Một vài nét về lễ tang tại Hiệp Hoà- Bắc Giang trong
những năm gần đây
4.1. Quan niệm về cái chết
Các cụ Nho học xưa truyền lại câu “Vị tri sinh, yên tri tử”, việc sống còn chưa biết
hết, biết làm sao được sự chết. Cửa miệng dân gian ta cũng có câu “Khi sống thì
chẳng thấy đâu, lúc chết bày cỗ giết trâu tế ruồi”. Như vậy, sự sống, khi sống là cái
quý giá thiêng liêng nhất. Không lo cho cái sống chu đáo, tốt đẹp thì đến khi lo cho
cái chết dù thế nào đi nữa cũng là mỉa mai. Xã Thái Sơn, Hiệp Hoà, Bắc Giang là một
vùng quê có điều kiện xã hội nông nghiệp từ lâu đời, dân số còn thưa, đất đai còn
rộng, người dân quan niệm rằng, tang lễ là tổng hợp những hoạt động của người sống
dành cho người chết, qua đó thể hiện quan niệm sinh tử của con người. Qua kết quả
nghiên cứu PVS 15 người dân tại thôn Quế Sơn, xã Thái Sơn có thể nhận định một số
quan niệm xung quanh vấn đề sinh tử như sau:
Qua tiến hành quan sát và PVS cho thấy trong nhận thức của người dân nông thôn
nơi đây cho rằng, chết không có nghĩa là chấm dứt tất cả mà họ cho rằng có linh hồn
người chết và có thế giới bên kia.
Ngày bố tôi mới mất, mẹ tôi bảo thường thấy ông trở về, lúc thì đi lại trong phòng,
lúc thì ngồi uống trà ngoài gian nhà giống y hệt như lúc ông còn sống. ( Chị H, phiếu
số 1).
Lúc sống thế nào thì chết đi vẫn mang hình dạng đó thôi, chỉ khác là con người có thể
xác vật chất còn linh hồn thì giống như cái bong, có thể nhập vào người khác, bóng
ma lúc ẩn lúc hiện nên có lúc nhìn thấy, có lúc thì không nhìn thấy, có người có thể
sức gần gũi và cảm nhận được một cách trực quan. Bởi lẽ, họ quan niệm rằng, linh
hồn người chết không phải cư ngụ trên trời hay dưới đất, cũng chẳng phải ở nơi nào
đó quá xa xôi. Linh hồn người chết ở trong ngôi mộ, bàn thờ là nơi cư ngụ khi linh
hồn trở về với những người thân thiết của mình.
Với logic như vậy, người dân tin là họ và linh hồn người chết có thể liên hệ, giao tiếp
được với nhau ( 9/15 người tuyệt đối tin tưởng, 6/15 người bán tín bán nghi), nghĩa là
có tồn tại mối quan hệ giữa thế giới hiện thực họ đang sống với thế giới bên kia. Cụ
thể, khi thờ cúng người chết, người dân thường cúng những món ăn, đồ uống ngon
nhất và gửi cả đồ dùng sinh hoạt cho tổ tiên.
“ Khi bố tôi mới mất, tôi thường xuyên nằm mơ thấy bố tôi trở về nói rằng ở dưới ấy
(cõi âm) ông đói lắm, rét lắm và bảo chúng tôi gửi cho ít áo quần, tiền bạc. Thực ra
thì chúng tôi vẫn gửi lễ và cúng tế thường xuyên nhưng có lẽ bị thất lạc hoặc ma quỷ
cướp hết rồi”. ( Chị H
1
, phiếu số 3).
4.2. Hình thức tổ chức lễ tang
Tang lễ, nói theo ngôn ngữ thông thường là việc hiếu, là một công việc quan trọng,
thiêng liêng của gia đình đối với người qua đời, đặc biệt là đối với người bậc trên như
ông bà, cha mẹ. Nhưng quan trọng thiêng liêng không phải ở chỗ làm tang to, bày cỗ
lớn; cái chính là lòng thành kính, xót thương chứ không phải làm phô trương xa xỉ để
làm oai với xóm làng. Hơn nữa, việc tang chỉ có ý nghĩa thiêng liêng khi sinh thời của
ông bà, cha mẹ thì con cháu ăn ở, đối đãi có tình, có hiếu; khi ông bà, cha mẹ qua đời
thì con cháu đồng thuận chung lo việc tang lễ cho trang nghiêm chu đáo. Cùng với sự
phát triển của xã hội, việc tang lễ tại thôn Quế Sơn cũng ngày một được lược giản cho
phù hợp với nếp sống mới. Một nhận định chung là hình thức tang lễ đã thay đổi theo
chiều hướng đơn giản hơn cả về nghi lễ lẫn đồ phúng viếng trong lễ tang.
4.2.1. Thay đổi về nghi lễ
Theo phong tục cổ truyền của người Việt, việc tang ma phải được tiến hành với đầy
đủ các nghi thức, nghi lễ trang trọng. Sách Thọ mai gia lễ gồm trên 40 nghi thức
nhưng có thể đưa ra những nghi lễ truyền thống theo 5 tiểu mục sau:
+ Khâm liệm: bọc thây người chết bằng vải trắng trước khi bỏ vào quan tài.
+ Nhập quan: là đặt thi thể người chết vào quan tài.
Hầu hết những nghi thức trên vẫn tồn tại, ngoại trừ nghi lễ trị quan do quan niệm nghi
lễ này là không cần thiết vì áo quan bây giờ đều là “áo mới” được sơn son thiếp vàng.
- Tang lễ trước khi di cữu:
+ Thiết linh toạ, linh sàng: tức đặt bàn thờ và giường thờ. Hiện nay người ta
không lập linh sang vì chiếm nhiều chỗ trống.
+ Lễ an vị: mọi người đứng trước linh cữu và tiến hành cử ai.
+ Thiết minh tinh: tục lệ này khá phức tạp và đã mất hẳn. Tục lệ này ghi lại sơ
lược chức vụ, tên họ, số năm hưởng thọ bằng phấn trắng trên vải hay lụa đỏ
theo quy tắc nhất định.
+ Lễ thành phục: lễ phát tang và mặc đồ tang.
+ Triêu tịch điện: nghĩa là sớm hôm lo lắng trước điện thờ giống như người
chết vẫn còn sống vậy. Người thân đứng hai bên linh cữu theo thứ tự nhất định.
+ Điếu tang: là phần thân thuộc, xóm làng, bằng hữu đến phúng viếng.
- Nghi tiết tống tang:
+ Chuyển cữu: tức là di chuyển quan tài khi sang một ngày mới, ngày đưa tang.
+ Cáo thần đạo lộ: làm ở ngã ba đường gần nhất theo nghi lễ tế thần.
+ Cáo thần thổ địa: trước khi khai huyệt chọn một người đi làm lễ khấn thổ địa.
+ Phát dẫn: lễ chuyển cữu đưa đi an táng.
- Nghi lễ lúc đi đường
+ Nghi trượng trên đường đưa tang: lần lượt là người rải vàng mã, người cầm
trướng, đối, đội khiêng ban thờ, cầm di ảnh, rồi đến xe tang.
+ Trú điện (nhà trạm giữa đường): thường ở nông thôn, đưa người chết đến nơi
an nghỉ thường là một quãng đường xa, nên người ta làm nhà trạm giữa đường.
- Nghi lễ lúc hạ huyệt
+ Lễ thắp hương cho các mộ phần xung quanh
+ Nghi thức bỏ đất khi hạ huyệt
Hầu hết trong các tang lễ, do quy định nếp sống văn hoá mới của thôn, làng nên
các thủ tục, hủ tục đã được lược giản.
phúng viếng đều được ghi rõ ràng và ghi vào quyển sổ, để về sau tang chủ coi theo
mà cảm ơn, trả ơn, hoặc khi có người nào lâm vào cảnh tang chế như mình thì
phúng viếng giúp đỡ lại. Đây là một đặc điểm của tương quan giao tế xã hội mà
người Việt đã có ý thức từ lâu trong cuộc sống cộng đồng tập thể.
“ Bây giờ đời sống khá hơn rồi, không còn ai đi phúng bằng gạo nữa, người ta chỉ
đi phúng bằng tiền cho tiện. Nói thật chứ, đám ma bây giờ lãi lắm, vì chi thì ít mà
người ta đi phúng thì nhiều”. ( Anh H, phiếu số 8).
“ Phúng tiền thì vẫn hơn vì như thế linh hoạt hơn. Sau đám tang còn là đám giỗ,
thường người ta lấy tiền đó để làm đám bốn chín ngày hoặc trăm ngày”. ( Bác M,
phiếu số 12).
Hình thức lễ tang đã đơn giản hơn cả về nghi lễ lẫn đồ phúng viếng chính là những
chuyển biến tích cực của một nét văn hoá truyền thống, ở đó, những nghi lễ tích
cực, phù hợp với đạo hiếu, với truyền thống của người Việt Nam. Những nghi lễ
tuy rằng có mang nội dung, ý nghĩa trong đó, nhưng ẩn chứa nhiều tư tưởng mê tín
dị đoan thì dần dần bị loại bỏ. Đây là chiếu hướng chuyển biến tích cực của đời
sống, văn hoá nông thôn theo nếp sống văn hoá mới.
4.3. Việc xem tử vi hoặc xem bói trước lễ tang
Trong ý niệm của người Việt thì “ nghĩa tử là nghĩa tận”, “sống gửi, thác về” đồng
thời người chết vẫn luôn quanh quẩn phù hộ độ trì cho cháu con. Do vậy dân ta
luôn xem trọng việc ngày giờ chết có phạm gì không hoặc cố tìm được ngày giờ
đưa ma hạ huyệt để tránh hậu hoạ cho con cháu. Ở đây có thể nhắc đến những khái
niệm như “trùng tang”, “nhập mộ”…
“Trùng tang tức là người chết vào giờ mà hồn người chết bị con quỷ sứ bắt rồi nó
tra khảo bắt linh hồn dẫn về nhà để nó bắt thêm người nhà còn sống đi. Cách giải
là vào chùa nhờ nhà chùa nhốt vong hồn đó lại không cho con quỷ kia tra khảo
bắt ép đi tìm người nhà”. ( Bà X, phiếu số 15).
“ Theo tôi biết thì trùng tang là chết vào giờ tuổi hoặc ngày tuổi hoặc năm tuổi,
như thế thì rất độc, phải bắt người sống đi theo mình. Lúc bố tôi mất, mẹ tôi được
thầy bói dặn là đêm ngủ, nếu thấy ai gọi phải trên ba câu thì mới được thưa, nếu
không, sẽ bị bắt đi”. ( Anh T, phiếu số 5).
"tử" là bốn điều phải có trong một đời người, không ai tránh khỏi. Cái chết còn có
ý nghĩa chấm dứt sự sống một cuộc đời. Từ xưa, tang lễ rất nghiêm trọng. Ngay từ
giờ hấp hối của một người sẽ phải vĩnh viễn ra đi, không khí trong gia đình trở nên
trầm lắng xuống với vẻ thiêng liêng. Con cháu ở xa gần được báo tin vội vã quay
về, tuy đông vầy, đều im lặng với nỗi buồn da diết. Với tinh thần có, đám tang của
người dân Thái Sơn vẫn mang nhiều nét cổ truyền, đậm chất dân tộc.
4.4. Quy mô tổ chức lễ tang
Cùng với những quy định của nếp sống văn hoá mới, quy mô tổ chức lễ tang cũng
được thu hẹp hơn.
“ Trước đây làm đám ma to lắm. Đám ma nhà ông X cạnh nhà tôi này, to nhất
làng, thịt mấy tạ lợn, cả làng ăn uống 3,4 ngày. Tôi thì tôi cho đấy là không hay,
nhưng quy định ngày trước của làng nó là thế”. ( Anh Th, phiếu số 14).
“ Họ cứ cho rằng, làm đám ma càng to thì càng chứng tỏ lòng hiếu thảo với cha
mẹ. Ôi giới, lúc sống thì chẳng hiếu thuận, giờ chết rồi, có hiếu cũng có biết đâu.
Chủ yếu giải quyết khâu oai thôi”. ( Chú S, phiếu số 13).
Như vậy có thể thấy, ngày trước, cùng với quan niệm báo hiếu, chứng hiếu với
người quá cố là khi tổ chức đám ma phải thật linh đình. Tuy nhiên, cũng có một lý
do khá thú vị khác được đưa ra:
“ Họ nhà tôi đông nhất làng, lại ở phân táng nữa. Khi nhà có tang, họ hàng thân
thích đều phải về, giọt máu đào hơn ao nước lã, mọi người đến mà không ăn uống
thì đói và mệt lắm. Họ hàng đông, tính ra đã được hơn 30 mâm rồi, tính cả người
đến hộ tang nữa cũng phải 40 mâm”. ( Chị Q, phiếu số 7).
Qua điều tra, hầu hết người dân đều ủng hộ việc thu hẹp quy mô tổ chức đám tang
bởi việc đám tang linh đình vừa khiến người nhà lo âu, mệt mỏi lại ảnh hưởng đến
hàng xóm, láng giếng. Đó là việc làm không cần thiết.
5.Kết luận
Qua kết quả khảo sát tại xã Thái Sơn huyện Hiệp Hoà, Bắc Giang có thể thấy đôi
nét về sự biến đổi phong tục tang ma ở nông thôn trung du miền Bắc Việt Nam nói
chung và của người dân nơi đây nói riêng.
Nếu như trước đây, trước thời kỳ đổi mới, hình thức tổ chức đám tang đòi hỏi