0 M ỤC L ỤC
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
I.Vị trí, vai trò của XHH văn hóa 3
II. Đối tượng nghiên cứu của XHH văn hóa 4
III. Mối quan hệ giữa XHH văn hóa với một số chuyên ngành XHH
8
IV. Mối quan hệ XHH văn hóa với một số ngành nghiên cứu VH 10
V. Chức năng và nhiệm vụ của XHH văn hóa 12
BÀI 2 -
Vài nét về sự hình thành và phát triển của XHH Văn hoá 15
BÀI 3- Một số lý thuyết trong nghiên cứu XHHVH 17
I. Lý thuyết của H. SPENCER 17
II. Lý thuyết của HERSKOVITS
17
III. Lý thuyết chức năng luận trong nghiên cứu văn hóa 18
IV. Lý thuyết tương tác biểu trưng
20
V. Lý thuyết Hành vi lựa chọn 22
VI. Lý thuyết chức năng- cấu trúc trong nghiên cứu văn hóa 23
Bài 4- Một số phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu XHHVH 25
I. Tiếp cận cấu trúc- chức năng 25
II. Tiếp cận hệ thống 26
III. Tiếp cận sinh thái học 26
IV. Tiếp cận gán nhãn 26
Bài 5- Các thành tố của văn hoá 27
I. Giá trị- chuẩn mực 27
II. Biểu tượng 30
III. Ngôn ngữ 31
IV. Văn hóa dân gian 32
3
BÀI 1
ĐỐI TƯỢNG , CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA
XÃ HỘI HỌC VĂN HOÁ
Mục tiêu người học cần đạt được:
Nắm được vị trí, vai trò XHH VH, quan hệ XHHVH với 1 số chuyên
ngành của XHH., một số ngành KHXH khác cũng nghiên cứu văn
hoá
Nắm được đối tượng, các chức năng, nhiệm vụ của XHH VH
Hiểu được vị trí, vai trò XHH VH, chức năng , nhiệm vụ của XHH
VH
Phân biệt được đối tượng XHH VH và đối tượng KHXH khác cũng
nghiên cứu văn hoá
Phân tích được quan hệ XHHVH và 1 số chuyên ngành của XHH.
Phân tích được các chức năng, nhiệm vụ của XHH VH
I. VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA XHH VĂN HOÁ
Sự phát triển và tiến bộ của khoa học kĩ thuật ngày hôm nay đã giúp
con người có nhiều khả năng giải quyết những vấn đề mang tính toàn cầu
trong đời sống của mình, nhất là ở Việt Nam, từ sau đổi mới kinh tế (năm
1986). Con người ngày càng có nhiều cơ hội để tiếp xúc, giao lưu với văn
hoá hiện đại, với văn minh tiên tiến nhất của thế giới. Điều này khiến họ có
những thay đổi trong hành động , nhu cầu, lối sống, cách nghĩ theo chiều
hướng tích cực cũng như tiêu cực: kéo nhau ra đường cổ vũ, ủng hộ những
người mà mình coi là thần tượng, là biểu trưng cho sự phát triển văn hoá của
thể thao dân tộc, đến các tụ điểm câu lạc bộ vui chơi, giải trí để sinh hoạt, để
5
xác và tế nhị, là trình độ học vấn, những tri thức, sự thành thục, lão luyện mà
con người có được trong hoạt động nhận thức và các hoạt động xã hội.
II.2. Quan niệm các nhà xã hội Phương Đông, Phương Tây về văn hoá
II.2.1. Quan niệm của các xã hội Phương Tây
Ở Phương Tây, từ “văn hoá” bắt nguồn từ động từ tiếng Lating:
“Colo”, “Colere” sau chuyển thành “Cultura” có nghĩa là cày cấy, vun
trồng (
4
), sau này từ “Cultura” chuyển từ nghĩa đen là trồng trọt, làm đất
sang nghĩa bóng là vun trồng tinh thần, trí tuệ, cải thiện và nâng cao tập
quán, hành vi con người.
Trong xã hội phương Tây có ba khía cạnh căn bản được nhấn mạnh
trong các quan niệm về văn hoá:
+ Văn hoá với tư cách là sự phát triển của cá nhân trong xã hội
+ Văn hoá là cái đặc thù của mỗi xã hội với môi trường xã hội nhất
định
+ Văn hoá là cái có thể hoà hợp, đan xen, thâm nhập lẫn nhau giữa các
môi trường văn hoá khác nhau, giữa các vùng, các quốc gia khác nhau trên
qui mô khu vực và thế giới.
Quan niệm của Pháp
Trong từ điển hàn lâm của Pháp, năm 1752 đã chỉ ra rằng: văn hoá “là
nói về sự chăm sóc tới các nghệ thuật của tinh thần” (
5
). Các nhà khai sáng
Pháp (đại diện Mông-tét-xki-ơ (Montesquieu) đã coi sự phát triển của văn
hoá và tình trạng nhà nước là phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, địa lý của
khu vực đó; còn Rút- xô (Rouseau) thì lại coi “Văn hoá’’ là hiện tượng xã
hội, tư hữu tài sản là nguồn gốc đồi bại về đạo đức…
Quan niệm của Đức
một hoặc cả hai sự vật biến đổi, là đem những điều đã đúc kết được đó hoá
thân trở lại cuộc sống. Như vậy, từ “Văn hoá” được dùng để chỉ một quá
trình gồm hai giai đoạn: xuất phát từ kinh nghiệm sống và quy luật tự nhiên
để trở thành cái văn của con người (nhân văn) và giai đoạn hai là đem cái
“nhân văn” ấy hoá thành cuộc sống (nhân văn hoá thành thiên hạ)” (
11
)
7
II.3. Văn hoá với tư cách là đối tượng nghiên cứu của XHH
Từ lúc sơ khai cho tới nay, các nhà Xã hội học đã luôn nhấn mạnh vào
sự cần thiết phải giải thích đời sống xã hội một cách khoa học và vì thế hăn
hoá hay nói đúng hơn là những thành tố của văn hoá như: tôn giáo, đạo đức,
giáo dục… đã trở thành đối tượng của Xã hội học thông qua các công trình
nổi tiếng của các nhà sáng lập ra bộ môn khoa học này như: E.Durkheim, M.
Werber, M.Mauss… Có người, nhấn mạnh “văn hóa” vào phương diện giá
trị, có người nhấn vào mô hình các thể chế xã hội, vào nếp sống xã hội, vào
phương thức ứng xử, vảo kết quả của hoạt động người, vào hoạt động sáng
tạo trong lịch sử, vào sự thích ứng của con người với môi trường tự nhiên,
vào miêu tả và vào phương diện chức năng của văn hoá. Như vậy, có thể
nhận thấy “văn hoá” (dưới góc độ Xã hội học) có những điểm cơ bản như
sau:
- Là một trong những măt cơ bản của đời sống xã hội
- Là một hệ thống hình thái biểu hiện giá trị của một xã hội, là cấu trúc-
chức năng xã hội, kỹ thuật, thể chế, các hệ tư tưởng… được hình thành
trong quá trình hoạt động sáng tạo của con người, được bảo tồn và
truyển lại cho các thế hệ sau.
- Là khuôn mẫu chuẩn mực qui định các hành vi xã hội. Mỗi cá nhân
muốn trở thành con người xã hội phải tiếp thu, tuân thủ theo các chuẩn
mực đó.( Về phương diện này có thể coi văn hoá của xã hội là mục tiêu
Việc nghiên cứu các thành tố văn hoá, cấu trúc văn hoá của XHH văn
hoá, nhất là sự hình thành và chi phối của hệ giá trị - chuẩn mực văn hoá đối
với hành động của con ngừơi nông thôn, đô thị…không thể không liên quan
tới những nghiên cứu về cách thức tổ chức môi trường sống con ngừơi đô
thị, tới lối sống, tới cung cách quản lý đô thị, tới vấn đề môi sinh… của
XHH đô thị và những hệ thống giá trị của gia đình nông thôn, cung cách ứng
xử, quan hệ gia đình, cộng đồng làng xã, họ tộc…của XHH nông thôn. Ở
đây văn hoá đã điều tiết, ảnh hưởng đến các hoạt động của chủ thể xã hội (
9
các nhóm, các cộng đồng xã hội…) và vùng nông thôn, đô thị trở thành
khách thể nghiên cứu đặc thù về văn hoá cho XHH văn hoá.
Sự gắn bó chặt chẽ giữa XHH văn hoá và XHH nông thôn, XHH đô thị
còn thể hiện ở chỗ các lĩnh vực nghiên cứu này đều nghiên cứu lối sống của
cá nhân, nhóm xã hội
III.3. Mối quan hệ giữa XHH văn hoá với XHH gia đình
Sự gắn bó chặt chẽ giữa Xã hội học văn hoá và Xã hội học gia đình
thể hiện ở chỗ cả hai lĩnh vực nghiên cứu này đều nghiên cứu tác động của
văn hoá với những mặt tích cực và hạn chế của nó tới cá nhân và các nhóm
xã hội trong các tổ chức của nó (gia đình và cộng đồng )
III.4. Mối quan hệ giữa XHH văn hoá với XHH pháp luật
XHH văn hoá và XHH Pháp luật đều chú ý đến hệ giá trị, chuẩn mực
được chuyển hoá vào trong các văn bản pháp lý trong lĩnh vực luật pháp và
trong hoạt động sống của mỗi cá nhân, nhóm xã hội. Nhưng khác với XHH
Pháp luật, XHH văn hoá chú ý đến những giá trị, chuẩn mực được chuyển
vào trong các quy ước thông qua các lề thói, phép tắc đó đã được thực thi
trong xã hội ra sao? Hệ giá trị- chuẩn mực nào của truyền thống đã được
người dân trong cộng đồng hiện nay còn lưu giữ và đang thực thi trong xã
hội? Tác động xã hội của nó tới hoạt động sống của mọi người dân trong
cộng đồng ra sao? Trong khi XHH pháp luật xem xét tác động của luật
IV.2 Quan hệ giữa Xã hội học văn hoá với Dân tộc học văn hoá.
Dân tộc học văn hoá là khoa học nghiên cứu văn hoá và xã hội các tộc
người (thường là ở các xã hội bán khai, hay nói rộng ra là các xã hộ cổ
truyền). Nó quan tâm đến văn hoá trong cách thức ăn, mặc, ở, tổ chức xã
hội, phương thức sống và lao động, các sinh hoạt và sáng tạo tinh thần của
các dân tộc, các quốc gia khác nhau. Nhưng không phân tích khái quát bản
11
chất văn hoá của những yếu tố đó theo trục không gian (chiều ngang) và thời
gian. Nói cách khác, Dân tộc học văn hoá nghiên cứu các văn hoá khác nhau
trong sự thống nhất của cấp độ phân tích lý thuyết chung và kinh nghiệm cụ
thể.
Trong quan hệ với Dân tộc học ( trong đó có dân tộc học văn hoá), Xã
hội học (trong đó có XHH văn hoá), cũng thâu nhận và hoàn thiện bộ máy
khái niệm của mình từ nhiều khái niệm, phương pháp của Dân tộc học như:
thể chế, dân tộc, các hệ thống xã hội, cơ cấu xã hội, biểu tượng, chuẩn mực,
giá trị, phương pháp quan sát, phương pháp phỏng vấn sâu, điền dã…
IV.3. Quan hệ giữa XHH văn hoá với Nhân học văn hoá
Nhân học văn hoá (cùng với nhân học xã hội) là một trong hai nhánh của
Nhân học (Anthropology). Nhân học văn hoá nghiên cứu các hiện tượng văn
hoá từ những không gian và thời gian xã hội khác nhau để đi đến một kết
luận chung về cấu trúc và chức năng của một hay những hình thái thể chế
nào đó (thông qua việc nghiên cứu các hệ thống thân tộc, sự tương tác giữa
ngôn ngữ và văn hoá, những đặc điểm của ăn uống, các hệ thống kinh tế, sự
phân tầng xã hội, ý nghĩa của tôn giáo và nghệ thuật trong các cộng đồng
văn hoá-tộc người). Nó có nhiệm vụ tìm tòi những quy luật chung của sự
vận hành và phát triển xã hội và văn hoá. Phương pháp luận nghiên cứu là
xem xét các sự kiện văn hoá trong mối tương quan với chủ thể của chúng
cùng phương pháp chủ đạo là tham dự và tái dựng mô hình. Trong quan hệ
với XHH văn hóa, Nhân học văn hoá tiếp thu hệ khái niệm của Xã hội học
lí có thể đưa ra những quyết định đúng đắn, sáng suốt hướng chúng đí theo
đúng với yêu cầu khách quan của sự phát triển.
Các tài liệu thực nghiệm của các cuộc nghiên cứu XHH văn hoá là
những phương tiện hữu ích để kiểm nghiệm các hoạt động thực tiễn và hoạt
động quản lý văn hoá của con người.
Xã hội học văn hoá góp phần vào việc nghiên cứu, cải thiện chính công
việc quản lý văn hoá, cơ quan quản lý văn hoá, cũng như các phương pháp
quản lý văn hoá.
13
Xã hội học văn hoá còn đóng vai trò quan trọng trong việc dự đoán, dự
báo sự phát triển văn hoá của một xã hội thông qua các nghiên cứu thực
nghiệm cung cấp.
V.1.3 Chức năng giáo dục
Cung cấp tri thức để trang bị cho các cá nhân, nhóm xã hội cách nhìn
nhân, đánh giá những giá trị chân thực của cuộc sống. Thông qua đó giúp
các cá nhân, nhóm, cộng đồng xã hội, đặc biệt các nhà tổ chức, quản lý có
những tri thức phù hợp với tính chất và nhiệm vụ của một xã hội cụ thể
nhằm thoả mãn nhu cầu tồn tại,phát triển văn hoá của xã hội đó và có những
phương sách, định hướng trong việc giáo dục, trồng người (dưỡng dục nhân
cách).
XHH văn hoá còn giúp mỗi cá nhân trong cộng đồng nhận thức đựơc vị
trí, địa vị, vai trò của mình trong hoạt động phát triển nền văn hoá dân tộc.
XHH văn hoá còn đánh thức những phẩm chất tốt đẹp của mỗi cá nhân,
cộng đồng xã hội trong việc định hướng cho họ sống đúng với những giá trị-
chuẩn mực mà chính họ đã xây dựng nên.
V.2. Nhiệm vụ của Xã hội học văn hoá
V.2.1. Nhiệm vụ nghiên cứu lý luận
Nhiệm vụ hàng đầu của Xã hội học văn hoá là hình thành và phát triển
công tác nghiên cứu lý luận và phương pháp luận để vừa củng cố bộ máy
KHXH khác cũng nghiên cứu về văn hoá.
3. Một giả thuyết khoa học cho rằng: nội dung nghiên cứu của
XHHVH gắn liền với những biến đổi trong đời sống xã hội của con
người (trong lối sống, vui chơi giải trí, thưởng thức văn hóa nghệ
thuật… ) giả thuyết đó đúng hay sai? Hãy chứng minh? 15
BÀI 2
VÀI NÉT VỀ SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA
XÃ HỘI HỌC VĂN HOÁ
Mục tiêu người học cần đạt được:
Nhớ được một số sự kiện dẫn tới sự hình thành của XHH VH
Hiểu được lý do căn bản dẫn đến sự ra đời và phát triển của XHHVH
Phân tích được tính tất yếu và ý nghĩa cơ bản của sự ra đời XHHVH
Ngay từ khi ra đời, các nhà Xã hội học tiền bối sáng lập ra môn khoa
học này đã chú ý tới những thành tố của văn hoá như: tôn giáo, giáo dục, đạo
đức… thông qua các công trình nổi tiếng: “ Các hình thái cơ bản của đời
sống tôn giáo” (E.Durkheim), “Đạo đức tin lành và tinh thần chủ nghĩa tư
bản”(Marx Weber), “khảo sát về quà tặng”(M.Mauss)…Tuy nhiên, phải tới
giữa những năm bảy mươi, Xã hội học văn hoá mới bắt đầu đựơc hình thành
và khẳng định sự tồn tại độc lập của nó bên cạnh các ngành khác của Xã hội
học…Phải đến năm 1985 quá trình này mới hoàn thành và cũng chỉ gần đây
thôi, vào đầu những năm 90 này, Xã hội học văn hoá mới thực sự cho thấy
tầm vóc những biến đổi của nó, buộc các ngành còn lại của bộ môn Xã hội
học phải thừa nhận nó như một ngành Xã hội học chuyên biệt.
Sự chậm trễ được chú ý của Xã hội học văn hoá trong ngành Xã hội
học là do cách mà nó được định vị trong các lý thuyết Xã hội học kinh điển.
1. Những điều kiện dẫn tới sự ra đời và phát triển XHH Văn hóa trên TG
2. Vai trò các nhà XHH đầu tiên đối với sự ra đời, và phát triển XHH
VH?
17
BÀI 3
MỘT SỐ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
CỦA XÃ HỘI HỌC VĂN HOÁ Mục tiêu người học cần đạt được:
Nhớ được một số lý thuyết căn bản trong XHHVH
Hiểu được tầm quan trọng của các lý thuyết
Có khả năng vận dụng lý thuyết vào trong nghiên cứu thực nghiệm.
I. LÝ THUYẾT CỦA H. SPENCER TRONG NGHIÊN CỨU VĂN
HÓA
Trong các nghiên cứu về văn hoá theo thuyết tiến hoá, H. Spencer
quan niệm các loại hình khác nhau của văn hoá là cơ thể “siêu hữu cơ”.
Các yếu tố văn hoá theo H. Spencer: có sự tồn tại của những bộ phận
chuyên biệt của xã hội, hoặc các thiết chế văn hoá như: gia đình, nghi lễ,
chính trị, nhà thờ, nghề nghiệp và thiết chế công nghiệp. Đây là những thiết
chế cơ bản của đời sống xã hội là: thiết chế gia đình và dòng họ, thiết chế
kinh tế, thiết chế tôn giáo, thiết chế chính trị
Theo ông, sự phát triển văn hoá (Phát triển về khối lượng và số lượng
các yếu tố thành phần của văn hoá) sẽ diễn ra theo xu hướng tích hợp và liên
kết vào trong một chỉnh thể nào đó. Các bộ phận cấu trúc này không giống
nhau và do thực hiện các chức năng theo chuyên môn hoá riêng mà chúng đã
đòi hỏi phải có một cơ chế phù hợp dưới dạng các tổ chức văn hoá.
Dù có những hạn chế trong nhìn nhận, song H.Spencer vẫn được xem
điểm lấy phương tây làm trung tâm nhưng không thay đổi bản chất của nó.
19
III. THUYẾT CHỨC NĂNG LUẬN TRONG NGHIÊN CỨU VĂN
HÓA
III.1. Chức năng luận B.Malinowski –phương pháp nghiên cứu văn hoá.
B.Malinowski khẳng định: bản chất khái niệm văn hoá không phải lúc
nào cũng đơn nghĩa. Khi thoả mãn các nhu cầu sinh vật của mình, con người
tìm kiếm thức ăn, xây dựng nhà ở v.v… và cải tạo môi trường xung quanh.
Lí thuyết nhu cầu là nền tảng trong lí thuyết về văn hoá của ông.
Theo ông, bất cứ văn hoá nào trong tiến trình phát triển của nó đều có
thể tạo ra một hệ thống cân bằng ổn định, trong đó mỗi bộ phận chỉnh thể
đều thực hiện chức năng của nó.
B.Malinowski cho rằng mọi hiện tượng văn hoá đều do những nhu
cầu của con người sinh ra. Ông chia các hiện tượng văn hóa ra thành các hệ
thống chính và tương ứng theo đó là hệ thống nhu cầu cần đáp ứng. Nhóm
nhu cầu tái sản xuất đời sống, nhu cầu phát triển và nhóm nhu cầu dẫn xuất.
Như vậy, quan niệm của B.Makinowski thiên nặng về ý nghĩa sinh vật học
trong đời sống con người mà không chú ý tới phẩm chất mới trong các nhu
cầu này với tư cách một tồn tại xã hội. Ông đã hiểu một cách quá đơn giản
mối liên hệ của những nhu cầu văn hóa này và vì thế đã chia nhỏ một cách
máy móc văn hoá ra thành từng đoạn và đem mỗi đoạn gắn với một nhu cầu
nhất định của bản tính sinh vật của con người. Ông cho rằng văn hoá là một
chỉnh thể, nhưng chính ông lại không nêu lên được tính thống nhất đó trong
chỉnh thể hoạt động của văn hoá với tính cách một hệ thống.
III.2. Lý thuyết A.Racliff Brown. Văn hoá như một tổng thể chức năng.
A.Racliff Brown chủ yếu nghiên cứu tổ chức chính trị của các nền văn
hoá khác nhau, những đặc điểm của hệ thống thân tộc và vai trò của chúng
trong các hệ thống xã hội, sự phân tích chức năng các cấu trúc cảu những
biểu tượng cần phải nhập vai vào vị trí của người đó.
Lý thuyết tương tác “ba ngôi” của George Mead
Quan niệm về “cái tôi” là hạt nhân của lý thuyết tương tác biểu trưng
của Mead. Theo ông, “cái tôi” mà tâm lý học gọi là “bản ngã” thực chất là
một cấu trúc xã hội nảy sinh từ kinh nghiệm xã hội mà cá nhân đã trải qua
trong mối quan hệ “ba ngôi” của: (1) cá nhân với bản thân, (2) cá nhân với
người khác, (3) cá nhân với xã hội.
Có thể gọi lý thuyết tương tác của Mead là lý thuyết tương tác “ba
ngôi” với một nghĩa nữa là trong mối quan hệ với người khác, mỗi cá nhân
đều xuất hiện dưới ba hình thái, ba ngôi là: tôi, bản thân và tự mình. Một
cách tương ứng, ông cho rằng cấu trúc của cái tôi gồm ít nhất hai thành
phần: một là cái tôi chủ thể, hai là cái tôi khách thể mà ông gọi là hai pha,
thành phần thứ ba là cái tôi “tự mình”. Cái tôi này xuất hiện khi cái “tôi-chủ
thể” phân thân để tự nhìn nhận, xem xét và đánh giá chính bản thân nó. Cần
chú ý là cái “tôi tự mình” và “tôi chủ thể” đều nằm trong mối tương tác với
chính bản thân của cá nhân, do đó thuộc về một phe, một phía, đối lập với
cái tôi khách thể luôn nằm trong mối tương tác với người khác, hướng đến
người khác.
Trong mối quan hệ với xã hội, nhờ “cái tôi” con người có các khả năng
hành động quan trọng. Theo ông, trong quá trình phát triển của cá nhân đến
một lứa tuổi nhất định mới hình thành cấu trúc hai pha của “cái tôi”, đến
một giai đoạn nhất định cá nhân mới có khả năng tự phân đôi tức là tự mình
tách ra khỏi chính bản thân mình để nhìn nhận, phân tích, đánh giá về bản
thân mình. Như vậy, cái tôi là một loại cấu trúc xã hội đặc thù nảy sinh, phát
triển trong mối tương tác xã hội với người khác và với chính bản thân mình.
22
Lý thuyết tương tác biểu trưng của Herbert Blumer
Theo Blumer, tương tác biểu trưng là khái niệm dùng để chỉ một đặc
trưng cơ bản của tương tác giữa người với người. Ông đưa ra mô hình tương
đó (và do đó cả hành động) định hình bởi các giá trị hay các sở thích”.
+Các actor chọn lựa hành động của mình nhằm tôí đa hoá các lợi ích hay
sự thoả mãn các nhu cầu, mong muốn của họ.
Có hai thành tố trong lý thuyết của ông: Các actor và các tiềm năng
(khả năng mà chủ thể có và kiểm soát được)
+ Hệ thống tối thiểu 2 và chủ thể này kiểm soát tiềm năng chủ thể kia.
+Các chủ thể có mục đích thực hiện hành động tạo thành hệ thống hành
động. Chính cấu trúc này dẫn đến phụ thuộc nhau giữa 2 chủ thể hành động.
Lý thuyết của ông khá gần với thực tiễn song không phải lúc nào mọi
người cũng cư xử một cách hợp lý.vì thế tuy có những cống hiến có giá trị
đối với xã hội học,song nó cũng không tránh khỏi những thiếu sót, bị lên án.
VI. THUYẾT CHỨC NĂNG- CẤU TRÚC TRONG NGHIÊN CỨU VH
VI.1. Thuyết chức năng - cấu trúc của Talcott Parson
T.Parsons đã vận dụng phương pháp tiếp cân cấu trúc - chức năng để
nghiên cứu văn hoá hiện đại với lược đồ nổi tiếng AGIL như sau :
L I
Hệ thống văn hoá
Hệ thống xã hội
Hệ thống nhân cách
Thực thể hành vi
G A
24
Hệ thống văn hoá : kiểm soát những phương diện khác của xã hội. Nếu
giải thích thay đổi ở mức văn hoá, cần nhìn những biến đổi ở cấp độ văn