1 1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trường Đại h ọc Kh oa học Xã hội & Nh ân văn
Bài giảng
Xã hội học Nghề nghiệp (Sociology of professions)
Bài giảng
Xã hội học Nghề nghiệp
(SOCIOLOGY OF PROFESSIONS)
Người biên soạn: GVC. TS. Trương An Quốc
BỘ MÔN LỊCH SỬ, LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
KHO A XÃ HỘI HỌC
Hà Nội 06-2010
3 3
Tác giả J. S. Mills
4. Phát triển lý luận
Những đóng góp của thuyết chức năng
Những hạn chế và bất cập
Chương 3. Xã hội học nghề nghiệp từ tiếp cận tương tác
31. Hughes và khái niệm nhóm việc làm nghề nghiệp
311. Những nguyên tắc chung t 53
312. Về quan hệ ti ểu sử và tương tác
VD
32. So sánh/đối chiếu các tiếp cận chức năng và tương tác t80
33. Mô hình của Davis
Chương 4. T rật tự thương lượng và lý thuyết của BERKER/STRAUSS
41. Khái niệm thế giới xã hội t82
42. Khái niệm trật tự thương lượng
43. Một số quan điểm khác (tham khảo)
Chương 5. T ri thức nghề nghiệp
51. T ri thức và tri thức nghề nghiêp
52. Đặc tính của tri thức nghề nghiệp
53. VD Bài đọc 5
5
8
14
20
62.
63. B ài đọc
PHẦN III
Việc làm nghề nghiệp hiện nay: một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Chương 7. Hội nhập việc làm nghề nghiệp
71. Khái niệm chung
72. Nghiên cứu trường hợp người tôt nghiệp đại học
73. Bài đọc
Chương 8. Một số vấn đề về việc làm nghề nghiệp hiện nay
81. ??
82. Một số nghi ên cứu trường hợp
74
79
103
104
106
107
122
127
TĐTV từ điển tiếng việt PHẦN I. XÃ HỘI HỌC NGHỀ NGHIỆP
MỘT BỘ MÔN KHOA HỌC XÃ HỘI 6 6
CHƯƠNG I. XÃ HỘI HỌC NGHỀ NGHIỆP:
ĐỐI TƯỢNG, TIỀN ĐỀ VÀ SỰ PHÁT TRIỂN
1. Đối tượng nghiên cứu của xã hội học nghề nghiệp
hội học nghề nghiệp cũng sẽ không thể trở thành một bộ môn khoa học (chuyên
biệt) được.
Nhận thức rõ điều này, xuất phát từ thực t ế và nhu cầu xã hội đối với một bộ
môn xã hội học chuyên sâu về nghề nghiệp, các nhà xã hội học trong nửa sau thế
kỷ XX đã đặc biệt t ập trung các cố gắng của họ nhằm chiếm lĩnh khu vực trung
tâm, thiết yếu cho việc phát triển xã hội học, nói chung, và xã hội học nghề
7 7
nghiệp, nói riêng như đã được trình bày ở trên. Dưới đây, ta sẽ điểm qua một số
những tác giả và tác phẩm kinh điển của giai đoạn này.
E. Durkheim
Theo tác giả này, xã hội học là khoa học nghiên cứu về các sự kiện xã hội.
Khi đó, ta có thể nói, xã hội học nghề nghiệp là một bộ môn xã hội học nghiên
cứu về các sự kiện nghề nghiệp xã hội. Hơn nữa, nếu nói xã hội tạo ra con người
bằng cách tạo ra và duy trì những giá trị, chuẩn mực và khuôn mẫu hành vi xã
hội thì, cũng vậy, ta có thể nói: mỗi nghề đều tạo ra con người/chủ thể riêng của
nó bằng cách tạo ra và duy trì những giá trị, chuẩn mực và hành vi nghề nghiệp
riêng, đặc thù. Tuy nhiên, cần phải nhấn mạnh: nếu như trong mỗi xã hội đều có
những khác biệt giữa các ngành/nghề thì, tương tự/hơn nữa, cũng sẽ có rất nhiều
khác biệt nếu như ta so sánh những người làm cùng một ngành/nghề nào đó ở
trong những xã hội khác nhau
1
.
Từ giác độ lý luận, đón g góp lớn của E. Durkheim là việc ông đã đưa ra được
những khái niệm công cụ có tính hiệu quả cao như hợp đồng xã hội, đoàn kết xã
hội, việc định nghĩa/phân biệt đoàn kết hữu cơ (ĐKHC) và đoàn kết cơ giới
(ĐKCG). Như vậy, nếu ĐKCG dựa trên sự tương đồng giữa các chủ thể thì
Xã hội học là khoa học nghiên cứu về hành động xã hội
2
. Theo ông, hành
động (của con người) tạo ra xã hội. Chính bằng các hoạt động
3
của mình, con
người tạo ra xã hội.
Nếu theo tác giả xã hội được tạo nên do bởi hành động xã hội thì, tương tự, ta
cũng hoàn toàn có thể nói rằng: nghề nghiệp (xã hội) được tạo nên do bởi hành
động/hoạt động (nghề nghiệp) xã hội. Và do bởi tuyệt đại đa số, ai trong xã hội
cũng có một nghề, cho nên, xã hội có thể được xem như là một tổ hợp hay sự
tổng hợp của tất cả các ngành nghề hay các nhóm nghề hiện hữu chính ở trong
lòng của nó.
Hành động được xem là có mục đích/có chủ đích. Một mặt, hành động
thường được gắn với những hoạt động tổ chức và mặt khác, tổ chức cũng có khi
được xem như một dạng hành động riêng, đặc thù
4
. VD ở nhà trẻ, trẻ em tham
gia trò chơi đi thành vòng tròn với sự hướng dẫn của cô giáo. Ta có thể nói về
một hình thức tổ chức xã hội, tổ chức này chỉ tồn tại cho tới khi cô giáo nói ‘giải
tán’, hoặc khi vòng tròn bất ngờ bị đứt do một đứa trẻ đang đi bị vấp ngã.
Thực tế, ở mỗi lĩnh vực hoạt động, như trồng lúa, chăn nuôi hay làm thủ
công đều có những qui tắc/qui định riêng giành cho các chủ thể/thành viên của
họ, trong quan hệ với nhau in-group cũng như với thành viên của những lĩnh
vực hoạt động (nghề nghiệp) khác beetwen-groups.
VD. Nghề gia truyền: qui định chỉ được truyền dạy lại cho các thành viên của
gia đình/nhằm mục tiêu bảo vệ/duy trì bản quyền/độc quyền sản phẩm của họ.
« Truyền nghề trong phạm vi gia đình » hay « gia truyền » là một hành động
(nghề nghiệp) xã hội và ta có thể nói : chính nó là một lý do tạo nên « nghề gia
truyền ». Nếu hành động đó không còn được tiếp tục thực hiện thì nghề đó cũng
21. Khái niệm chung
Thế nào là nghề, nghiệp? - Nghề nghiệp là gì?
Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta thường gặp những câu như:
- Làm đúng ngành, đúng nghề; đúng ngành nghề đào tạo;
- Theo nghiệp bố/theo nghề nghiệp gia đình;
- Có công danh sự nghiệp, công thành danh toại.
Người ta thường kỳ vọng/muốn có:
- Việc làm có tiền đồ, có tương lai nghề nghiệp;
- VL cho phép phát huy được sở trường, năng lực của mình; có niềm vui
và sự say mê nghề nghiệp; /gắn bó, say mê, ham thích - cái nghiệp văn
chương nó thế/
Vậy, nghề là gì? Thế nào là một nghề?
Theo Từ điển tiếng việt (TĐTV):
1/ công việc chuyên làm; công việc được một người thực hiện trong một
thời gian dài theo sự phân công lao động xã hội (dài như thế nào), tìm
thấy trong các cụm từ: nghề nông, nghề buôn bán nhỏ/tiểu thương.
2/ việc làm được thực hiện một cách t hành thạo; thực hiện với chất lượng
cao, tìm thấy trong các cụm từ: thành nghề, rất nghề, diệu nghệ/kỹ năng,
kỹ xảo
cũng t heo Từ điển tiếng Việt thì nghiệp là:
1/ Nghề làm ăn, sinh sống (nghề chủ yếu)
2/ Cách nói khái quát: nghề nghiệp.
Mặt khác, trong tiếng Anh và tiếng Pháp, ta có một số nghĩa để so sánh như
sau :
1/ Việc làm: emploi; occupation
2/ Nghề, nghề nghiệp: vocation, profession; beruf
3/ Lao động: work; travail
Xét về mặt từ nguyên, một số tác giả cho rằng: bởi vì vocation có hai nghĩa: (a)
nghề/nghề nghiệp và (b) thiên hướng (VD có thiên hướng về nhạc, hoạ) cho nên
nghề/nghề nghiệp có mối liên quan đến thiên hướng. Tương t ự, profession cũng
phải là thành viên ; mặt khác, các hoạt động còn lại đều được gọi là việc làm mà những
người thực hiện thì chỉ được quyền tạo lập nên /nghi ệp/ công đoàn
(4) các nghiên cứu tiên phong về nhóm nghề nghiệp ở Pháp : t rước đó, 1960-70, chỉ có rất ít
bài viết nói về xu thế XhhNn Anh-Mỹ, thường phê phán l à chủ yếu. Từ giữa những năm
1980, với các nghiên cứu t iên phong về nhóm nghề nghiệp, không phân biệt mà bao hàm
luôn cả việc làm&nghề nghiệp, chịu nhiều ảnh hưởng của trường phái C hicago (Hughes,
Becker, Strauss ). Tiếp theo những bài viêt mang tính tổng hợp, với “cú hích” là một số
đặc biệt của tập san Tổng quan Xã hội học (R eview Français de Sociologie, 1986), những
nhóm nghề đặc biệt đã xuất hiện ngày một nhiều trong các nghiên cứu : hiện tượng các
corporation hiện đại (D. Segrestin, 1984) ; người làm công trong các lĩnh vực buôn bán
hải sản (C. Paradeise, 1985), hoặc về người lao động trong các lĩnh vực giao thông vận tải
– 1983. các nghiên cứu nhìn chung đều sử dụng thuật ngữ Xhh các nhóm nghề nghiệp,
được thể chế hoá bởi được dùng làm tên gọi cho một nhóm nghiên cứu mới <như C.
Dubar, Lucas> xuất hiện trong t ổ chức Hiệp hội Xhh Quốc tế từ năm 1994.
(5) Chú ý những khác biệt về thuật ngữ giữa tiếng Anh và tiếng Pháp.
212. Trong tiếng Anh
Ngay trong phạm vi tiếng /ngôn ngữ Anh-Mỹ, thuật ngữ NN đã có sự khác biệt đáng
kể, không t hống nhát về nội hàm của khái niệm, mang những ý nghĩa đôi khi còn trái ngược
nhau.
Như vậy, có một số hoạt động như việc làm chuyên gia và kiểm toán trong suốt một
thời gian dài, cho t ới trước Đại chiến thế giới II, không hề được xem là một nghề. Chỉ bắt đầu
từ sau ĐCTGII, lúc đầu là ở Anh và sau đó mới là ở Mỹ mới được xem như một nghề. Một số
công việc như việc làm bà đỡ (đỡ đẻ, bà mụ) tuy được thừa nhận ở Anh nhưng lại không được
thừa nhận ở Mỹ.
5
Xem C. Dubar và N. Tripier, Sociologie des professions, Armand Colin, Paris, 1998
(vị tha).
Chú ý: như vậy, nếu theo tác giả Flexner thì công tác xã hội không phải là một nghề
do bởi (vào thời của ông) họ không có được một tổ chức nghề nghiệp riêng của mình.
Trở lại ví dụ đã nêu ở trên, trong khi ‘các bà mụ - đỡ đẻ’ được xem là một nghề ở Anh
thì lại không được thừa nhận là một nghề ở Mỹ; làm chuyên gia hay kế toán chỉ được t hừa
nhận l à nghề tự do sau ĐCTGII, đầu tiên ở A nh và sau đó mới là ở Mỹ. Điều này cho thấy có
nhiều những tình tiết mang tính địa lý và lịch sử trong các vấn đề /lý luận/ về nghề nghiệp. Từ
đó, những câu hỏi được đặt ra: Cái gì làm cho một công việc lao động được thừa nhận là một
nghề? Cái gì làm cho một nhóm việc làm trở thành nghề nghiệp, hiểu theo nghĩ a là họ có một
(khu vực) địa vị cùng với những quyền lợi và nghĩa vụ ri êng đặc thù trong xã hội? Câu trả lời
xét từ các giác độ lịch sử, pháp lý hay xã hội học hẳn là phải có sự khác biệt, từ đó rõ ràng cần
phải đặt ra vấn đề định nghĩa cho thuật ngữ chuyên môn quan trọng này.
Xu thế: ngày nay, quan niệm về nghề nghiệp dựa trên các sự kiện (nghề nghiệp), theo nghĩa
mà E. Durkheim đã đưa ra (1902), có vẻ bị lấn lươt bởi quan niệm dựa trên các chức
năng/tương tác (nghề nghiệp), nhất là ở Mỹ.
Cần chú ý thêm là, ngay những tác giả viết bằng ti ếng Pháp cũng nêu ra vấn đề : do tính đa
dạng của thực tiễn việc làm nghề nghiệp (về địa lý, lịch sử hay t hiết chế chính trị) mà việc
dịch thuật/chuyển đổi một cụm tư/khái niệm giữa các ngôn ngữ trở nên rất phức tạp. Thực tế,
12 12
người ta thường cũng chỉ biểu hi ện/chuyển tải được một số ý nghĩa, một số khía cạnh ri êng
nhất định của chúng. Như vậy, trong tiếng Pháp có cụm từ nghề tự do, luật và y được xem là
hai nghề tiêu biểu cho nghề tự do. Tuy nhiên, t rong xã hội Mỹ, các nghề này lại được xem
như là những nghề tiêu biểu: dù rằng các t hành viên ở các nghề này vẫn tiếp tục gắn kết trong
các hiệp hội của mình nhưng, đã từ rất lâu rồi, họ không còn hành nghề một cách ‘tự do’ nữa;
và hơn nữa, nhiều nghề ở Mỹ hiện nay thậm chí hoàn toàn chỉ bao gồm những người ‘làm
tổ chức các chủ doanh nghiệp /ngành/ sản xuất và kinh doanh vật liệu xây
dựng).
Dẫu vậy, ta vẫn cần phải nhận ra những thách thức đặt ra cho việc định nghĩa
nghề: Dù có liên quan chặt chẽ với xã hội học lao động và xã hội học tổ chức, từ
đó có những sự trùng lắp khó tránh, nhưng rất nhiều tác giả vẫn đi đến một mối
quan tâm chung là cố gắng trình bày vấn đề nghề/nghiệp dựa trên 3 luận điểm về
13 13
nhận thức, tình cảm và cống hiến, hoặc là trên 3 phương diện kinh tế, chính trị
và đạo đức/văn hoá như dưới đây:
(1) Nghề nghiệp là một trong những hình thức tổ chức xã hội có bề dày lịch sử.
Đó cũng là những hình thức phân loại các hoạt động lao động, chúng có vai trò
phản ánh mối quan hệ giữa Nhà nước và người lao động. Kể t ừ thời của
Durkheim, nghề nghiệp được xã hội học nhìn nhận như những “nhóm trung
gian”, có vai trò trung chuyển/kết nối người lao động và Nhà nước của họ.
(2) Nghề nghiệp là những hình thức (cho phép) cá nhân tự hoàn thiện, là những
khuôn khổ xã hội, một mặt cho phép định vị nhân thân một cách chủ quan và,
mặt khác là để biểu thị các giá trị văn hoá và đạo đức xã hội. Xuất xứ tôn giáo
của thuật ngữ profession ở phương tây (là nghề nghiệp hay sự tuyên thệ) khiến
xhh phải đặt câu hỏi về các ý nghĩa chủ quan của hoạt động lao động, về những
liên hệ năng động giữa (lối sống) cá nhân và (đời sống) nghề nghiệp mà, kể từ
thời của Max Weber, đã trở thành một trong những vấn đề trung tâm của Xhh.
(3) Nghề nghiệp còn là những hình thức liên minh (có tính lịch sử) mà các t ác
nhân/chủ thể xã hội sử dụng nhằm để bảo vệ quyền lợi của họ, bằng các biện
pháp như khép kín thị trường lao động, bảo vệ độc quyền hoạt động (hành
nghề), duy trì một khu vực khách hàng cũng nh ư một kiểu loại việc làm ổn định,
có thu nhập cao, được xã hội đánh giá và coi trọng. Tuy nhiên, cũng chính
Thực tế, ở trong định nghĩa này, người ta nhận thây có những yếu tố còn
chưa được làm rõ. Tuy nhiên, khi trả lời các câu hỏi đặt ra như dưới đây, người
ta có thể chuyển từ một định nghĩa theo/bằng giá trị (Dv) sang một định nghĩa
(Dn) mang tính chuẩn mực về nghề nghiệp:
(Dn1) công việc (chủ yếu/chuyên làm) được thực hiện trong một thời gian dài:
- Dài là bao lâu?
(Dn2) công việc (chủ yếu/chuyên làm) được thực hiện một cách thành thạo :
- Thành thạo như thế nào?
(Dn3) công việc (chủ yếu/chuyên làm) được thực hiện một cách có chất
lượng/hiệu quả:
- Chất lượng và hiệu quả đến đâu?
Ta chấp nhận định nghĩa Dv với các mức độ đánh giá còn để ngỏ, còn chưa
thực sự được làm rõ là nhằm để, một khi cần thiết, khi gặp những đối tượng
nghiên cứu cụ thể xác định, chính điều đó sẽ cho ta cơ hội gắn nghề cần mô tả
với những khuôn khổ định dạng/thang đo phù hợp, để đánh giá/nói về mức độ
chuyên nghiệp (của một nghề, để đi tới một định nghĩa Dn) và/hoặc mức độ
thành nghề hay mức độ lành nghề của một người nào đó ở trong nghề này.
Chú ý: Với định nghĩa này, một mặt, nghề sẽ bao hàm tất cả các đặc trưng của việc làm và,
hơn nữa, đó còn là những dạng/loại hình vi ệc làm riêng/đặc thù; mặt khác, quan niệm nghề ở
đây chủ yếu chỉ đề cập đến phương diện ‘hành nghề’ mà ít đề cập đến (quá trình/giai đoạn)
học/đào tạo (trước khi hành) nghề.
Một số câu hỏi có thể đặt ra là:
(a) Mô hình đào tạo (đào tạo nghề thường dựa trên một m ô hình nghề cụ thể nào đó, với
những) sai lệch/tương ứng đến mức độ nào so với nghề thực tế hiện hữu trong xã hội?
(b) Ngay cả khi mô hình nghề tỏ ra phù hợp tốt với thực tế xã hội thì vẫn còn đó câu hỏi về
Nói chung, vấn đề này đòi hỏi phải đề cập t ới các chiều cạnh chính trị, kinh tế, văn
hoá của vi ệc làm; chú ý đến “các chiều” như không gia n, thời gian hay tính biểu tượng, và cội
nguồn lịch sử như một chiều cạnh riêng, đặc thù (bối cảnh, quá trình hình thành, vận động và
phát triển t hông qua nhiều giai đoạn của mỗi ngành/nghề hay việc làm cũng như là những
thang/ bảng lương được gắn với chúng).
(3) Nghề là một thực thể phát triển
Câu hỏi: Khi nào một (phạm vi) việc làm (những việc làm loại gì, phát triển đến mức
độ nào thì) có thể được xem như một nghề?
Bài tập:
Mô tả một nghề nào đó và (nhất là) làm rõ các đặc trưng của nghề này so với những nghề
khác. VD Nghề y/nghề dược, nghề thủ công m ỹ nghệ (gia truyền hay truyền thống).
3. Nhữn g tiền đề của XHHNN
31. Sự phát triển của xã hội công nghiệp
Máy hơi nước
Kỷ nguyên phát triển công nghiệp thường được tính từ khi phát minh ra
động cơ chạy bằng hơi nước. MHN đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với xã
hội : mở đầu qua strình cơ giới hoá cho lao động, sức máy dần thay thế cho sức
lao động nặng nhọc của con người và, đồng thời, đòi hỏi/làm tăng thêm hàm
lượng tri thức, chất trí tuệ trong lao động. MHN là biểu tượng của thành tựu
khoa học kỹ thuật : những người được tiếp cận/làm việc với MHN và những
người khác. Để làm việc với máy móc/điều khiển được máy móc – phải qua đào
tạo, bắt đầu phân hoá lao động có/không được đào tạo;phân biệt lao động giản
đơn và lao động kỹ thuật.
16
thông t in, luật pháp và các vấn đề săn sóc cá nhân. [ ] Abbott khởi phát từ câu
hỏi đậm nét truyền thống xhh của trường phái Chicago: “những người trong
nghề đang làm/thực hiện loại lao động gì?”. Tập trung sự chú ý vào chỗ làm
(workplace), trước tiên là ở bệnh viện, ông muốn tìm hiểu “xem điều gì đang
diễn ra ở đây” (what is going on there). Tầm quan trọng của lao động nghề
nghiệp và những đòi hỏi kiên quyết đối với một số loại hình lao động (đó nhất
định phải là lao động chuyên nghiệp!) đã hướng Abbott tới kết luận rằng “ sự
kiện nền tảng của cuộc sống nghề nghiệp chính là sự cạnh tranh giữa các nghề
(và rằng) tranh luận về quyền tài phán (juridiction)
6
là một thực tế và nó có ảnh
hưởn g quyết định đến quá trình phát triển nghề”. Nói về mối quan hệ có t ính
lịch sử như vậy ( ) dường như Abbott cũng chỉ có ý muốn nhấn mạnh các khía
cạnh cơ cấu /xã hội, bởi vì ông viết “cuốn sách này (của tôi) được tổ chức theo
6
Giới hạn các quy ền và nghĩa vụ ; quyền hạn, thẩm quyền. Tiền lệ được (một) toà án thừa nhận, tiế p đó, được
nâng cấp thành tiêu chuẩn pháp lý để phán xử các hiện tượng tương tự xảy ra kể từ đó về sau.
17 17
hướn g đi từ tiếp cận cá nhân tới /quan điểm/ tiếp cận hệ thống về nghề nghiệp”,
là đúc kết lý luận về hệ thống các quan hệ nghề nghiệp và phân tích ảnh hưởng
của các nhân tố tác động từ bên ngoài tới hệ thống này. Tuy nhiên, tác giả
Abbott không có ý chỉ ưu tiên nhấn mạnh chủ thể là cá nhân hành động /actor/
hay hệ thống /systeme/, nhấn mạnh hành động /action/ hay cơ cấu /structure/
trong các quan hệ phụ thuộc ở mỗi cặp vi mô - vĩ mô mà có ý muốn kết hợp hài
hoà các yếu tố này.
NN chính là mối liên hệ giữa nghề và lao động nghề, liên hệ mà tác giả gọi (theo
nội dung) là quyền tài phán. Phân tích sự phát triển NN, theo tác giả, chính là
phân tích xem mối liên hệ này được hình thành như thế nào t rong LĐ, nó đã ăn
18 18
sâu như thế nào vào trong các cơ cấu xh, chính thức và không chính thức, và để
xem diễn biến các liên hệ về quyền tài phán giữa các nghề ảnh hưởng quyết định
như t hế nào tới lịch sử phát triển nghề nghiệp (của những nghề riêng biệt, của
những cá nhân/chủ thể ở trong mỗi nghề /individual professions/).
Như vậy, Abbott đã tiến hành khảo sát lao động nghề nghiệp và những đòi
hỏi của mỗi nghề về quyền tài phán của họ, đẩy lên thêm một bước quan niệm
của ông về “hệ thống các nghề”. Từ đó, ông tiến hành khảo sát sự phân hoá tự
bên trong của nội bộ mỗi nghề và bối cảnh văn hoá - xã hội của chúng – khởi
đầu từ ba nghiên cứu trường hợp (như đã nêu ở trên).
42. Nghiên cứu của Macđonald
K.M. Macdonald: Phê phán quan điểm của Abbott, ông cho rằng:
1/ Quan niệm “hệ thống” của Abbott dường như, hoặc là sự biểu hiện của ý
niệm hướng đích intentional tiềm ẩn ở bên trong nó (tương tự như “hệ thống
pháp lý”), hoặc để chỉ mức độ liên quan và tương tác là đáng kể giữa các thành
phần cấu thành hệ thống (tương tự như hệ eco-systeme). Song, chính ra là ở đây
lại có sự tương phản: các nghề nghiệp cạnh tranh trên thị t rường nhưng ở đó,
một mặt, từng cặp một - chúng có thể hoặc không va chạm với nhau và mặt
khác, ở đó có cả cạnh tranh, xung đột và hợp tác, diễn ra một cách phi-hệ thống
(non-systematic) với những người ngoài nghề, với khách hàng của họ và với nhà
nước.
2/ Về mặt lý luận, khái niệm “hệ thống” thường gắn với cơ cấu và chức
năng, những cái mà Abbott đã bỏ qua trước đó, vì cho là chúng không thích hợp.
với người khác.
4/ Tìm cách bảo vệ và nếu có thể thì cải thiện và nâng cao địa vị xã hội
của họ.
Những đối tượng - mục tiêu này dường như hoàn toàn tương thích với các
phân tích của Larson, ngoại trừ việc ở đây kh“ng hề nhắc đến quyền tự chủ =
autonomie còn các mục tiêu kinh tế thì bị /tác giả - Burrage/ loại trừ một cách
cố ý. Nhưng, người ta có thể đặt ngay câu hỏi: tại sao họ lại chọn lựa 4 mục tiêu
này? Bởi vì, nếu như ý tưởng về độc quyền kh“ng loại trừ khả năng đạt được
quyền lực như là mục đích tự thân thì mặt khác, cũng rất khó mà từ chối r”ng
nghề luật, cũng như mọi nhóm nghề nghiệp khác, đã và đang vẫn còn quan tâm
tới 4 mục tiêu này chính bởi là vì chúng có khả năng bảo đảm sự độc quyền
monopoly và bảo vệ tính t ự chủ autonomy để mà (ít nhất có một phần là để mà)
khẳng định địa vị kinh tế của họ. Tuy nhiên, việc kh“ng thừa nhận một cách
chính thức các chủ đề đó /độc quyền&kinh tế/ kh“ng làm ảnh hưởng tới giá trị
các c“ng trình nghiên cứu của Burrage về những thành c“ng và thất bại của nghề
luật trong mối tương quan so sánh tình hình ở ba nước Anh, P háp và Hoa Kỳ khi
đối chiếu với 4 m ục tiêu (goals) mà họ theo đuổi. P hân tích của tác giả đã chỉ ra
tầm ảnh hưởng /đối với nghề nghiệp/ của những khác biệt về văn hoá chính trị
(political culture) và về kinh nghiệm xã hội rút ra từ thực tiễn cách mạng /tư
sản/ diễn ra ở các nước này.
Phân tích quá trình theo đuổi mục tiêu, những thành c“ng và t hất bại của nghề nghiệp
đặt trong các bối cảnh và điều kiện xã hội khác biệt của ba nước là một sự khẳng định rõ rệt
cho luận điểm của tác gi ả, đồng thời minh hoạ /thuyết minh cho /tiếp cận văn hoá so sánh/,
tức là phải đặt nghề nghiệp trong quan hệ chặt chẽ với những khác biệt văn hoá (đặc thù cho
mỗi quốc gia). Theo hướng tiếp cận này, tác giả đã đưa ra nhiều dữ liệu chi tiết / / đã chỉ ra
r”ng:
+ cho đến trước thời kỳ cách mạng /t ư sản/, một mặt, nghề luật ở cả 3 nước đã có
nhiều nét giống nhau đến ngạc nhiên trong mục tiêu nghề nghiệp mà họ theo đuổi; họ đã cùng
3/ Tác giả chưa có sự nhấn mạnh cần thi ết vai trò của nhà nước (như là nghiên cứu t hực
tiễn, kể cả nghiên cứu của chính Burrage cho thấy); và cũng kh“ng có vai t rò đặc biệt nào
giành cho những nghề nghiệp khác (như Abbott đã làm).
Những điểm nêu trên đề cập tới nhu cầu cần thiết phải nhấn mạnh (khía cạnh này hay
khía cạnh khác) nhiều hơn là một sự phê phán đối với quan điểm của tác giả mà mấu chốt là:
trên con đường theo đuổi các mục tiêu (goals) của mình, nghề nghiệp buộc phải cạnh tranh
cùng với những đối tác khác, và đặc biệt, theo như cách nói của Joshnon (1982): “ Professions
are a product of state formation”. Theo đó, đối với việc l àm nghề nghiệp, kh“ ng còn gì thiết
yếu hơn l à (nền) văn hoá chính trị . Đó cũng chính là cái mà Burrage đã gắng c“ ng chứng tỏ.
44. Nghiên cứu của Halliday
Mọi nghề nghiệp, trong khi theo đuổi sự độc quyền và những đặc quyền
của mình, buộc phải tham gia vào mối quan hệ đặc thù với nhà nước, nhưn g giới
chuyên m“n pháp lý/các luật gia - trong mọi khu vực phân c“ng lao động của
ngành luật - lại có sự liên quan đặc t hù riêng đối với “ cánh tay” toà án của nhà
nước, và trong một số trường hợp thì họ hội nhập một cách tự nhiên vào bộ máy
nhà nước mà kh“ng có tham vọng riêng biệt. Một tình huống xã hội quá đặc thù
mà thực tế là duy nhất như vậy, theo Hallyday, đã khiến cho nhiều nhà XhhNN
lập luận theo hướng là giới CM luật kh“ng hề theo đuổi độc quyền nghề nghiệp,
kh“ng như những nghề nghiệp khác, và họ rất có thể là những người hoàn toàn
chí c“ng v“ tư (vì lợi ích chung entirely public-spirited).
5. Qu an hệ giữa lịch sử và xã h ội học nghề nghiệp
51. Nghiên cứu lịch sử nghề nghiệp (trường hợp ở nước Anh)
S1. Các nhà sử học ở Anh dường như luôn có mối quan tâm thường trực đối với vấn đề nghề
nghiệp /profession/. Tuy r”ng họ có cho biết /đệ trình/ những bức chân dung nghề nghiệp
21
GIÁO DỤC KINH TẾ
TTR LAO ĐỘNG NGHỀ NGHIỆP TTR TIÊU T HỤ Tuỳ theo từng trường hợp mà đó có thể là những nhóm-cộng đồng xã hội hay là t hi ết chế xã
hội
Quan hệ/vấn đề xã hội: cơ cấu (lao động/nghề nghiệp); phân định (nhóm ngành
nghề/nhóm người tiêu dùng sản phẩm); giáo dục (thay đổi - đổi mới: cơ cấu l ao động/nhóm
ngành nghề mới/định hướng ti êu dùng sản phẩm nghề);
S3. Việc xuất hiện những chủ đề nghiên cứu (mới) này có lẽ có thể (một phần) giải thích
được, căn cứ vào sự suy giảm/thoái/ chung của các học thuyết (về) lịch sử chính trị (và ), do
bởi các thuyết này hay sử dung những quan niệm (concept) có sẵn, ít năng động (cứng nhắc,
đã có sẵn); kể cả việc sử dụng những lý luận và kị ch bản xã hội có phần /khu“n sáo và kh“
cứng / mà rất ít quan tâm tới cuộc sống đời thường của con người/. Nhưng, bất luận vì lý do
gì thì những biến đổi (trong nghiên cứu lịch sử) ở Hoa kỳ và Anh quốc đều hướng tơí cùng
mục tiêu, cho dù họ đã trải qua những chặng đường khác nhau.
S31. Cho mãi tới sau Thế chi ến II /1945/, các nhà sử học Anh quốc vẫn còn tập t rung nghiên
22 22
cứu về sự hình t hành, về hoạt động nội bộ trong các hội đoàn nghề nghiệp cũng như là các
thiết chế tương ứng của một vài hội đoàn thực sự/đặc biệt nổi trội /hội đoàn kiểu truyền thống
đặc bi ệt khép kín = corporation/. T ừ quan niệm đó, họ (thường chỉ) nghiên cứu nhóm tinh hoa
/elit e cùng những vấn đề đặt ra cho nhóm đó, nh”m để giúp dỡ/để hiểu được việc đi ều hành
hoạt động của hội đoàn (mà tác gi ả/nhà nghiên cứu quan tâm).
Nghiên cứu lịch sử, như vậy, rất ít hoặc kh“ng quan tâm gì đến các hoạt động tác
chỉ mới hình thành gần đây, ở vào thời Augustan England, và chúng đã làm xuất hiện những
phương thức thăng tiến nghề nghiệp mới, những hình thức trung tín (loyalty) mới và đồng
thời là những cung cách hành động khác t rước – như ở các nghiệp đoàn đặc biệt khép kín
/kiểu truyền thống (corporation). Theo “ng, việc hình thành nên các tầng lớp nghề nghiệp
khác bi ệt đó l à kết quả của việc thiết chế hoá “các ảnh hưởng /của quan niệm/ c“ ng dân” theo
tinh thần mới /mà đáng tiếc là “ng đã thất bại, kh“ng /đi sâu/ phân tích được.
/p.18/
XHHNN dường như ngày càng quan tâm nhiều hơn đến các /khảo cứu lịch sử
(histori cal investigation). XHHNN thường phải chú ý tới các nguồn tư liệu/dữ li ệu sử học, do
bởi – người ta sẽ khó m à hiểu được các thiết chế nghề nghiệp nếu như kh“ng xem xét chúng
từ giác độ phát triển lịch sử. Ngoại t rừ, có chăng là những nghiên cứu thực địa về đời sống lao
động nghề nghiệp (field studi e) - có t hể kh“ng nhất thiết cần tới sử học. Mặc dù như vậy, /thời
23 23
gian gần đây/ XHHNN dường như ngày càng đến sát, tiếp cận nhiều hơn với các khảo cứu sử
học /inquiries/. Sự kết hợp này thường thấy trong các nghi ên cứu về di động xã hội từ giác độ
nhóm (của một nhóm nghề nghiệp hay cả một cộng đồng nghề nghiệp), chẳng hạn nghi ên cứu
của Larkin về phân c“ng lao động trong ngành y, hay của Abbott về sự tranh giành, cạnh
tranh quyền t ài phán (juridictional rivalries) của (những người hành nghề) nghề luật sư với
những nghề khác. Khảo sát mới đây về /m ột số ngành – gồm 7 ngành luật c“ ng và 12 ngành
luật dân dự - trong/ nghề luật, cuộc điều tra này do Hiệp hội xhh quốc tê tiến hành, cho thấy
rõ mối quan tâm của xhh đối với sử học. Mặc dù mục tiêu chính ở đây l à thu thập dữ liệu xhh
về những ngành nghề đương đại /hiện tại/ song hầu như các nghiên cứu trường hợp (ở/của)
mỗi quốc gia đều đã ít nhiều bắt đầu từ việc đánh giá vai trò, quá trình tác động và những
đóng góp hoặc của nhà nước hoặc của chính ngành nghề đó, hoặc l à cả từ hai phía, xét trong
lịch sử phát tri ển của nó.
Tuy có sự phát triển nhất định của các hướng nghiên cứu so sánh và của một số nghiên
cứu xhh xích lại gần với sử học, song, nghiên cứu nghề nghiệp dường như phải là nơi mút
24 24
Tiếp cận chức năng đặc trưng cho giai đoạn phát triển ban đầu của xã hội
học nghề nghiêp. Nó phát triển mạnh cho tới cuối những năm 1960 khi thuyết
này đạt tới đỉnh cao và hầu như có vai trò thống trị trong xã hội học. Tới mức
mà trong một bài phát biểu vào năm 1970, K. Davis - Chủ tịch Hiệp hội xã hội
học Mỹ (SAS) đã nói: lúc này, tất cả các nhà xã hội học chúng ta dường như đều
là những nhà chức năng luận mất rồi. Điều này trong thực tế có lẽ còn đúng hơn
đối với bộ môn XHHNN. Tuy nhiên, đó cũng chính là thời điểm nảy sinh ngày
một nhiều hơn những “cố gắng đoạn tuyệt” với xu thế chức năng “truyền
thống”: với những Boys in White của Becker, hay Profession of Medecine của
Freidson.
21. Khái niệm (thuyết) chức năng
- Xã hội là một hệ thống
- Nói đến tính thống nhất tức là nói đến tính chỉnh thể của hệ thống này: chỉnh
thể là đặc trưng (quan trọng nhất) cho phép phân biệt các hệ thống; hệ thống
bao giờ cũng vận động như một chỉnh thể.
A. Xã h ội là một hệ thống
A.1. Cá c khái niệm
1) Hệ thống là một tập hợp các phần tử có liên quan chặt chẽ với nhau để tạo thành m ột chỉnh thể.
- Chỉnh thể (TĐTV, 172): Thể, khối thống nhất tro ng đó các bộ phận có quan hệ chặ t chẽ không thể tách rời
nhau;
- Hệ thống (TĐTV, 435): * tập h ợp nhiều yếu tố, đơn vị cùng loạ i hoặc cùng chức năng, có quan hệ hoặc liên hệ
với nhau chặt chẽ, làm thành một thể thống nhất * Tập hợp nh ững tư tưởng, nguyên tắc, qui tắc liên kết với nhau
một cách logic, làm thành m ột thể thống nhất. Hệ thống tư tưởng, hệ thống các qui tắc ngữ pháp. * T ính chất có
khác nh au
+ Các q uan hệ cấu trúc tương quan cho những yếu tố đặc trưng cho sự tồn tại của HT
+ Quan hệ chức năng đặc trưng cho hành vi của hệ thống
- NL vận động và phát triển, có tính lịch sử: sinh ra, lớn lên, trưởng thành, chín muồi và tan rã
2.2. Nhóm NL qui định mối quan hệ MT&HT: tương hỗ, qua lại
+ HT bị môi trường qui định, HT phải thích nghi với MT, phải hoà điệu với các biến đổi của MT
+ HT tá c động ngược lên M T: tích cực - tiêu cực
2.3. Nhóm NL qui định mối quan hệ giữa chủ thể và Ht - như là khách thể
+ Chủ thể có thể nhận thức HT
+ CT có thể điều chỉnh được HT
+ CT có thể thay đổi bản chất HT: phá cũ, xây mới
I.3. Phương pháp hệ thống
Phương pháp có 3 nội dung: phương châm, phương hướng và phương thức
Phương châm và phương hướng nằm trong c ác nguyên lý?
Có ba phương thức lớn:
3.1. Phân tích HT về mặt c ấu trúc
Cấu trúc ( TĐTV, 139): toàn bộ nói chung những quan hệ bên trong giữa các thành phần ( ) tạo nên m ột ch ỉnh
thể;
Có thể nó i cấu tr úc là tổng thể các mối liên hệ g iữa các (nhóm ) yếu tố của Ht (được nhìn nhận, xem xét
theo một cách thức nhất định). Nhìn chung, Ht thường có nhiều quan hệ chồng chéo, đa cấu trúc.
3.2. Phân tích HT về phương diện chức năng - các ứng xử của Ht ( trong quan hệ) đối với MT
Chức năng ( TĐTV, 201): * Hoạt đông, tác dụng bình thường hoặc đặc trưng của m ột cơ quan, một hệ cơ quan
nào đó tr ong cơ thể. Chức năng của da là bảo vệ cơ thể, chức năng sinh lí. * Tác dụng, vai tr ò bình thường hoặc
đặc trưng của m ột người nào đó, một cái gì đó. Làm đú ng chức năng, chức năng giáo dục của gia đình.