P a g e | 1
MỤC LỤC
I. Lời mở đầu
II. Vài nét về BHXH
1. Khái niệm về BHXH
2. Đối tượng và phạm vi của BHXH
3. Sự cần thiết khách quan của BHXH
4. Bản chất và chức năng của BHXH
III. Những vấn đề cơ bản về BHXH khu vực phi chính thức
1. Khái niệm khu vực lao động phi chính thức
2. Vị trí và vai trò của khu vực lao động phi chính thức trong nền
kinh tế-xã hội
3. Khái niệm BHXH tự nguyện
4. Hạn chế của chính sách an sinh xã hội đến khu vực lao động phi
chính thức
IV. Thực trạng BHXH khu vực phi chính thức
1. Thực trạng BHXH khu vực phi chính thức
2. Nguyên nhân mức độ bao phủ của BHXH trong khu vực phi chính
thức còn thấp
V. Một số giải pháp cơ bản nhằm thực hiện tốt BHXH tự nguyện
khu vực phi chính thức
Viết tắt : Bảo hiểm xã hội :BHXH
Bảo hiểm y tế : BHYT
An sinh xã hội : ASXH
I. Lời mở đầu
Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một bộ phận lớn nhất trong hệ thống an sinh xã
hội (ASXH), là trụ cột cơ bản của ASXH. BHXH được hình thành từ hàng
trăm năm trước đây, khi kinh tế hàng hóa hình thành và phát triển. BHXH đã
trải qua một quá trình phát triển và thay đổi cả về mô hình nội dung và hình
thức thực hiện, từ chế độ BHXH đầu tiên được thực hiện là chế độ bảo hiểm
1
người lao động. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng
2
P a g e | 3
đã chỉ rõ: "Từng bước mở rộng vững chắc hệ thống bảo hiểm xã hội và an
sinh xã hội. Tiến tới áp dụng chế độ bảo hiểm xã hội cho mọi người lao
động, mọi tầng lớp nhân dân". Vì vậy, việc thực hiện chính sách BHXH tự
nguyện đối với người lao động khu vực phi chính thức là hết sức cần thiết.
Luật BHXH ra đời có hiệu lực thi hành từ năm 2007. Riêng chế độ BHXH tự
nguyện được áp dụng từ năm 2008. Đây là luật đầu tiên ở Việt Nam đó thể
chế ở mức cao một nhu cầu rất cơ bản về an sinh xã hội của con người (bao
gồm BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp), trong đó
BHXH tự nguyện chủ yếu cho đối tượng là người lao động khu vực phi
chính thức tức là người lao động làm việc không thuộc phạm vi tham gia
BHXH bắt buộc. Như vậy, lần đầu tiên người lao động ở mọi khu vực có
quyền lợi trong tham gia BHXH và thụ hưởng chính sách BHXH.
Tuy nhiên, qua nhiều năm việc thực hiện chính sách BHXH ở khu vực phi
chính thức vẫn nhiều nhiều vấn đề bất cập và hạn chế như : làm thế nào để
người lao động nhận thức được sự cần thiết tham gia BHXH, giải pháp nào
giải quyết việc tham gia BHXH của người lao động khi thu nhập bấp bênh,
vấn đề thể chế và tổ chức thực hiện, đội ngũ cán bộ thi hành,…
Nhằm mục đích tìm hiểu sâu hơn về BHXH, mà cụ thể là BHXH tự nguyện
khu vực phi chính thức cũng như hoàn thành bài tiểu luận cuối kỳ môn chính
sách xã hội, tôi đã chọn đề tài: “ Tìm hiểu về bảo hiểm xã hội tự nguyện
khu vực phi chính thức ”.
II. Vài nét về BHXH
1. Khái niệm về BHXH
BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người
lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao
động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập
trung nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần
còn có người sử dụng lao động. Bởi vì, khi người lao động gặp rủi ro thì
người sử dụng lao động phải có trách nhiệm giúp đỡ. Điều này có nghĩa là
họ phải bỏ ra một khoản chi phí cho người lao động, nhưng thực tế chi phí
này nhanh chóng được cơ quan bảo hiểm hoàn trả lại.
4
P a g e | 5
Đối tượng được hưởng quyền lợi BHXH là người lao động trong trường hợp
họ gặp rủi ro như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp,
hưu trí. Nhưng trong trường hợp người lao động bị tử vong hoặc sinh đẻ thì
đối tượng hưởng quyền lợi bảo hiểm xã hôi lại là thân nhân của người lao
động như: bố, mẹ, con, vợ (chồng).
b) Phạm vi BHXH
Theo công ước 102 tháng 6 năm 1952 tại Giơ-ne-vơ của tổ chức lao động
quốc tế ILO phạm vi của BHXH là trợ cấp cho 9 chế độ sau:
Chăm sóc y tế
Trợ cấp ốm đau
Trợ cấp thất nghiệp
Trợ cấp tuổi già
Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
Trợ cấp gia đình
Trợ cấp thai sản
Trợ cấp khi tàn phế
Trợ cấp cho người còn sống (trợ cấp mất người nuôi dưỡng)
Tùy điều kiện kinh tế xã hội mà mỗi nước tham gia công ước Giơ-ne-vơ thực
hiện kiến nghị đó ở mức độ khác nhau.
Ở nước ta theo điều lệ BHXH Việt Nam, BHXH nước ta hiện nay bao gồm 5
chế độ: chế độ trợ cấp ốm đau, chế độ trợ cấp thai sản, chế độ trợ cấp tai nạn
lao động, bệnh nghề nghiệp, chế độ hưu trí và chế độ tử tuất.
3. Sự cần thiết khách quan của BHXH
Con người muốn tồn tài và phát triển được trước hết phải ăn, ở và đi lại,…
giới chủ và giới thợ phải đóng góp một khoản tiền nhất định hàng tháng
được tính toán chặt chẽ dựa trên cơ sở xác suất rủi ro xảy ra đối với người
làm thuê. Số tiền đống góp này hình thành một quỹ tiền tệ tập trung trên
phạm vi quốc gia. Quỹ này còn được bổ sung từ ngân sách Nhà nước khi cần
thiết nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động khi gặp phải những biến cố
bất lợi. Chính vì thế, cuộc sống của người lao động và gia định họ ngày càng
được đảm bảo ổn định, giới chủ cũng thấy mình có lợi và được bảo vệ, sản
xuất kinh doanh diễn ra bình thường, tránh được những xáo trộn không cần
thiết.
Toàn bộ những hoạt động với những mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ trên được
thế giới quan niệm là BHXH đối với người lao động. Như vậy, BHXH là sự
6
P a g e | 7
đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ
gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm
trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời
sống cho người lao động và gia đình họ góp phần đảm bảo an toàn xã hội.
4. Bản chất và chức năng của BHXH
a) Bản chất của BHXH
BHXH là nhu cầu khách quan, đa dạng và phức tạp của xã hội, nhất là trong
xã hội mà sản xuất hàng hóa hoạt động theo cơ chế thị trường, mối quan hệ
thuê mướn lao động phát triển đến một mức độ nào đó. Kinh tế càng phát
triển thì BHXH càng đa dạng và hoàn thiện. Vì thế có thể nói kinh tế là nền
tảng của BHXH hay BHXH không vượt quá trạng thái kinh tế của mỗi nước.
Mối quan hệ giữa cái bên trong BHXH phát sinh trên cơ sở quan hệ lao động
và diễn ra giữa 3 bên: Bên tham gia BHXH, bên BHXH và bên được BHXH.
Bên tham gia là người lao động hoặc cả người lao động và người sử dụng lao
động. Bên BHXH là cơ quan chuyên trách do Nhà nước lập ra và bảo trợ.
Bên được BHXH là người lao động và gia đình họ khi có đủ các điều kiện
ràng buộc cần thiết.
nhập cho những người có liên quan. Khái niệm của ILO về khu vực phi
chính thức đã coi các đơn vị sản xuất kinh doanh là đơn vị quan sát. Các đơn
vị này mang những đặc điểm của hộ sản xuất kinh doanh, không có tư cách
pháp nhân, chưa đăng ký hoặc có quy mô nhỏ. Định nghĩa của ILO cũng loại
trừ lĩnh vực nông nghiệp ra khỏi khu vực phi chính thức.
Hiện nay, có nhiều quan niệm về khu vực phi chính thức, tuy nhiên các
nghiên cứu đều ngụ ý rằng khu vực không chính thức bao gồm những cơ sở
sản xuất kinh doanh ở quy mô nhỏ, không đăng ký kinh doanh, không chịu
sự điều chỉnh của Luật lao động, Luật doanh nghiệp, Luật hợp tác xã, không
đóng bảo hiểm xã hội (BHXH) và không bao gồm các hoạt động nông lâm
ngư nghiệp vì các đặc điểm của khu vực phi chính thức rất khác so với hoạt
động nông nghiệp về mùa vụ, tổ chức lao động, mức tạo thu nhập và tính
pháp lý…
8
P a g e | 9
2. Vị trí và vai trò của khu vực lao động phi chính thức trong nền kinh tế-xã
hội
Năm 2010, lực lượng lao động của nước ta vào khoảng 48 triệu người, trong
đó lao động khu vực chính thức chiếm 13 triệu người, lao động khu vực
không chính chức chiếm 11 triệu người, còn lại có gần 24 triệu người làm
việc trong khu vực nông, lâm, ngư nghiệp-chiếm 49% tổng việc làm trong
nền kinh tế. Cả nước có 8,4 triệu hộ sản xuất, kinh doanh phi chính thức,
trong đó 7,4 triệu hộ xem hoạt động trong khu vực này của mình là việc làm
chính và 1 triệu hộ xem đó là việc làm thứ hai. Thu nhập từ khu vực việc làm
phi chính thức chiếm khoảng 30 – 60% tổng thu nhập quốc gia, đóng góp
20% tổng GDP của cả nước. Nếu nghề nông và việc làm nông nghiệp được
tính vào thì khoảng 73% số việc làm là do kinh tế hộ gia đình cung cấp.
Những người làm việc trong khu vực không chính thức là những lao động tự
do, bao gồm: Thợ uốn tóc, thợ may tại nhà, buôn bán rong, thợ xây dựng tự
do, người hành nghề xe ôm, người giúp việc gia đình… và những người tự
Nhìn chung, khu vực phi chính thức đóng một vai trò quan trọng trong nền
kinh tế - xã hội, chiếm một lực lượng lao động đông, năng động, dễ chuyển
đổi, tuy nhiên đây là một khu vực dễ bị tổn thương.
3. Khái niệm BHXH tự nguyện
Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động
tự nguyện tham gia, được lựa chon mức đóng và phương thức đóng phù hợp
với thu nhập của mình để được hưởng bảo hiểm xã hội
4. Hạn chế của chính sách an sinh xã hội đến khu vực lao động phi chính
thức
Mặc dù đóng góp không nhỏ vào phát triển kinh tế, xã hội của đất nước
nhưng chương trình, chính sách ASXH hiện vẫn chưa bao phủ lên số đông
NLD (người lao động) làm việc tại khu vực không chính thức. Chẳng hạn
việc đóng BHXH và BHYT đối với NLĐ trong khu vực này vẫn khá xa vời.
Bằng chứng là mặc dù Việt Nam đã đề xuất và thực hiện nhiều chính sách
nhằm tiến tới thực hiện BHYT toàn dân nhưng đa số lao động khu vực này
10
P a g e | 11
đều chưa mặn mà tham gia vì họ thấy rằng, họ còn phải lo những gánh nặng
chi tiêu thiết thân cho cuộc sống hàng ngày. Chưa kể, những NLĐ làm việc
trong khu vực phi chính thức thường luẩn quẩn trong vòng đói nghèo. Họ bị
hạn chế về năng lực, kiến thức và vật chất, khiến không có nhiều cơ hội hòa
nhập xã hội.
Là một nước nông nghiệp, dân số và lao động khu vực phi chính thức và
trong nông thôn chiếm tỷ trọng cao. Nếu như khu vực chính thức như hành
chính sự nghiệp, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, hiện nay
các chính sách an sinh xã hội bắt buộc như BHXH bắt buộc, bảo hiểm y tế
bắt buộc được triển khai tương đối khá thì khu vực không chính thức, khu
vực nông thôn hiện nay việc triển khai chính sách gặp nhiều khó khăn. Việc
triển khai hệ thống an sinh xã hội tự nguyện có tầm quan trọng đặc biệt (vì
số lượng người tham gia BHXH bắt buộc chỉ chiếm gần 20% lực lượng lao
gia BHXH.
Tính đến năm 2007, tỷ lệ lao động ở khu vực phi chính thức tham gia BHXH
bắt buộc khoảng 14,95%, chủ yếu là trong lĩnh vực phi nông nghiệp ở nông
thôn; tham gia BHXH tự nguyện là 3,74%, bảo hiểm y tế bắt buộc là 15,89%
và bảo hiểm y tế tự nguyện là 3,74%. Nhìn chung, trong khu vực phi chính
thức số người chưa có điều kiện tham gia vào thị trường bảo hiểm còn rất
lớn
Kể từ khi Luật BHXH được Quốc Hội chính thức thông qua ngày 29 tháng 6
năm 2006, tính đến hết năm 2010, số lượng người tham gia BHXH bắt buộc
mới đạt 9,6 triệu người, chiếm khoảng gần 20% tổng số lực lượng lao động.
BHXH tự nguyện được đưa vào Luật để điều chỉnh đối tượng lao động trong
khu vực phi chính thức, được chính thức thực hiện từ 1/1/2008, nhưng sau 3
năm thực hiện, số người tham gia mới đạt khoảng hơn 90 ngàn người, trong
đó chủ yếu là những người đã tham gia BHXH bắt buộc và BHXH nông dân
Nghệ An chuyển sang, số người tham gia BHXH tự nguyện ngay từ đầu là
rất thấp. Việc thí điểm BHXH cho nông dân ở một số tỉnh trong giai đoạn
trước khi thực hiện BHXH tự nguyện nói chung không thành công, kể cả
BHXH nông dân Nghệ An (cho đến hết năm 2006, mới có hơn 86 ngàn
người tham gia). Có thể nói rằng, về cơ bản, nông dân, lao động tự do, kể cả
12
P a g e | 13
lao động di cư, lao động làm thuê trong khu vực tư nhân (kinh tế hộ cá thể)
…chưa tham gia BHXH. Ngoài ra, trong những năm qua, hệ thống bảo hiểm
thương mại phát triển mạnh, nhất là bảo hiểm nhân thọ, tạo cơ hội cho số lao
động khu vực phi chính thức có khả năng kinh tế tham gia, nhưng con số này
ở mức rất thấp.
2. Nguyên nhân mức độ bao phủ của BHXH trong khu vực phi chính thức
còn thấp
2.1.Mức đóng quá cao
Theo quy định, người lao động trích một phần thu nhập của mình để đóng
nông thôn hoặc miền núi, với mức thu nhập thấp hơn nhiều mức thu nhập ở
thành phố, việc tham gia BHXH vẫn còn khá xa vời. Tóm lại, đời sống của
phần lớn lao động khu vực không chính thức còn thấp, thậm chí thu nhập
chưa đủ chi tiêu và lo cho con cái, gia đình vì đa số họ là lao động chính
trong nhà, vừa nuôi con cái lại vừa nuôi cha mẹ già. Do đó đối với nhiều
người vấn đề trước mắt là tồn tại chứ không phải lo lắng cho tương lai xa,
đặc biệt là với nông dân và lao động nông nghiệp có thu nhập từ sản xuất
nông nghiệp thất thường.
2.2.Thời gian đóng kéo dài
Việc quy định thời gian tham gia BHXH tối thiểu 20 năm, hoặc thiếu không
quá 5 năm so với quy định đã làm giảm một số lượng lớn những lao động
nam trên 45 tuổi và lao động nữ trên 41 tuổi tham gia BHXH. Trong nền
kinh tế thị trường, việc người lao động phải di chuyển tìm kiếm việc làm khi
thì thuộc thành phần kinh tế này, lúc thì chuyển sang thành phần kinh tế
khác, khi thì có hợp đồng lao động, lúc thì phải tự hành nghề để kiếm sống là
điều khó tránh khỏi đối với một bộ phận lớn lao động xã hội. Nhiều người
tham gia cả hai hình thức BHXH bắt buộc và tự nguyện trong nhiều giai
đoạn nhưng cuối đời vẫn không đáp ứng đủ ít nhất 15 năm tham gia BHXH
(dù chỉ thiếu một vài tháng) để được hưởng lương hưu hàng tháng- đó thực
sự là một điểm hạn chế cần được các nhà làm chính sách xem xét.
2.3.Thu nhập không ổn định và chưa có tiết kiệm, tích lũy
Điều kiện để tham gia BHXH của người lao động ở khu vực phi chính thức
là phải có việc làm, có thu nhập, nhưng quan trọng hơn là phải có tiết kiệm
14
P a g e | 15
và tích luỹ. Tuy nhiên, chỉ khoảng 30,4% người lao động ở khu vực phi
chính thức luôn đủ thời gian làm việc trong năm, 60,4% thỉnh thoảng mới đủ
thời gian làm việc.
Việc làm không ổn định là nguyên nhân dẫn đến thu nhập và tích luỹ thấp.
Nhìn chung, các hộ gia đình trong khu vực phi chính thức có khoản tích luỹ
khai còn chậm, chưa đều tại các tỉnh, thành phố và còn thiếu các hình thức
phù hợp tác động trực tiếp đến đối tượng tham gia đặc biệt khu vực nông
thôn, làng nghề, dịch vụ. Công tác tuyên truyền chưa được quan tâm và đầu
tư đúng mức, kinh phí rất hạn hẹp và so với BHXH bắt buộc, công tác tuyên
truyền BHXH tự nguyện chưa được quan tâm bằng, công tác tuyên truyền
chủ yếu tập trung vào phổ biến các chế độ của BHXH bắt buộc, phổ biến đến
các khu công nghiệp, nhà máy nơi có nhiều người sử dụng lao động và người
lao động làm công ăn lương.
V. Một số giải pháp cơ bản nhằm thực hiện tốt BHXH tự nguyện khu vực
phi chính thức
Khi xã hội càng phát triển cuộc sống xã hội của con người càng đa dạng và
phong phú, những khả năng rủi ro xã hội có chiều hướng gia tăng, do đó nhu
cầu về bảo hiểm an toàn cho các cá nhân vì thế cũng tăng lên, đặc biệt là
những người lao động làm việc trong khu vực phi chính thức. Lao động
trong khu vực này là người lao động vừa làm chủ tư liệu sản xuất, vừa làm
chủ sức lao động, nhưng trình độ tổ chức sản xuất kinh doanh của họ còn lạc
hậu, lao động thủ công là chính, năng suất lao động xã hội chưa cao. Do đó
thu nhập của những người này thường thấp và chịu nhiều rủi ro như thiên tai,
địch hoạ, tai nạn lao động. Chính vì vậy, tiếp cận tới mạng lưới an sinh xã
hội thông qua việc tham gia vào các hình thức của BHXH là nhu cầu cấp
bách đối với khu vực phi chính thức.
Đặc điểm của lao động khu vực không chính thức là không nằm trong tổ
chức kinh tế có tư cách pháp nhân, mà chủ yếu làm việc trong hộ gia đình
(nhất là nông thôn), độ phân tán cao, thường xuyên di chuyển và trình độ dân
trí thấp, không hạch toán thu nhập rõ ràng…Do đó, việc tiếp cận BHXH tự
nguyện là trực tiếp. Bởi vậy, nếu không tạo điều kiện cho họ thì khả năng
16
P a g e | 17
tham gia là rất hạn chế. Để tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động khu
vực phi chính thức tham gia BHXH tự nguyện, tôi có một số giải pháp sau:
phủ công bố rõ ràng về chính sách).
Tăng cường tuyên truyền nâng cao nhận thức của người lao động khu vực
phi chính thức về BHXH tự nguyện để họ hiểu, tin tưởng và tham gia…
Hình thức tuyên truyền có thể là: Tổ chức các cuộc tập huấn cho các báo cáo
viên thuộc hệ thống tuyên giáo cấp cơ sở để họ tuyên truyền lại cho người
dân, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, nhất là các báo, đài phát
thanh, vô tuyến truyền hình, xây dựng các trang web, in ấn và phát hành các
tờ rơi, đưa nội dung BHXH tự nguyện vào nội dung hoạt động của tổ chức tư
vấn pháp luật cho nông dân nghèo.
Về yêu cầu thời gian tối thiểu đóng BHXH để tạo điều kiện cho người dân
tham gia. Như đã nói ở trên, việc quy định thời gian tối thiểu tham gia
BHXH để được hưởng lương hưu là 20 năm và được đóng bù nếu thiếu
không quá 5 năm so với quy định đã làm giảm một số lượng lớn người tham
gia BHXH tự nguyện. Trong thời gian tới, nhà nước cần nghiên cứu để có
thể giảm thời gian tối thiểu tham gia BHXH và vẫn cho phép đóng bù nếu
thời gian còn thiếu. Ví dụ như ở Trung Quốc, thời gian tham gia BHXH tối
thiểu để được hưởng lương hưu là 15 năm và được đóng bù thời gian còn
thiếu. Song song với giảm thời gian tối thiểu tham gia BHXH thì có thể giảm
mức hưởng và thời gian hưởng xuống. Mục đích cuối cùng là mở rộng số
lượng người tham gia BHXH tự nguyện, đồng thời vẫn đảm bảo cân đối quỹ.
18
P a g e | 19
DANH MỤC THAM KHẢO
1. Thị trường lao động, khu vực không chính thức và điều kiện sống hộ gia
đình tại Việt Nam, theo Jean-Pierre Cling, Mireille Razafindrakoto, François
Roubaud – IRD-DIAL.
2. Viện KH LĐ-XH, Xu hướng lao động và xã hội Việt Nam thời kỳ 2001-2010
3. Kết quả điều tra Lao động-việc làm quốc gia 2009.
4. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội - Ngân hàng Thế giới (2007), Khảo
sát về triển vọng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện cho khu vực phi chính