Phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện khu vực phi chính thức ở Việt Nam - Pdf 27

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong xã hội hiện đại, các quốc gia, một mặt nỗ lực hướng vào và
phát huy mọi nguồn lực, nhất là nguồn nhân lực cho tăng trưởng kinh tế, nâng
cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, tạo ra bước phát triển bền vững và
ngày càng phồn vinh cho đất nước; mặt khác, không ngừng hoàn thiện hệ
thống (an sinh xã hội) ASXH, trước hết là bảo hiểm xã hội (BHXH) để giúp
cho con người, người lao động có khả năng chống đỡ với các rủi ro xã hội,
đặc biệt là rủi ro trong kinh tế thị trường và rủi ro xã hội khác. Kinh tế ngày
càng phát triển theo hướng thị trường, thì ASXH càng phải đảm bảo tốt hơn.
Đối với nước ta, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm và coi trọng thực
hiện các chính sách xã hội đối với người lao động. Chính vì vậy, ngay từ khi
thành lập nước, Chính phủ đã ban hành các đạo luật về BHXH. BHXH đã
không ngừng phát triển và trong từng thời kỳ nó đã đóng vai trò không nhỏ
trong việc đảm bảo ASXH cho đất nước.
Tuy nhiên, trải qua một thời gian dài BHXH cũng chỉ phục vụ đối
tượng người lao động thuộc các cơ quan và doanh nghiệp nhà nước. Đến ngày 1
tháng 1 năm 1995, Bộ luật Lao động có hiệu lực thi hành, tại Điều 140 đã quy
định các loại hình BHXH bắt buộc hoặc tự nguyện được áp dụng đối với từng
loại đối tượng và từng loại doanh nghiệp để bảo đảm cho người lao động
được hưởng các chế độ bảo hiểm thích hợp.
Thi hành bộ luật này, ngày 26/01/1995 Chính phủ đã ban hành Nghị
định số 12/CP quy định Điều lệ BHXH đối với công nhân viên chức nhà nước
và Nghị định 45/CP ngày 15/07/1995 đối với sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ,
công nhân viên quốc phòng. Năm 2007, dân số cả nước có khoảng 85,2 triệu
người, lực lượng lao động có khoảng 46,6 triệu người. Lao động có việc làm
1
trong nền kinh tế quốc dân khoảng 45,6 triệu người, trong đó đối tượng tham
gia BHXH bắt buộc (lao động làm công ăn lương hay còn gọi là lao động khu
vực chính thức) có khoảng 12,3 triệu người (27% lực lượng lao động) [26].
Còn lại 33,3 triệu lao động (73%) làm việc trong nông nghiệp (nông dân), khu

của Đảng đã chỉ rõ: "Từng bước mở rộng vững chắc hệ thống bảo hiểm xã hội
và an sinh xã hội. Tiến tới áp dụng chế độ bảo hiểm xã hội cho mọi người lao
động, mọi tầng lớp nhân dân". Vì vậy, việc phát triển BHXH tự nguyện đối
với người lao động khu vực phi chính thức là hết sức cần thiết.
Luật BHXH ra đời có hiệu lực thi hành từ năm 2007. Riêng chế độ
BHXH tự nguyện được áp dụng từ năm 2008. Đây là luật đầu tiên ở Việt Nam
đó thể chế hóa ở mức cao của một nhu cầu rất cơ bản về ASXH của con người
(bao gồm BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp), trong đó
BHXH tự nguyện chủ yếu cho đối tượng là người lao động khu vực phi chính
thức tức là người lao động làm việc không thuộc phạm vi tham gia BHXH bắt
buộc. Như vậy, lần đầu tiên người lao động ở mọi khu vực có quyền tham gia
BHXH và được thụ hưởng lợi ích từ BHXH. Việc triển khai BHXH tự
nguyện mặc dù còn mới, nhưng do hệ thống BHXH đã phân cấp tổ chức bộ
máy hoạt động đến cấp huyện và có đại lý đến cấp xã, phường rất thuận lợi
cho người lao động tiếp cận để tham gia. Tuy nhiên, qua hai năm triển khai
thực hiện, số lượng người lao động tham gia BHXH tự nguyện ở khu vực phi
chính thức còn rất hạn chế (khoảng 41.000 người) chưa đáp ứng được nhu cầu
của người lao động khu vực phi chính thức, cũng như định hướng phát triển
của Đảng, Nhà nước.
Nguyên nhân số lượng người tham gia BHXH tự nguyện ở nước ta
còn ít là do: trình độ học vấn và nhận thức xã hội còn nhiều hạn chế; lao động
phần lớn chưa qua đào tạo; việc làm bấp bênh; thu nhập thấp là những vấn đề
ảnh hưởng lớn đến việc triển khai thực hiện BHXH tự nguyện cho người lao
3
động thuộc khu vực này. Vấn đề cần đặt ra là làm thế nào để người lao động
nhận thức được sự cần thiết tham gia BHXH; Giải pháp nào giải quyết việc
tham gia BHXH của người lao động khi thu nhập bấp bênh; Vấn đề thể chế và
tổ chức thực hiện, đội ngũ cán bộ quản lý. Xuất phát từ những lý do trên, tôi
đã chọn đề tài "Phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện khu vực phi chính thức
ở Việt Nam" làm đề tài luận văn.

bước tiến hành thực hiện BHXH tự nguyện, nhưng nghiên cứu này thực hiện
trong bối cảnh chưa có Luật BHXH; Đề tài "Mô hình thực hiện bảo hiểm xã
hội tự nguyện ở một số nước trên thế giới và những bài học kinh nghiệm có thể
vận dụng vào Việt Nam" của tác giả Đào Thị Hải Nguyệt, đề tài cấp Bộ năm
2007, tập trung nghiên cứu kinh nghiệm của nước ngoài trong việc thực hiện
BHXH tự nguyện; Đề tài "Khảo sát về triển vọng tham gia bảo hiểm xã hội tự
nguyện cho khu vực phi chính thức ở Việt Nam: Kiến nghị chính sách", đề tài
cấp Bộ năm 2007 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội và Ngân hàng thế
giới, đề tài tập trung nghiên cứu và đưa ra cơ sở để triển khai Luật BHXH về
BHXH tự nguyện; Đề tài "Cơ sở khoa học của việc xây dựng, hoàn thiện hệ
thống chính sách an sinh xã hội ở nước ta giai đoạn 2007-2015", đề tài cấp bộ
của tác giả Mai Ngọc Cường - Trường Đại học Kinh tế quốc dân, đề tài này
nghiên cứu tổng thể hệ thống ASXH ở nước ta. Từ trước năm 2008 có đề cập
đến một số cơ sở để xây dựng chính sách về BHXH tự nguyện.
Nhìn chung, các nghiên cứu trên đã góp phần cung cấp cơ sở khoa học
cho việc xây dựng và thực hiện BHXH tự nguyện ở nước ta những năm qua,
nhưng vẫn mới là những nghiên cứu bước đầu, còn chưa đầy đủ, thiếu hệ thống,
đặc biệt chưa cập nhật được những xu hướng phát triển mới của hệ thống
BHXH tự nguyện, trong bối cảnh đất nước chuyển mạnh sang nền kinh tế thị
trường, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, khu vực và điểm cần nhấn
mạnh đó là các nghiên cứu trên thực hiện trong điều kiện Luật BHXH, về
BHXH tự nguyện chưa được thực thi.
5
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng việc tham gia BHXH và khả năng tham gia
BHXH tự nguyện của người lao động khu vực phi chính thức.
- Đề xuất các giải pháp phát triển BHXH tự nguyện ở Việt Nam trong
thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn

dung của luận văn gồm 3 chương, 11 tiết.
7
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN
ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG KHU VỰC PHI CHÍNH THỨC
1.1. SỰ CẦN THIẾT PHẢI PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN
ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG KHU VỰC PHI CHÍNH THỨC Ở VIỆT NAM
1.1.1. Khu vực phi chính thức và vai trò của nó trong nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
1.1.1.1. Khái niệm
Trên thế giới, có nhiều khái niệm về khu vực phi chính thức, nhưng
theo ý nghĩa trong lĩnh vực nghiên cứu của đề tài này thì khu vực kinh tế phi
chính thức được hiểu theo một cách đơn giản nhất là các đơn vị sản xuất, kinh
doanh cá thể không có giấy phép kinh doanh, hoặc có đăng ký kinh doanh
nhưng không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật doanh nghiệp. Còn khái
niệm khu vực phi chính thức được thông qua tại Hội nghị Quốc tế các nhà
Thống kê lao động (ICLS) lần thứ 15 như sau: Khu vực phi chính thức mang
những nét đặc trưng chủ yếu của những đơn vị tham gia vào quá trình sản xuất
ra sản phẩm hàng hóa và dịch vụ với mục tiêu ban đầu là tạo ra việc làm và
thu nhập cho những người có liên quan. Những đơn vị này thường được tổ
chức hoạt động ở mức thấp, sản xuất kinh doanh ở quy mô nhỏ, với không
hoặc rất ít sự phân chia giữa lao động và vốn là các yếu tố đầu vào của sản
xuất. Các mối liên hệ việc làm - nếu có - chủ yếu dựa trên sự tình cờ, quan hệ
họ hàng hoặc quan hệ cá nhân, sự quen biết hơn là dựa trên các thỏa thuận
hợp đồng với sự bảo đảm chính thức.
Như vậy chúng ta có thể hiểu khu vực phi chính thức là khu vực tự
làm, lao động tự do hành nghề và lao động làm thuê nhưng chưa được điều
chỉnh của Bộ luật lao động.
8
1.1.1.2. Vị trí, vai trò của khu vực phi chính thức

khủng hoảng kinh tế - tài chính của thế giới, thì khu vực kinh tế phi chính
thức đó chứng tỏ sự năng động của mình, thu hút hàng vạn lao động bị mất
việc làm từ khu vực chính thức và nhờ vậy mà đó không tạo nên cú sốc về
việc làm và thu nhập đối với xã hội.
Nhận thức được vai trò quan trọng của khu vực kinh tế phi chính thức
trong việc tạo việc làm, thu nhập và giảm nghèo nên trong những năm qua,
Việt Nam đó không ngừng bổ sung, hoàn thiện hệ thống luật pháp và chính
sách hỗ trợ khu vực kinh tế phi chính thức cũng như bảo vệ quyền lợi cho lực
lượng lao động làm việc tại khu vực này. Với tỷ trọng lao động làm việc trong
khu vực kinh tế chính thức còn thấp như hiện nay thì trong những năm tới,
khu vực kinh tế phi chính thức sẽ tiếp tục là một bộ phận cấu thành quan
trọng của nền kinh tế Việt Nam. Bởi vậy, Chính phủ Việt Nam sẽ tiếp tục bổ
sung, hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách tập trung vào những nội dung:
ASXH, học nghề, an toàn vệ sinh lao động, tiếp cận thị trường,.. cho lao động
làm việc ở khu vực kinh tế phi chính thức.
1.1.2. Khái niệm, bản chất bảo hiểm xã hội tự nguyện
1.1.2.1 Khái niệm bảo hiểm xã hội tự nguyện
Bảo hiểm xã hội có lịch sử hình thành và phát triển từ rất lâu và sự tồn
tại của nó là tất yếu, có nhiều khái niệm về BHXH do có nhiều cách tiếp cận
BHXH khác nhau. Nhưng khái niệm được hiểu một cách chính xác nhất theo
Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) thì: BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù
đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải những biến cố
rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm, bằng cách
hình thành và sử dụng một quỹ tài chính tập trung do sự đóng góp của người
sử dụng lao động, người lao động và sự bảo trợ của Nhà nước, nhằm đảm bảo
10
an toàn đời sống cho người lao động và cho gia đình họ, gúp phần bảo đảm an
toàn xã hội.
Với tác dụng to lớn trong việc giảm gánh nặng ngân sách, cải thiện đời
sống cho đối tượng, bảo đảm ASXH bền vững, BHXH phát triển rộng rãi bảo

* Bản chất kinh tế của BHXH tự nguyện
Bản chất kinh tế của BHXH nói chung và BHXH tự nguyện nói riêng
thể hiện ở chỗ những người tham gia cũng đóng góp một khoản tiền trích
trong thu nhập (khoản đóng góp này sau khi đó chi tiêu cho các nhu cầu tối
thiểu và các nhu cầu cần thiết và không ảnh hưởng lớn đến đời sống và sản
xuất - kinh doanh của cá nhân) để lập một quỹ dự trữ. Mục đích của việc
hình thành quỹ này để trợ cấp cho những người tham gia BHXH tự nguyện
khi gặp rủi ro dẫn đến giảm hoặc mất thu nhập. Như vậy BHXH cũng là quá
trình phân phối lại thu nhập. Xét trên phạm vi toàn xã hội, BHXH là một bộ
phận của GDP được xã hội phân phối lại cho những thành viên khi phát sinh
nhu cầu về BHXH như ốm đau, sinh đẻ, già yếu, chết... Xét trong nội tại
BHXH, sự phân phối của BHXH được thực hiện theo cả chiều dọc và chiều
ngang. Phân phối theo chiều ngang là sự phân phối giữa chính bản thân
người lao động theo thời gian (giữa thời gian lao động và thời gian nghỉ
hưu). Phân phối theo chiều dọc là sự phân phối giữa những người khỏe
mạnh với người ốm đau; giữa người trẻ và người già; giữa người có thu
nhập cao với người có thu nhập thấp. Nhờ sự phân phối lại thu nhập mà đời
sống của người lao động và gia đình họ luôn được đảm bảo trước những bất
trắc và rủi ro xã hội.
Tóm lại, BHXH tự nguyện được đặc trưng bằng sự vận động của các
nguồn tài chính trong quá trình tạo lập và sử dụng quỹ BHXH tự nguyện
12
nhằm góp phần ổn định cuộc sống của người tham gia và gia đình họ khi gặp
rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng thu nhập từ lao động.
* Bản chất xã hội của BHXH tự nguyện
Bản chất xã hội của BHXH tự nguyện được thể hiện ngay trong mục
tiêu của nó. BHXH hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận. Mục tiêu của bất
kỳ hệ thống BHXH nào cũng là mục tiêu xã hội. Điều này được thể hiện
thông qua việc chi trả chế độ BHXH. Người tham gia BHXH tự nguyện sẽ
được thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập khi họ bị giảm hoặc mất khả

5. Trợ cấp tai nạn lao động
6. Trợ cấp gia đình
7. Trợ cấp thai sản
8. Trợ cấp tàn phế
9. Trợ cấp mất người nuôi dưỡng
Cơ sở để xác định thực thi mỗi chế độ BHXHTN là căn cứ vào trình
độ phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Điều đó cần phải được cụ thể
hóa xem xét trên các nội dung sau đây:
- Đối tượng tham gia: Về nguyên tắc mọi người lao động có nhu cầu
đều được tham gia BHXHTN. Tuy nhiên, ở hầu hết các nước đều thực hiện
cách tiếp cận từ từ để mở rộng đối tượng trong một hệ thống BHXHTN. Khi
xác định đối tượng của BHXHTN, cần thiết xác định phạm vi và đối tượng
tham gia và những đối tượng bị loại trừ khỏi hệ thống. Việc xác định này phải
dựa trên cơ sở điều kiện phát triển kinh tế xã hội của mỗi nước, trình độ quản
14
lý của cơ quan BHXHTN và các điều kiện khác như truyền thống, đất đai,
những hệ thống sở hữu đất đai, mùa vụ và những thiên tai, giá cả được đảm
bảo và ổn định, hỗ trợ khuyến mãi, cải thiện dịch vụ y tế... Do đó đối với lao
động trong nông nghiệp và nông thôn, trên thế giới không có mô hình đơn
độc, có phạm vi quốc tế rộng khắp, thống nhất. Ngay cả khi chúng ta nghiên
cứu chính sách BHXHTN đối với người lao động trong khu vực nông, ngư và
tiểu thủ công nghiệp cũng cần phải dựa trên tính đặc thù của từng nhóm người
lao động, mà đưa ra những chính sách phù hợp cho từng đối tượng.
- Về mức đóng góp: theo loại hình BHXHTN bao gồm nhiều loại hình
lao động có các hình thức và mức thu nhập khác nhau, nên phải xác định mức
đóng BHXHTN sao cho nhiều đối tượng có thể tham gia, đảm bảo cho việc
hạch toán cân đối thu chi BHXHTN được thống nhất, dễ dàng.
- Về chế độ: đối với loại hình BHXHTN, lựa chọn mức độ đóng góp
để chi các chế độ và nhu cầu của số người tham gia.
- Xác định mối quan hệ giữa mức đóng và mức hưởng: đây là một vấn

người nghèo.
- BHXH tự nguyện góp phần phòng tránh và hạn chế tổn thất, đảm
bảo an toàn cho sản xuất và đời sống xã hội của con người.
- BHXH tự nguyện góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh
tế của đất nước.
1.2.3 Nguyên tắc hoạt động
Nguyên tắc BHXH tự nguyện là những quy định nhằm đảm bảo cho
các hoạt động BHXH tự nguyện diễn ra bình thường, đạt được mục tiêu mong
muốn của nó. Nguyên tắc của BHXH tự nguyện là những định hướng, những
16
quy định và những phương thức hoạt động của cả hệ thống BHXH nhằm đạt
được những mục tiêu đề ra. Theo nghĩa đó, BHXH tự nguyện phải được xây
dựng trên nền tảng các nguyên tắc sau:
1.2.3.1. Nguyên tắc tự nguyện
BHXH tự nguyện được xây dựng trên cơ sở tự nguyện của người lao
động với tư cách là người tham gia BHXH cũng là người hưởng BHXH.
Trước hết chúng ta cần làm rõ chủ thể tham gia BHXH xét về mặt quan hệ
sản xuất và quan hệ lao động. Đối tượng này vừa là chủ tư liệu sản xuất (chủ
yếu là ruộng đất, công cụ lao động thủ công, nhà xưởng gắn liền với nơi ở,
vốn tự có là chính và một phần quan hệ tín dụng…), vừa là chủ sức lao động
(là người vừa tham gia quản lý, vừa tham gia lao động). Họ không tham gia
trực tiếp vào thị trường sức lao động (nếu họ không di chuyển nghề), nhưng
sản phẩm hàng hóa làm ra lại tham gia vào thị trường và chấp nhận cạnh tranh
quyết liệt. Họ tự hạch toán kết quả sản xuất kinh doanh, đồng thời tự quyết
định phân phối, quyết định đầu tư và chi tiêu ngân sách trong thu chi gia đình.
Bởi vậy, quan hệ của họ với BHXH là quan hệ "lỏng" hoặc quan hệ "mềm",
không mang tính bắt buộc như quan hệ lao động trong Bộ luật Lao động điều
chỉnh. Bởi vậy họ tham gia BHXH mang tính "tự nguyện", trên cơ sở suy
nghĩ về "tính lợi ích" khi tham gia BHXH. Do đó, mọi chính sách BHXH có
tính áp đặt, cưỡng chế và bất lợi (cả trước mắt và lâu dài) đều dẫn đến khả

trò của mình. Cùng với sự tăng trưởng, sự phát triển của kinh tế - xã hội, cũng
có những kết quả bất lợi không mong muốn. Những kết quả bất lợi này trực
tiếp hoặc gián tiếp sẽ dẫn đến những rủi ro cho người lao động. Khi xảy ra
tình trạng như vậy, nếu không có BHXH thì Nhà nước vẫn phải chi Ngân
sách để giúp đỡ người lao động dưới một dạng khác. Sự giúp đỡ đó chẳng
những làm cho đời sống người lao động ổn định mà còn làm cho sản xuất ổn
định, kinh tế - xã hội của đất nước phát triển. Vì vậy, khi xã hội loài người
18
xuất hiện BHXH, một dạng bảo hiểm đời sống tiến bộ hơn đối với người lao
động so với các dạng giúp đỡ truyền thống thì Nhà nước càng có điều kiện và
càng có trách nhiệm tổ chức và tham gia hoạt động đó. Trong điều kiện nước
ta hiện nay, chắc chắn quỹ BHXH tự nguyện không nằm trong NSNN, nhưng
vẫn cần phải có sự bảo trợ của Nhà nước về nguồn tài chính, để bảo đảm cho
quỹ BHXH không bị mất giá do trượt giá, hoặc do biến động về chính trị - xã
hội, thiên tai, chiến tranh… Tuy nhiên, trong quá trình đổi mới quản lý về
BHXH nói chung, cần phải chia tách ưu đãi xã hội và BHXH. Do vậy đối với
nhóm người lao động yếu thế, cần có những chính sách ưu đãi riêng để giúp
họ vượt qua khó khăn.
Bên cạnh đó, cũng cần phải nhìn nhận trách nhiệm của Nhà nước thông
qua cơ quan BHXH - cơ quan nhà nước quản lý quỹ BHXH. Trong quá trình
quản lý quỹ BHXH từ sự đóng góp của người lao động, cơ quan BHXH phải
thực hiện các biện pháp đầu tư tăng trưởng quỹ nhằm bảo toàn quỹ, đảm bảo tài
chính để chi trả các chế độ BHXH. Trách nhiệm này rất quan trọng, bởi suy
đến cùng chỉ có những đóng góp của người lao động khi gặp rủi ro sẽ không
đảm bảo chi trả cho bản thân họ. Do đó cơ quan BHXH phải có trách nhiệm
thực hiện các biện pháp đầu tư để bù đắp thiếu hụt đó. Tuy nhiên, tài chính để
chi trả các chế độ BHXH chủ yếu phải từ đóng góp của người tham gia BHXH.
Đối với người lao động, khi gặp phải những rủi ro không mong muốn
và không hoàn toàn hay trực tiếp do lỗi của người khác thì trước hết đó là rủi
ro của bản thân. Vì thế nếu muốn được BHXH tức là muốn nhiều người khác

dành phần lớn chi cho các nhu cầu sinh sống hàng ngày của bản thân và gia
đình, phần còn lại mới có thể xem xét để đóng phí BHXH. Giả sử thu nhập
của người lao động giữ nguyên, nếu đóng phí BHXH thấp thì lợi ích trước
mắt của người lao động sẽ tăng lên, nhưng khi họ có nhu cầu được BHXH thì
đương nhiên chỉ nhận được trợ cấp thấp. Nếu muốn được hưởng trợ cấp
20
BHXH cao, lẽ đương nhiên sẽ phải đóng phí cao hơn, phần chi cho đời sống
hàng ngày lại phải giảm đi. Nếu người tham gia BHXH đóng phí BHXH thấp
mà hưởng trợ cấp BHXH cao, sẽ ảnh hưởng đến mức độ an toàn của quỹ
BHXH. Tính chất lâu dài của chính sách BHXH sẽ ít có khả năng thực thi,
còn nếu buộc Nhà nước phải bù đắp toàn bộ chênh lệch đó, thì ảnh hưởng đến
Ngân sách Nhà nước. Đặc biệt là ở nước ta hiện nay đang trong tình trạng bội
chi Ngân sách. Nếu Nhà nước không có trách nhiệm đối với quỹ BHXH tự
nguyện thì ảnh hưởng đến quyền lợi của người tham gia BHXH tự nguyện,
bởi lẽ tiền lương hưu và trợ cấp BHXH thực tế sẽ thấp hơn danh nghĩa do đó
tính hấp dẫn của chính sách cũng như khả năng thực thi của chính sách
BHXH tự nguyện về lâu dài là không thể thực hiện được.
Thực tiễn BHXH thủ công nghiệp trong giai đoạn 1983 đến 1989 là
minh chứng cụ thể cho vấn đề này. Vì vậy trong nghiên cứu xây dựng các
thiết chế hoặc trong điều hành BHXH cụ thể cần phải tìm ra giải pháp để kết
hợp hài hòa lợi ích lâu dài của người lao động, cũng như đảm bảo kết hợp hài
hòa giữa lợi ích của người tham gia BHXH và lợi ích của Nhà nước.
Để có thể chi trả trợ cấp BHXH cho người lao động thì phải có quỹ tài
chính BHXH độc lập và tập trung. Nguồn cơ bản để hình thành quỹ này là
đóng góp của người lao động và Nhà nước, muốn tăng quỹ thì phải tăng
nguồn thu cơ bản, nhưng nguồn thu cơ bản này lại có những giới hạn không
cho phép vượt qua. Vì vậy phải tích cực đi tìm kiếm các nguồn thu khác để bổ
sung, như đầu tư tiền nhàn rỗi của quỹ BHXH vào hoạt động sinh lợi, hợp tác
quốc tế về BHXH để có thêm nguồn thu cho quỹ BHXH do tái bảo hiểm sinh
ra như nhiều nước đã làm.

mối quan hệ giữa đóng góp và hưởng thụ cũng cần được xem xét trong mối
quan hệ với giá cả của các sản phẩm thiết yếu trong cuộc sống, sinh hoạt hàng
ngày. Giải quyết được vấn đề này đảm bảo cho chính sách BHXH tự nguyện
mang tính thực thi cao.
22
1.2.3.7. Bảo hiểm xã hội phải được phát triển dần từng bước phù
hợp với các điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai đoạn
phát triển
BHXH của một nước gắn rất chặt với trạng thái kinh tế, với các điều
kiện kinh tế - xã hội, với cơ chế và trình độ quản lý, đặc biệt là với sự đồng
bộ, hoàn chỉnh của nền pháp chế nước đó. Trong khi nền kinh tế thị trường
theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đang hình thành, nhiều lĩnh vực kinh
tế - xã hội đang chuyển mạnh. Vì vậy việc xây dựng và phát triển BHXH tự
nguyện phải đảm bảo chắc chắn, tính toán thận trọng và phải có bước đi phù hợp.
Sự phát triển của BHXH nói chung biểu hiện trên nhiều mặt: cơ cấu
các bộ phận của hệ thống, số lượng và cơ cấu các chế độ trợ cấp, mức trợ cấp,
thời gian nghỉ việc để hưởng trợ cấp, mức đóng phí BHXH… Nếu không cân
nhắc thận trọng và lựa chọn bước đi hợp lý sẽ có thể phát sinh trục trặc không
thể kiểm soát được.
1.3. MÔ HÌNH BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN TRÊN THẾ GIỚI
Hình thức BHXH tự nguyện không phải quốc gia nào cũng tiến hành.
Tuy nhiên ở hầu hết các quốc gia có hình thức BHXH này, đều thực hiện theo
hai mô hình sau:
- Bảo hiểm xã hội tự nguyện theo một hệ thống độc lập tồn tại song
song với hệ thống BHXH bắt buộc. Mô hình này được thực hiện ở các nước
như CHLB Đức, Trung Quốc, Philippine, Mỹ, Australia… được áp dụng cho
các đối tượng là nông dân, lao động nông thôn, lao động trong các hộ gia
đình, các nông trại có quy mô nhỏ, những người tự tạo việc làm (nói chung
các đối tượng này không thuộc đối tượng của hệ thống BHXH bắt buộc) và
phần nhiều được tiến hành cho các chế độ BHXH dài hạn (hưu trí tuổi già, tàn

nhập của mình vào quỹ BHXH theo chế độ tự nguyện. Cũng có quốc gia quy
24
định mức thu nhập của những người tham gia BHXH bổ sung tự nguyện để
đảm bảo duy trì việc đóng góp như ở Cộng hòa dân chủ Đức trước đây quy
định chỉ những người có thu nhập trên 600 mác/tháng hay trên 7.200
mác/năm (thời điểm năm 1977) mới được quyền tham gia BHXH bổ sung tự
nguyện, mức đóng bằng 10% số thu nhập vượt quá mức thu nhập quy định
trên. Tuy nhiên, cũng có quốc gia không khống chế mức thu nhập này (chẳng
hạn như BHXH tự nguyện của Úc) [21, tr. 19]. Việc không quy định mức thu
nhập bình quân của người lao động để có quyền tham gia BHXH bổ sung tự
nguyện là dựa trên quan điểm cho rằng người lao động có thể hạn chế chi tiêu
hiện tại để tích lũy cho về già hoặc mặc dù thu nhập thấp hơn nhưng người
lao động vẫn có khả năng tham gia BHXH bổ sung tự nguyện do họ được sự
trợ giúp nào đó (chẳng hạn của gia đình, của người thân...). Chính việc không
khống chế mức thu nhập này càng khuyến khích nhiều người lao động có khả
năng tham gia vào BHXH bổ sung tự nguyện.
+ Do dựa trên nền tảng là BHXH bắt buộc nên độ tuổi quy định được
nhận trợ cấp hưu trí bổ sung tự nguyện cũng trùng với độ tuổi nhận trợ cấp
hưu trí theo quy định trong BHXH bắt buộc. Ở Đức, nam được nhận trợ cấp
bảo hiểm hưu trí tự nguyện khi tròn 65 tuổi và nữ khi tròn 60 tuổi. Chính vì
vậy, khi nghỉ hưu bên cạnh trợ cấp hưu trí theo BHXH bắt buộc người tham
gia BHXH bổ sung tự nguyện còn được nhận một khoản trợ cấp hưu trí bổ
sung tự nguyện [21, tr. 25].
+ Việc tham gia BHXH bổ sung tự nguyện là do người lao động hoàn
toàn tự nguyện đóng góp một phần thu nhập của mình. Tham gia vào BHXH
bổ sung tự nguyện mức đóng góp lại được chia cho các bên là người lao động
và người sử dụng lao động, song tỷ lệ đóng góp của các bên khác nhau cũng
khác nhau ở mỗi quốc gia, thậm chí không có tỷ lệ đóng cố định chung mà tùy
thuộc vào sự thỏa thuận khi tham gia BHXH tự nguyện của người lao động và
người sử dụng lao động. Ở cộng hòa dân chủ Đức trước đây mức đóng góp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status