Phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
*** NGUYỄN THỊ THÚY

PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC
Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ


Nam 58
2.2. Thực trạng hình thành các nhân tố kinh tế tri thức ở Việt Nam 60
2.2.1. Chất lƣợng nguồn nhân lực và hệ thống giáo dục đào tạo 60
2.2.2. Tiềm năng khoa học công nghệ và cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật 68
2.2.3. Năng lực điều hành và quản lý của Nhà nƣớc 70
2.3. Những thành tựu và hạn chế trong quá trình phát triển kinh tế tri thức ở Việt
Nam 71
2.3.1. Những thành tựu và nguyên nhân 71
2.3.2. Những hạn chế và nguyên nhân 74 2
2.3.3. Những vấn đề đặt ra đối với kinh tế tri thức ở Việt Nam 78
Chƣơng 3. NHỮNG PHƢƠNG HƢỚNG QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VÀ CÁC GIẢI PHÁP
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC Ở VIỆT NAM 81
3.1. Những phƣơng hƣớng cơ bản 81
3.1.1. Thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, từng bƣớc phát
triển kinh tế tri thức 81
3.1.2. Xây dựng tiềm lực tri thức và sử dụng lực lƣợng lao động tri thức 83
3.1.3. Một số quan điểm cơ bản về phát triển của kinh tế tri thức ở Việt Nam 85
3.2. Các giải pháp cơ bản để phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam 86
3.2.1. Xây dựng cơ chế chính sách và cải cách nền hành chính quốc gia phù hợp
với phát triển kinh tế tri thức 86
3.2.2. Phát triển các ngành công nghệ cao, đặc biệt là công nghệ thông tin 88
3.2.3. Đổi mới giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế tri thức 91
3.2.4. Xây dựng thị trƣờng lao động đáp ứng theo nhu cầu của xã hội 93
3.2.5. Sử dụng nguồn nhân lực phải đảm bảo tạo điều kiện để nguồn nhân lực phát
huy đƣợc tính linh hoạt và khả năng sáng tạo 95
3.2.6. Tăng cƣờng bảo vệ sở hữu trí tuệ 96
KẾT LUẬN 101

chuyển mình sang giai đoạn phát triển kinh tế tri thức, nếu chúng ta không có đƣợc
sự chuẩn bị tốt nhất cả về nhận thức lẫn hành động thì chắc chắn chúng ta không
theo kịp sự phát triển của nhân loại. Lúc đó thì việc hội nhập quốc tế sẽ không còn
ý nghĩa quan trọng, bởi vì khi đó chúng ta không thể tận dụng và học hỏi các kinh
nghiệm, công nghệ tiên tiến và ngƣợc lại các nƣớc khác cũng chẳng hợp tác đƣợc
gì từ chúng ta. Có chăng chúng ta chỉ là thị trƣờng tiêu thụ các công nghệ lạc hậu,
tiêu thụ các sản phẩm của các nƣớc khác.
Kinh tế tri thức đang ở trong giai đoạn bắt đầu, khái niệm về kinh tế tri thức
còn chƣa đƣợc thống nhất, sự nghiên cứu kinh tế tri thức cũng chƣa có nhiều, đặc
biệt ở Việt Nam. Nhƣng có thể khẳng định đó là một xu hƣớng phát triển tất yếu
của LLSX, của mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội của nhân loại. Xuất phát từ
những lý do đó, tác giả chọn đề tài “Phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam trong
giai đoạn hiện nay” nhằm góp phần hoàn thiện về lý luận và các giải pháp phát
triển kinh tế tri thức ở nƣớc ta trong quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ,
góp phần hiện thực hóa mục tiêu đi tắt, đón đầu mà Đảng đã đề ra.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài 4
Trong một vài năm qua, đã có một số tác phẩm trong và ngoài nƣớc nghiên
cứu về kinh tế tri thức. Cụ thể ở nƣớc ta có một số tác phẩm nhƣ:
- “Phát triển kinh tế tri thức: rút ngắn công nghiệp hóa, hiện đại hóa” xuất
bản năm 2001 của GS.VS. Đặng Hữu.
- Kinh tế tri thức xu thế mới của xã hội thế kỷ XXI của Ngô Quý Tùng,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001.
- “Kinh tế tri thức: Những khái niệm và vấn đề cơ bản” xuất bản năm 2002
của Đặng Mộng Lân.
- Kinh tế tri thức vấn đề và giải pháp: Kinh nghiệm của các nƣớc phát triển
và đang phát triển của Takaski Kiuchi, Tianzhongging, Cheonsikwoo Nxb. Thống
kê, Hà Nội. 2001.

xu hƣớng phát triển của kinh tế tri thức, các tác động về kinh tế, xã hội, thời cơ,
thách thức và những vấn đề đặt ra với Việt Nam trƣớc xu thế phát triển của kinh tế
tri thức. Đồng thời phân tích thực trạng nền kinh tế và các yếu tố tiền đề của kinh
tế tri thức để từ đó đề xuất các hƣớng chiến lƣợc, các giải pháp để phát triển nền
kinh tế nƣớc ta theo kịp sự phát triển của thế giới với trình độ phát triển cao, trình
độ kinh tế tri thức.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề về lý luận và thực tiễn trong việc
phát triển kinh tế tri thức của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
* Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu về lý luận kinh tế tri thức và việc ứng
dụng phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, không gian
nghiên cứu là tầm vĩ mô của nền kinh tế Việt Nam, về thời gian tập trung vào thời
kỳ 1995 đến nay.
5. Nguồn tài liệu và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
* Nguồn tài liệu: Tác phẩm kinh điển, hệ thống văn kiện của Đảng, các bài
viết của Đảng và Nhà nƣớc, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ và các công trình
nghiên cứu khoa học.
* Phương pháp nghiên cứu: Về cơ bản tác giả sử dụng phƣơng pháp duy
vật biện chứng, phƣơng pháp trừu tƣợng hóa khoa học và phƣơng pháp lôgíc kết 6
hợp với lịch sử để nghiên cứu và khảo sát sự hình thành và phát triển kinh tế tri
thức ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp: tổng hợp, thống kê, phân tích, để
làm rõ những luận điểm đƣợc đề cập trong luận văn.
6. Đóng góp và ý nghĩa của luận văn
- Hệ thống hóa lý luận về kinh tế tri thức.
- Phân tích, đánh giá những yếu tố ban đầu về kinh tế tri thức.
- Trên cơ sở đó, luận văn đề xuất những quan điểm và giải pháp nhằm xây

thuật ngữ này. Theo OECD, kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra,
phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh
tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống.[14 tr21]
Mặc dù thuật ngữ “Kinh tế tri thức” hoặc “Nền kinh tế tri thức” đã đƣợc sử
dụng một cách phổ biến nhƣng nội hàm của khái niệm này về cơ bản vẫn còn
nhiều cách hiểu khác nhau. Tổng hợp các quan niệm về kinh tế tri thức, có hai
cách hiểu chính do có hai cách tiếp cận khác nhau.
Cách hiểu thứ nhất: Coi kinh tế tri thức là một “Nền kinh tế”, thuộc xã hội
“Hậu công nghiệp”. Đây là cách hiểu xuất phát từ góc độ phân tích lịch sử nhân
loại tiến triển theo lý thuyết các nền văn minh mà A. Toffler - một nhà xã hội học
ngƣời Mỹ - là đại biểu nổi tiếng. Lý thuyết về lịch sử các nền văn minh có ảnh
hƣởng rất lớn tới các học giả phƣơng Tây khi phân tích về nền kinh tế tri thức.
Theo lý thuyết này, lịch sử nhân loại tiến triển qua ba giai đoạn (ba nền văn minh): 9
văn minh nông nghiệp, văn minh công nghiệp và văn minh hậu công nghiệp. Giai
đoạn văn minh hậu công nghiệp chính là giai đoạn phát triển của nền kinh tế tri
thức.
Cách hiểu thứ hai: Không coi kinh tế tri thức là một “Nền kinh tế tri thức”.
Đây là cách hiểu phổ biến của những nhà nghiên cứu hiện nay ở Việt Nam và
Trung Quốc. Cách hiểu này có điểm xuất phát là phƣơng pháp luận mácxít về hình
thái kinh tế - xã hội. Theo lý luận về hình thái kinh tế - xã hội của C.Mác thì lịch
sử nhân loại phát triển qua các giai đoạn lịch sử: xã hội nguyên thủy, xã hội chiếm
hữu nô lệ, xã hội phong kiến, xã hội tƣ bản và xã hội cộng sản chủ nghĩa. Mỗi xã
hội đó là một cơ cấu kinh tế - xã hội thống nhất, vận động theo các quy luật nội tại
khách quan, mà trƣớc hết và cơ bản nhất là hệ thống các quy luật kinh tế. Các quy
luật này phụ thuộc về bản chất của hệ thống cơ cấu kinh tế trong mỗi giai đoạn lịch
sử, là hệ thống cơ cấu của mỗi phƣơng thức sản xuất đặc thù. Tƣơng ứng với các
giai đoạn phát triển kinh tế của xã hội C.Mác đã đƣa ra mô hình các hình thái kinh

sản xuất chủ yếu là tài nguyên, lao động, vốn, thì ngƣợc lại, trong giai đoạn kinh tế
tri thức, nhân tố tri thức đƣợc xếp ở hàng đầu của những nhân tố tăng trƣởng kinh
tế. Tri thức đƣợc hiểu là những hiểu biết có hệ thống về một khách thể (đối tƣợng)
nhất định. Nói một cách cụ thể, tri thức là sự hiểu biết về một cụm thông tin và
biết sử dụng thông tin đó một cách tốt nhất, trong đó quan trọng nhất là tri thức về
khoa học - kỹ thuật, quản lý và thực hành. Tri thức gồm bốn loại: biết nó là gì
(hiểu biết về sự vật), biết vì sao (hiểu biết về quy luật và nguyên lý của sự vật),
biết làm thế nào (có năng lực hoặc kỹ năng làm việc gì), biết ở đâu (ai và ở đâu có
thông tin đó, tri thức này rất quan trọng trong xã hội tin học).
Hiện nay ở các nƣớc công nghiệp phát triển đang diễn ra sự chuyển dịch
nhanh cơ cấu kinh tế, các ngành dựa vào tri thức và ứng dụng công nghệ cao đang
phát triển nhanh. Sự chuyển dịch này nhằm chuyển nền kinh tế từ giai đoạn kinh tế
công nghiệp sang kinh tế tri thức.
Thứ hai, nhân tố sáng tạo trở thành động lực trực tiếp của sự phát triển
Điểm nhấn quan trọng nhất là ở sự khác biệt chất lƣợng quyết định của nền
kinh tế tri thức so với nền kinh tế tri thức trƣớc đó: thay vì các nguồn lực truyền 11
thống (tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động rẻ và vốn) - đã từng đóng vai trò là
những lợi thế phát triển quyết định trƣớc đây, trong nền kinh tế tri thức, lần đầu
tiên trong lịch sử loài ngƣời, tri thức, trí tuệ con ngƣời và kỹ năng lao động trở
thành lợi thế phát triển lớn nhất, quyết định nhất). Khoa học công nghệ đƣợc nhất
trí thừa nhận là lực lƣợng sản xuất thứ nhất theo nghĩa là yếu tố quan trọng và
quyết định tiến trình phát triển kinh tế. Điểm nhấn này chứa đựng những hàm ý rất
có ý nghĩa thực tiễn.
Ngày nay, thay vì các yếu tố vật chất - kỹ thuật truyền thống (máy móc cơ
khí, đƣờng sắt, ruộng đất, hầm mỏ) con ngƣời trí tuệ và có kỹ năng cao đang trở
thành lực lƣợng sản xuất quan trọng nhất, quyết định thành công của nỗ lực phát
triển. Tƣơng ứng với sự thay đổi này là sự thay đổi trong trật tự ƣu tiên của các nỗ

Thứ ba, các ngành công nghệ cao, đặc biệt là công nghệ thông tin được áp
dụng trong mọi lĩnh vực kinh tế và đời sống xã hội.
Công nghệ thông tin dựa vào hai lĩnh vực chủ lực là công nghệ tin học và
công nghệ viễn thông, tạo ra mạng Internet. Hầu hết các quốc gia đều xếp các lĩnh
vực sau đây vào danh mục công nghệ thông tin và viễn thông: lĩnh vực “tin học”
bao gồm tất cả các ngành sản xuất thiết bị và các dịch vụ đi kèm, chủ yếu là dịch
vụ vận hành, khai thác, bảo trì; lĩnh vực “điện tử” cùng với hoạt động sản xuất linh
kiện điện tử và một số loại máy móc; lĩnh vực “viễn thông” bao gồm các hoạt
động dịch vụ và sản xuất thiết bị.
Quá trình tin học hóa các khâu sản xuất, dịch vụ, và quản lý là cốt lõi của
quá trình chuyển sang kinh tế tri thức. Ngƣời ta coi tin học là ngành hạt nhân của
các ngành mới nổi lên và gọi là ngành sản xuất thứ tƣ. Chức năng của tin học là
chuyển hóa tri thức khoa học và kỹ thuật thành sức sản xuất. Tỷ trọng của nó tăng
lên không ngừng và sẽ phát triển thành ngành chủ đạo. Có thể nói tin học quyết
định sự thành bại, hƣng vong của tất cả mọi hoạt động kinh tế. Xã hội tin học hóa
và tin học hiện đại hóa là dấu hiệu của một quốc gia phát triển. Công nghệ thông
tin nói chung đem lại năng suất và chất lƣợng lao động cao trong công tác quản lý
kinh tế - xã hội. Mọi ngƣời đều có nhu cầu thông tin và đƣợc truy cập vào các kho
thông tin cần thiết cho mình. Mọi lĩnh vực hoạt động trong xã hội đều có sự tác
động của công nghệ thông tin để nâng cao năng suất, chất lƣợng và hiệu quả. Cũng
chính vì vậy nhiều ngƣời gọi giai đoạn phát triển kinh tế tri thức là nền kinh tế số
hay kinh tế mạng. Thƣơng mại điện tử, thị trƣờng ảo, tổ chức ảo, xí nghiệp ảo, 13
làm việc từ xa đƣợc thiết lập làm cho các hoạt động sản xuất kinh doanh rất
nhanh nhạy, linh hoạt, khoảng cách địa lý giảm dần, ý nghĩa của vị trí địa lý giảm
đi. Nhiều quốc gia trên thế giới (không chỉ những nƣớc công nghiệp phát triển mà
cả một số nƣớc đang phát triển), đã coi công nghệ thông tin là ngành kinh tế mũi
nhọn thúc đẩy sự phát triển. Công nghệ thông tin đã và sẽ mang lại những biến đổi

hƣớng và quy tắc mới. Các đô thị khổng lồ không còn là sự lựa chọn duy nhất và
dƣờng nhƣ ngày càng không còn là sự lựa chọn chủ yếu. Khái niệm văn phòng,
chỗ làm việc tập trung hàng chục, hàng trăm, thậm chí hàng nghìn ngƣời kiểu công
xƣởng đã thay đổi mạnh mẽ khi công việc chủ yếu của xã hội là sản xuất tri thức,
đƣợc tiến hành trong môi trƣờng tự động hóa cao trên cơ sở mạng thông tin, với
các công cụ chính là máy vi tính nối mạng.
Sự thay đổi cơ cấu quyền lực trong nền kinh tế. Hình thái phát triển dựa trên
quan hệ lệ thuộc cai trị của các nền kinh tế trƣớc đây đƣợc thay thế bằng quan hệ
tham dự - bình đẳng về chức năng trong cơ cấu của các thành tố. Lực lƣợng nắm
giữ tri thức sẽ là động lực phát triển của xã hội. Sự không thuần nhất cấu trúc của
nền kinh tế tri thức trên phạm vi toàn cầu. Trong mạng lƣới kinh tế toàn cầu, vẫn
tồn tại những mảng, vùng cấu trúc (khu vực, quốc gia, ngành) có trình độ phát
triển thấp xa với các mảng, vùng khác. Do đó sự bình đẳng về nguyên tắc của các
bộ phận cấu trúc mạng không có nghĩa là sự bình đẳng trên thực tế giữa chúng tại
từng thời điểm xác định và trong những quan hệ xác định. Điều này có nghĩa khả
năng vƣợt bỏ hay tụt hậu của mỗi quốc gia (hay của bất cứ yếu tố cấu trúc nào) tùy
thuộc vào vị trí, vị thế của nó trong mạng kinh tế toàn cầu, tức là tùy thuộc vào khả
năng xác lập quan hệ với các nhân vật mới, công cụ mới để có đƣợc các điều kiện
phát triển (các lợi thế phát triển do thời đại tạo ra). Có thể diễn đạt điều này nhƣ là
năng lực “hòa” mạng của chủ thể đó. Điều đó có nghĩa rằng muốn phát triển thì
phải gia nhập mạng toàn cầu, phải trở thành thành viên của mạng. Gia nhập mạng
hàm chứa khả năng phải chịu “rủi ro” toàn cầu. Sự rủi ro này có nguồn gốc từ tính
không thuần nhất của cấu trúc mạng (vị thế không tƣơng đƣơng của các yếu tố)
nguyên nhân gây ra sự bất bình đẳng thực tế giữa các yếu tố khi tham gia mạng.
Trình độ phát triển càng cách xa trình độ chung của mạng thì độ rủi ro càng lớn.
Song kinh nghiệm thực tế cho thấy rằng trong khi những rủi ro tham gia mạng gây
ra là mang tính tiềm thế thì rủi ro không tham gia mạng là chắc chắn và lớn hơn
bất kỳ rủi ro nào khi tham gia mạng. 16
đƣợc luân chuyển trên phạm vi toàn cầu. Thị trƣờng và sản phẩm mang tính toàn
cầu.
Thứ bảy, đóng góp của tri thức (thông qua các ngành sản xuất, dịch vụ ứng
dụng công nghệ cao và sử dụng lao động tri thức) chiếm trên 2/3 giá trị sản phẩm
và tổng sản phẩm quốc nội (GDP).
Giá trị (GT) của mỗi sản phẩm (hàng hóa hay dịch vụ) đƣợc đo ví dụ bằng
tiền, bao gồm giá trị của hai thành tố:
Giá trị của vật liệu tạo ra sản phẩm (GTvl).
Giá trị của công sức con ngƣời tạo ra sản phẩm (GTcs) phần này lại gồm hai
phần: Giá trị của công lao động chân tay (GTct).
Giá trị của công lao động trí tuệ (GTtt).
Nếu GTtt chiếm phần lớn của giá trị, ví dụ GTtt > 50% GT ta nói sản phẩm
có hàm lƣợng trí tuệ cao.
Hay Tổng GT = tổng GTvl + Tổng GTct + Tổng GTtt
Khi tổng GTtt chiếm phần lớn của Tổng GT ví dụ quá 50% ta nói nền kinh
tế đó là nền kinh tế tri thức.
Hơn nữa hiện nay các ngành dựa vào tri thức và ứng dụng công nghệ cao
đang phát triển nhanh. Do đó nguồn lực cũng có sự thay đổi rõ rệt về chất. Trƣớc
chiến tranh thế giới thứ hai, ở các nƣớc phát triển, nông dân chiếm đa số. Ngày
nay ở đó nông dân chỉ còn dƣới 1/5 (về dân số). Nông dân sản xuất chỉ chiếm 2%
lực lƣợng lao động và cũng không còn là nông dân đúng nghĩa nữa. Thực ra họ là
những nhà kinh doanh nông nghiệp. Số lƣợng công nhân nói chung tăng lên,
nhƣng công nhân áo xanh giảm đi, công nhân áo trắng tăng lên đặc biệt là sự xuất
hiện công nhân tri thức. Tính chung ở những nƣớc phát triển công nhân áo xanh
trong công nghiệp chỉ còn 20%. Hiện nay trong nhiều ngành không còn phân biệt
giữa công nhân với nhà khoa học nữa. Ví dụ trong ngành sản xuất phần mềm
những ngƣời viết chƣơng trình máy tính là công nhân tri thức, trong các ngành

lúc đầu ở Mỹ vào đầu những năm 1970 và rồi ở nhiều nƣớc công nghiệp phát triển
và ngày nay cả những nƣớc công nghiệp mới. Kinh tế tri thức theo một số dự báo,
đối với nƣớc Mỹ có thể sẽ kết thúc vào khoảng năm 2020 để nhƣờng chỗ cho một
nền kinh tế mới khác - kinh tế sinh học. 18
Bảng 1.1.1. Sự khác biệt giữa kinh tế tri thức
so với các nền kinh tế khác trong lịch sử
Yếu tố
Kinh tế
nông nghiệp
Kinh tế
công nghiệp
Kinh tế tri thức
Đầu vào của sản
xuất
Lao động, đất
đai, vốn
Lao động, đất
đai, vốn, công
nghệ, thiết bị
Lao động, đất đai,
vốn, công nghệ, thiết
bị, tri thức, thông tin.
Cách thức sản xuất
Trồng trọt,
chăn nuôi
Chế tạo, gia
công

Cơ cấu xã hội chính
Nông dân
Công nhân
Công nhân tri thức
Vai trò của khoa
học và công nghệ
Không đáng
kể
Rất quan trọng
Có ý nghĩa quyết định
Tầm quan trọng của
giáo dục
ít quan trọng
Rất quan trọng
Có ý nghĩa quyết định
Trình độ văn hóa
trung bình
Tỷ lệ mù chữ
cao
Trung học
Sau trung học
Vai trò của công
nghệ thông tin và
truyền thông
Không lớn
Lớn
Quyết định
Ý tƣởng về tầm quan trọng của tri thức trong kinh tế không phải là mới. Từ
thế kỷ thứ XVIII, Adam Smith có nói đến những thế hệ chuyên gia mới đã góp
phần quan trọng vào việc sản sinh ra tri thức có ích cho kinh tế. Và thế kỷ thứ

- xã hội hậu công nghiệp.
Đặc biệt là báo cáo của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) năm
1996 đã vạch ra khung các vấn đề của kinh tế tri thức có thể sử dụng làm cơ sở ban
đầu cho việc tiếp tục nghiên cứu về sự phát triển của nền kinh tế này. Báo cáo viết: 20
“Từ “kinh tế tri thức” đã xuất hiện từ sự nhận thức về vai trò của tri thức và
công nghệ trong tăng trƣởng kinh tế. Đành rằng tri thức luôn luôn là một yếu tố
trung tâm của phát triển kinh tế, song vấn đề là sự phụ thuộc của kinh tế một cách
chặt chẽ vào sản xuất, truyền bá và sử dụng tri thức ngày nay đã đƣợc đặt lên trên
hết. Điều này đã đƣa một số nhà kinh tế đến chỗ cho rằng hàm sản xuất nhƣ đã
đƣợc sử dụng trong lý thuyết tân cổ điển cần phải đƣợc sửa đổi và nhân tố “Tri
thức” cần phải đƣợc đƣa vào nó một cách trực tiếp hơn - một sự phát biểu lại về
kinh tế trong “lý thuyết mới về tăng trƣởng”. Theo quan niệm cổ điển, sản xuất
phụ thuộc vào lƣợng các nhân tố sản xuất đƣợc sử dụng, đặc biệt là lao động, vốn,
vật tƣ và năng lƣợng. Công nghệ hay tri thức đƣợc xem là các yếu tố bên ngoài,
không phải là một phần liên kết của các hàm sản xuất. Theo quan niệm mới về
tăng trƣởng kinh tế, hàm này phụ thuộc trực tiếp hơn vào cho đầu tƣ tri thức, nhân
tố này có thể làm tăng khả năng sản xuất của các đầu vào cổ điển. Tri thức cũng
cung cấp bí quyết là cái giúp ngƣời ta kết hợp các đầu vào đó để tạo ra các sản
phẩm đổi mới và cải tiến các quy trình”.
* Những năm gần đây trong nhiều quá trình nghiên cứu, nhiều hội nghị hội
thảo quốc tế và trong nhiều văn bản chiến lƣợc phát triển của các quốc gia, ngƣời
ta đã dùng nhiều tên gọi khác nhau cho giai đoạn phát triển mới của nền kinh tế
nhƣ:
“Kinh tế thông tin”, “Kinh tế mạng”, “kinh tế số”, (nói lên vai trò quyết định
của công nghệ thông tin trong phát triển kinh tế).
“Kinh tế học hỏi” (nói lên động lực chủ yếu của nền kinh tế là sự học tập
suốt đời của mọi ngƣời).

nghiệp nhƣng nông nghiệp chiếm tỷ lệ nhỏ bé. Trong nền kinh tế tri thức, chiếm đa
số là các ngành kinh tế dựa vào tri thức, dựa vào các thành tựu mới nhất của khoa
học và công nghệ.
Nhƣ vậy, có thể nói kinh tế tri thức là một giai đoạn phát triển mới của các
nền kinh tế sau kinh tế công nghiệp với vai trò của sản xuất, phân phối và sử dụng
tri thức trong tăng trƣởng kinh tế ngày càng trở nên quan trọng. Tri thức đã trở
thành nhân tố hàng đầu của sản xuất, vƣợt lên trên các nhân tố sản xuất cổ truyền
vốn và lao động. Đây chính là vấn đề cốt lõi của kinh tế tri thức.
Khác với loại hình kinh tế trƣớc đây, loại hình mà lấy công nghiệp truyền
thống làm nền tảng, lấy nguồn tài nguyên thiên nhiên thiếu thốn và ít ỏi làm chỗ
dựa để phát triển sản xuất, kinh tế tri thức lấy công nghệ cao làm lực lƣợng sản
xuất, lấy trí lực - nguồn tài nguyên vô tận làm chỗ dựa chủ yếu, lấy công nghệ
thông tin làm nền tảng để phát triển. 22
Quá trình phát triển của nhân loại gắn liền với sự phát triển của LLSX. Xét
từ thủa sơ khai đến nay, quá trình phát triển của LLSX có thể đƣợc chia ra làm ba
giai đoạn tƣơng ứng với ba mức trình độ phát triển của nền kinh tế thế giới, là giai
đoạn kinh tế sức lao động, giai đoạn kinh tế tài nguyên và giai đoạn kinh tế tri
thức.
Giai đoạn kinh tế sức lao động
Kinh tế sức lao động bắt đầu từ giai đoạn đầu của văn minh nhân loại và kéo
dài đến tận thế kỷ XIX (đến nay vẫn có một số nƣớc trên thế giới có trình độ sản
xuất thuộc loại này). Trong giai đoạn này, con ngƣời sử dụng các công cụ lao động
thô sơ, lạc hậu, nên năng suất lao động thấp phát triển kinh tế chủ yếu dựa vào
nông nghiệp nên giai đoạn này còn đƣợc gọi là giai đoạn kinh tế nông nghiệp. Cho
dù trải qua một thời gian dài phát triển, nhƣng cho đến trƣớc cách mạng công
nghiệp thế kỷ XIX thì trình độ sản xuất vẫn không thay đổi. Trong giai đoạn kinh
tế sức lao động phân phối sản xuất tiến hành chủ yếu dựa vào sự chiếm hữu tài

1915), một nhà kinh tế Hoa Kỳ, đã áp dụng tri thức vào việc tổ chức lao động, hợp
lý hóa quá trình sản xuất và tối đa hóa hiệu quả của các phƣơng pháp sản xuất.
Việc áp dụng tri thức và tổ chức lao động đã làm tăng nhanh chóng năng
suất lao động. Kể từ khi vận dụng phƣơng pháp Taylor vào tổ chức lao động đến
nay đã làm tăng năng suất lao động ở các nƣớc đang phát triển tăng đến 50 lần.
Tuy nhiên phƣơng pháp này chủ yếu chỉ đƣợc áp dụng có hiệu quả cho lao động
chân tay. Cùng với cách mạng năng suất, số ngƣời lao động chân tay đã giảm đáng
kể và vấn đề nổi lên là năng suất lao động của những công nhân không phải là lao
động chân tay điều đó yêu cầu vận dụng tri thức vào sản xuất.
- Cách mạng quản lý: Giai đoạn này bắt đầu từ năm 1945 và trải qua gần 50
năm để có thể chiếm vị trí thống lĩnh toàn cầu. Ở hai giai đoạn trƣớc, tri thức đƣợc
ứng dụng vào việc sản xuất các công cụ lao động, các phƣơng pháp sản xuất, vào
sản phẩm và vào tổ chức lao động của con ngƣời. Ở giai đoạn này, vận dụng tri
thức là để biết làm thế nào sử dụng vốn tri thức hiện có để tạo ra kết quả sản xuất.
Hay nói cách khác, đó chính là vận dụng tri thức trong quản lý.
Giai đoạn kinh tế tri thức hay còn gọi là kinh tế hậu công nghiệp là giai
đoạn phát triển kinh tế chủ yếu dựa trên sự chiếm hữu và phân phối tài nguyên trí
lực, khoa học kỹ thuật sẽ trở thành một thành phần cơ bản của LLSX. Hiện nay
các nguồn nguyên liệu trong thiên nhiên đang dần cạn kiệt. Thực tế đó đòi hỏi giới 24
khoa học kỹ thuật phải tìm cách giải quyết theo các hƣớng nhƣ tìm kiếm nguồn
năng lƣợng mới, phát minh ra các chất liệu mới, phát triển các công nghệ mới Vì
thế, trong giai đoạn này, quốc gia nào nắm đƣợc khoa học công nghệ thì quốc gia
đó càng có điều kiện và khả năng phát triển kinh tế nói chung và kinh tế tri thức
nói riêng.
* Quá độ từ kinh tế tài nguyên sang kinh tế tri thức
Từ những năm 80 thế kỷ XX trở lại đây, những tiến bộ có tính chất bùng nổ
của LLSX do tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, đặc biệt ở các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status