ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ
ĐOÀN THỊ KIM MAI
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN Ở VIỆT NAM TRONG GIAI
ĐOẠN HIỆN NAY LUẬN VĂN TH.S KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ
Ngưới hướng dẫn:.TS Tạ Đức Khánh
Hà Nội 2006
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công nghệ thông tin ngày càng đóng vai trò quan trọng trong phát triển
kinh tế, xã hội, văn hoá, chính trị và góp phần hình thành con người mới.
Hiến chương Okinawa (tháng 7 năm 2000) khẳng định: "Công nghệ thông tin
và truyền thông là một trong các động lực chính tạo nên bộ mặt thế kỷ 21. Nó
tác động sâu sắc đến cách thức chúng ta đang sống, học tập, và làm việc; đến
cách thức Nhà nước giao tiếp với dân chúng. Công nghệ thông tin đã và đang
nhanh chóng trở thành một bộ phận sống còn, quyết định sự phát triển của
nền kinh tế thế giới. Nó cũng tạo ra những thách thức kinh tế, xã hội trước các
cá nhân, doanh nghiệp, cộng đồng ở mọi nơi trên trái đất nhằm đạt hiệu quả
và tính sáng tạo cao hơn. Tất cả chúng ta cần nắm bắt cơ hội này "
Việt Nam cũng đã nhận thức được vai trò quan trọng của Công nghệ
thông tin coi : " Công nghệ thông tin là một trong các động lực quan trọng
nhất của sự phát triển, cùng với một số ngành công nghệ cao khác đang làm
biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của thế giới hiện đại" (Chỉ
thị số 58-CT/TW ngày 17-10-2000 của Bộ Chính trị)
Trong vòng vài năm gần đây, nhiều chính sách, biện pháp đã được ban
hành nhằm hướng tới mục tiêu : " Công nghiệp công nghệ thông tin trở thành
ngành kinh tế mũi nhọn, có tốc độ và chất lượng cao nhất so với các khu vực
khác, có tỷ lệ đóng góp cho tăng trưởng GDP của cả nước ngày càng tăng"(
đáng kể nào trong việc triển khai hoạt động này (Theo báo cáo của Bộ
Thương Mại năm 2005)
Ngoài ra, trong thời gian qua cũng có nhiều bài báo, bài viết đăng trên
tạp chí như tạp chí Bưu chính Viễn thông, tạp chí thông tin Khoa học kỹ thuật
và Kinh tế Bưu Điện cũng như các buổi hội thảo khoa học bàn về vấn đề này.
Vì vậy, sau những đánh giá về hiện trạng CNTT Việt Nam, cũng như
sau khi đã khai thác, kế thừa có chọn lọc những đóng góp của các nghiên cứu
lý luận trước đó, luận văn sẽ cố gắng đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm
phát triển và ứng dụng CNTT ở Việt Nam.
3. Đối tƣợng, phạm vi và mục đích nghiên cứu.
Dưới góc độ kinh tế, đề tài của em nghiên cứu CNTT Việt Nam như là
một ngành quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội Việt Nam đặc biệt là
trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Ở nước ta, CNTT còn là một ngành rất mới mẻ, phạm vi tác động lớn,
tốc độ thay đổi công nghệ rất nhanh, nên luận văn không đề cập đến vấn đề
kỹ thuật mà chỉ xem xét tác động của nó dưới góc độ kinh tế, xã hội, để qua
đó cố gắng đưa ra một cái nhìn tổng quan và đầy đủ hơn về CNTT Việt Nam.
Luận văn tập trung nghiên cứu tiến trình phát triển và ứng dụng CNTT
trong vòng 10 năm qua nhằm đưa ra một số giải pháp thích hợp để thực hiện 3
các mục tiêu phát triển của Ngành nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói
chung.
Mục tiêu chính của đề tài là đánh giá thực trạng công nghệ thông tin
trên cơ sở các số liệu thống kê, phân tích số liệu nhằm đánh giá sự phát triển
của công nghệ thông tin trên từng lĩnh vực. Qua việc đánh giá và phân tích
này, chúng ta có cái nhìn tổng quan về công nghệ thông tin, khả năng năm
bắt, vận dụng công nghệ hiện tại, các cơ hội, thách thức đặt ra đối với các
doanh nghiệp.
Chương 3. Cơ hội ,thách thức và một số giải pháp phát triển CNTT tại Việt
nam.
Kết luận.
CHƢƠNG 1.
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ
TRONG SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI .
1.1 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của Công nghệ thông tin
1.1.1.1 Một số khái niệm về CNTT.
Công nghệ thông tin (CNTT) là thuật ngữ dùng để chỉ các ngành khoa
học và công nghệ liên quan đến thông tin và các quá trình xử lý thông tin
gồm tri thức, sự kiện, số liệu âm thanh, hình ảnh. Vì vậy, CNTT là hệ thống
các phương pháp khoa học, công nghệ, phương tiện, công cụ, bao gồm chủ
yếu là các máy tính, mạng truyền thông và hệ thống các kho dữ liệu nhằm tổ
chức, lưu trữ, truyền dẫn và khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn thông
tin trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa,… của con người.
Tuy khái niệm thông tin rất phổ biến trong đời sống con người nhưng
những nội dung khoa học chung nhất về thông tin và quá trình thông tin mới
chỉ được bắt đầu được nghiên cứu từ giữa thế kỷ 20, khi nhu cầu truyền tin
của con người tăng rất nhanh. Một trong những thành tựu đặc sắc của lý
thuyết truyền tin là việc đưa ra khái niệm lượng thông tin. Lý thuyết về lượng
thông tin ra đời đã tạo nền móng cho con người phát hiện ra thêm nhiều quy
luật của thông tin và quá trình truyền tin . Thông tin có nhiều loại khác nhau
có thông tin là các số liệu, dữ liệu thu thập, điều tra, khảo sát . Từ đó qua phân
tích, tổng hợp sẽ thu được những thông tin có giá trị cao hơn.
CNTT và truyền thông (ICT) bao gồm 4 trụ cột cấu thành: ứng dụng
ICT, nguồn nhân lực ICT, công nghiệp ICT và cơ sở hạ tầng ICT.
Lĩnh vực ứng dụng ICT gồm: kinh tế, xã hội, quản lý và những kết quả
ứng dụng như : chính phủ điện tử , giáo dục điện tử, truyền thông và giải trí
kết quả ra. Kết cấu này được gọi là phần cứng của máy tính, nó là bộ khung
vật chất cơ bản cho quá trình xử lý thông tin. Phần lôgic của quá trình xử lý
thông tin được người dùng đưa vào để điều khiển thông qua các lệnh. Tập hợp
các lệnh đó tạo nên một chương trình xử lý thông tin và đó gọi là phần mềm
của máy tính. Tuỳ theo mục đích của người sử dụng mà chọn phần mềm
tương ứng, đây là phần linh hoạt nhất của máy tính và mang nhiều dấu ấn đặc
trưng của con người . Cuối những năm 80, đầu những năm 90 là thời kỳ bùng
nổ của Cách mạng Viễn thông truyền dữ liệu trên cơ sở kỹ thuật cáp quang, 6
vệ tinh và vi ba số tạo khả năng thiết lập hệ thống siêu xa lộ thông tin, góp
phần xây dựng kết cấu hạ tầng thông tin làm nền móng cho một xã hội thông
tin.
Internet.
Internet là một danh từ riêng dùng để chỉ hệ thống các mạng máy tính
toàn cầu, mạng của các mạng, giúp cho người sử dụng ở bất kỳ máy tính nào
cũng có thể truy cập tới thông tin tại các máy tính khác và có thể đối thoại
trực tiếp với người sử dụng trên đó.
Có thể nói, internet đã và đang làm thay đổi rất nhiều trong hoạt động
thường nhật của người dân cũng như các công tác của các tổ chức lớn, nhỏ.
Internet giờ đây là một phương tiện phổ biến giúp hàng trăm triệu người trên
toàn thế giới có thể kết nối với nhau. Về cơ sở vật chất, internet sử dụng một
phần hệ thống mạng thông tin viễn thông công cộng. Về mặt công nghệ,
internet sử dụng giao thức có tên là TCP/IP là giao thức điều khiển truyền
thông. Để thích ứng, các mạng nội bộ và mạng bên ngoài cũng sử dụng giao
thức này.
Lúc mới bắt đầu có 4 dịch vụ internet gồm : thư điện tử, truy cập cơ sở
dữ liệu, truyền tệp dữ liệu, truy nhập từ xa. Đến nay internet Việt Nam trở nên
đa dạng hình thức và số lượng. ADSL,VoIP,Wifi, Internet công cộng và các
telex hoặc telecopy”.
TMĐT có thể được phân thành ba loại quan hệ: Quan hệ giữa thành
phần kinh doanh với thành phần kinh doanh (B2B), quan hệ giữa thành phần
kinh doanh với người tiêu dùng (B2C) và quan hệ giữa người tiêu dùng với
người tiêu dùng(C2C). Internet cũng chứa đựng những băng tần rộng hơn của
các hoạt động thương mại tiềm năng và các hoạt động trao đổi thông tin. Nó
tạo ra cho các công ty, các cá nhân và các chính phủ một cơ sở hạ tầng điện
tử, cho phép thiết lập các thị trường bán đấu giá ảo về hàng hoá và dịch vụ.
Các chính phủ ở một số quốc gia phát triển và đang phát triển đã tiến
hành tái tổ chức lại việc quản lý điều hành các hệ thống mua bán công cộng,
tương đương với mức 10% tổng GDP trên internet, mở ra một triển vọng mới
các quan hệ giao dịch có quy mô lớn trong quan hệ giữa thành phần kinh
doanh với Chính phủ(B2C). Công nghệ cũng đang được các chính phủ sử
dụng để chuyển tải hoặc nhận các thông tin (G2B,G2C) nhằm nâng cao tính
chất thuận tiện và giảm bớt chi phí của các hệ thống thanh toán và nộp
thuế(C2G). Các nhà kinh doanh sử dụng công nghệ để quản trị các dịch vụ
sau bán hàng và phát triển các thị trường tiêu dùng trực tiếp.
Cơ sở hạ tầng mạng lưới như viễn thông, vô tuyến, truyền hình cáp ,
internet và các mạng dùng riêng intranet được sử dụng để thực hiện các giao
dịch thương mại điện tử. Mối quan tâm tập trung hiện thời là thương mại điện
tử trên nền internet. Một hoạt động thương mại điện tử, thường liên quan đến
các bước liệt kê dưới đây tạo ra một dải đa dạng lớn về các dịch vụ cung cấp : 8
- Khách hàng ngồi trước màn hình máy tính cá nhân hoặc các phương
tiện truy cập khác.
- Tiến hành truy cập vào trang web với các thông tin quang bá (dịch
vụ quảng cáo).
- Truy cập vào internet (dịch vụ thông tin).
9
CNTT và truyền thông là công cụ quan trọng hàng đầu để thực hiện
mục tiêu thiên niên kỷ, hình thành xã hội thông tin, rút ngắn quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Ứng dụng rộng rãi công nghệ
thông tin và truyền thông là yếu tố có ý nghĩa chiến lược, góp phần
tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội và tăng năng suất, hiệu suất lao
động.
Ngày nay, CNTT càng được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh
vực, trong nhiều ngành , cụ thể như : từ ngành Nông nghiệp và Lâm
nghiệp, Thuỷ sản, công nghiệp khai thác mỏ, công nghiệp chế biến, sản
xuất và phân phối điện, khí đốt và nước, xây dựng, tài chính, tín dụng,
giáo dục và đào tạo, hoạt động văn hoá, thể thao, Trong năm 2005,
Văn phòng Ban chỉ đạo Quốc gia về CNTT đã phối hợp với Hiệp hội
phần mềm Việt Nam (VINASA) và Công ty Cổ phần Phát triển Đầu tư
công nghệ FPT tiến hành điều tra, khảo sát về ứng dụng CNTT trong
các doanh nghiệp . Theo kết quả công bố thì nhìn chung các doanh
nghiệp Việt Nam đã nhận thức được tầm quan trọng của CNTT trong
việc hỗ trợ các hoạt động quản lý, sản xuất và kinh doanh. Đối với các
ngành kinh tế khác nhau thì mức độ sử dụng CNTT cũng khác nhau.
Có thể thấy CNTT được ứng dụng mạnh mẽ nhất là trong các hoạt
động sản xuất kinh doanh, nhất là các doanh nghiệp hoạt động trong
lĩnh vực công nghiệp như Tổng công ty dệt may, công ty Cao su Đà
Nẵng. công ty dệt may Phong Phú. Với những doanh nghiệp này các hệ
thống máy tính hỗ trợ thiết kế, hỗ trợ sản xuất , các dây chuyền sản
xuất trên cơ sở công nghệ mạng đã trở thành nhân tố sống còn đối với
hoạt động sản xuất. Trong các doanh nghiệp phục vụ như Ngân hàng
Ngoại thương, Tổng Cục Hải quan hay Tổng Công ty đường sắt ,
CNTT cũng được chú trọng đầu tư và phát huy hiệu quả với các hệ
thống ngân hàng trực tuyến, hệ thống khai hải quan điện tử, hệ thống
bán vé điện toán.
thủ công, chưa giúp tái cơ cấu lại quy trình nghiệp vụ. Dù đã có ứng
dụng hỗ trợ nhưng hầu hết phần lớn mới chỉ dừng lại ở mức hỗ trợ tính
toán, xử lý trực tiếp , các lĩnh vực khác như kiểm tra, đối chiếu, phân
tích, thống kê ứng dụng còn thấp. Do việc triển khai các hệ thống
CNTT phụ thuộc nhiều vào cải tiến các quy trình ghiệp vụ, trong khi đó
các quy trình nghiệp vụ chưa được chuẩn hoá và thiếu sự liên kết giữa
các linh vực khác nhau, do đó việc ứng dụng CNTT phải phân nhỏ theo
lĩnh vực nên mức độ đáp ứng yêu cầu quản lý của ứng dụng chưa cao.
Với đà phát triển rộng rãi CNTT trong những năm tới, cộng với
chi phí lắp dặt, nối mạng ngày càng hạ, tỷ lệ ứng dụng CNTT sẽ được
nâng lên đáng kể. Để ứng dụng CNTT có hiệu quả, các doanh nghiệp
cần chú trọng đến phát triển nguồn nhân lực CNTT. 11
* CNTT là một công nghệ có nhiều tầng lớp.
Chữ “ tầng lớp” để nói một cách tổng quát nhất về các khâu, đoạn sản
xuất trong CNTT, cả phần cứng lẫn phần mềm và về sự liên hệ giữa
chúng với nhau, cũng như các chuẩn mực trong sự liên hệ ấy. Chữ “
tầng” (layers) thường được dùng trong phân tích hệ thống, và chữ “
tầng giao thức” ( protocol layers) có ý nghĩa hẹp và chính xác hơn.
Có thể phân chia những tầng lớp sau trong CNTT:
Tầng thứ nhất: các chương trình ứng dụng riêng cho từng cơ quan, xí
nghiệp đó có thể được thành lập từ một ngôn ngữ lập trình ít hay nhiều
cao cấp, dựa trên những hệ quản trị cơ sở dữ liệu. Tầng lớp trên cùng
này thường được viết tại chỗ hoặc thiết kế tại chỗ và đặt gia công bên
ngoài.
Tầng thứ hai: phần ở giữa các chương trình ứng dụng và hệ mềm cơ
bản. Phần này là chỗ phức tạp nhất và giàu có nhất. Có thể tạm chia
làm 4 lĩnh vực khác nhau:
chương trình loại sau này thường rất đắt, hàng chục hoặc hàng trăm
ngàn đô lavà thường chạy trên các trạm làm việc mạnh.
Tầng thứ ba : gồm những “ khả dụng (facilities) về phần mềm khiến
cho các chương trình ứng dụng tổng quát hay đặc biệt hoạt động được.
Tầng này chủ yếu là hệ điều hành và hệ điều hạnh mạng. Sự phân cấp
của hai loại khả dụng này tương đối phức tạp vì chúng chồng chéo lên
nhau và tuỳ thuộc các nhà sản xuất cũng như tuỳ thuộc các loại mạng.
Có thể gộp vào trong tầng này tất cả các chương trình rất lớn nằm trong
các “ trạm chuyển tiếp”(router) và các trạm đảo mạch( switch) thuộc
nhiều loại khác nhau vì chúng có dung lượng khác nhau.
Tầng thứ tư : bao gồm tất cả các hệ máy và mạng đang hoạt động trên
thế giới. Việc sản xuất các máy này bắt đầu từ : làm ra các bìa in trong
đó có gắn các linh kiện điện tử , lắp ráp với phần điện, các thiết bị
ngoại vi, cơ khí, và trở thành một máy tính hoàn hảo, hay một bộ phận
của một thiết bị công nghiệp hay một sản phẩm tiều dùng. Khâu đoạn
này chủ yếu là dùng nhân công rẻ nên đó là thế mạnh của Châu Á đặc
biệt là Hồng Kông, Hàn Quốc, Đài Loan và Singapore. Đài Loan sản
xuất được các „bìa mẹ” (mother board) cho PC và các máy PC hoàn
chỉnh, hiện 80% bìa mẹ dùng cho PC trên thế giới được sản xuất tại Đài
Loan, Singaporelại chuyên về các thiết bị ngoại vi.
Tầng lớp thứ năm, cũng là tầng lớp cuối cùng sản xuất các linh kiện
điện tử. Hiện nay chỉ có Mỹ, Nhật và châu Âu là có công nghệ hoàn
chỉnh làm các mạch tổng hợp. Sau giai đoạn sản xuất wafers và in
mạch tổng hợp trên wafers cần các nhà máy siêu sạch và siêu chính xác
rất tối tân, công việc còn lại là đặt và hàn những mạch in trần đó vào
hộp thành linh kiện, cần nhiều nhân công rẻ, thường được các công ty 13
quốc tế làm tại các chi nhánh ở châu á như Malaysia, Singapore,
PSTN và Internet và là mạng hội tụ của các dịch vụ IP và dịch vụ điện
thoại. Mạng NGN mang lại cho nhà cung cấp và khai thác dịch vụ rất
nhiều thuận lợi như xây dựng, thiết lập mạng dễ dàng hơn do các thành 14
phần mạng có giá thành thấp hơn so với các thiết bị chuyển mạch kênh.
Công nghệ chuyển mạch gói phát triển rất nhanh, năng lực xử lý tăng
gấp đôi sau 18 tháng , vì vậy tỷ lệ giá thành/năng lực xử lý giảm rất
nhanh. Tạo điều kiện giảm chi phí quản lý khai thác, khả năng cung cấp
dịch vụ nhanh chóng và rẻ hơn do điều khiển dịch vụ tập trung, sử dụng
ngôn ngữ lập trình ứng dụng ( Application Programing Interface - API)
tập trung và sử dụng ngôn ngữ lập trình chung sẽ làm cho việc tạo ra
các dịch vụ nhanh hơn và rẻ hơn.
Sự đổi mới diễn ra ngày càng mạnh mẽ trong các hệ thống thông tin
di động. Thế hệ thứ nhất(1G) trong những năm 1970 và hệ thống tế bào
2G trong những năm 1980 được sử dụng với mục đích chính là cho các
ứng dụng thoại và hỗ trợ các dịch vụ chuyển mạch kênh. Những hệ
thống này là các hệ thống chính hiện nay. Tốc độ số liệu cho người sử
dụng trong các kết nối vô tuyến của các hệ thống này bị hạn chế dưới
một vài chục kbit/s. IMT-2000 được đưa ra tại thời điểm bắt đầu thế kỷ
21, là hệ thống 3G, có thể cung cấp tốc độ 2 Mbit/s và 144kbit/s. Dung
lượng hệ thống tế bào 3G sẽ không đủ xử lý lưu lượng đa phương tiện
đang tăng trưởng một cách bùng nổ vào những năm 2010. Dung lượng
theo đơn vị vùng cho các hệ thống tế bào 4G sẽ gấp ít nhất 10 lần hệ
thống 3G. Giá thành tính theo bit sẽ giảm mạnh do vậy mọi người có
thể sử dụng nó mà không phải lo lắng về cước thông tin.
Trong thế kỷ 21 này xã hội và nền kinh tế sẽ dựa phần lớn vào thông
tin máy tính ở dạng số. Các thế hệ tương lai bao gồm 4G và 5G được
sử dụng, bao gồm nhiều hệ thống, không chỉ là hệ thống thoại tế bào
chép được.
Tình trạng vi phạm bản quyền phần mềm ở Việt nam luôn ở mức
cao và chưa thực sự có tiến bộ trong những năm gần đây. Nguyên nhân
chính của việc vi phạm bản quyền là do giá thành chi cho một công
trình nghiên cứu phần mềm quá lớn trong các sản phẩm được sao chép
bán ở thị trường lại rẻ mạt. Ví dụ hãng Microsoft trung bình mỗi năm
phải chi 3 tỷ USD để đầu tư nghiên cứu phát triển phần mềm, vậy mà
khi thành phẩm của họ bị sao chép, in lậu và bán ra thị trường, giá chỉ
khoảng 10.000đồng/đĩa tại thị trường Việt Nam. Ngoài lý do trên, sự
thiếu hiểu biết về pháp luật, sự kém rành mạch, cụ thể trong hệ thống
hành lang pháp lý cộng với việc kém gương mẫu của ngay chính các cơ
quan nhà nước cũng dẫn đến tình trạng vi phạm quyền bảo hộ phần
mềm nói trên. Nếu tình trạng cứ tái diễn như hiện nay thì ngành công
nghiệp phần mềm của Việt Nam rất khó phát triển. Các nhà đầu tư
nước ngoài cũng giảm bớt nhiệt tình đầu tư vào lĩnh vực này ở Việt
Nam. Chính vì vậy, việc bảo hộ sở hữu trí tuệ là điều kiện then chốt để
phát triển CNTT. 16
Chính phủ Việt Nam cùng với việc sửa đổi bổ sung Bộ luật Dân
sự, Luật Sở hữu trí tuệ vừa được Quốc hội thông qua tháng 12/2005 sẽ
tạo ra cơ sở tăng cường cơ chế quản lý đối với lĩnh vực sở hữu trí tuệ,
giúp giảm tỷ lệ vi phạm các quyền về sở hữu trí tuệ như hiện nay.
1.1.2 Vai trò chính của CNTT .
Trong nhiều năm qua, nhờ có chính sách đổi mới, ngành CNTT
Việt Nam đã gặt hái được nhiều thành quả từ hợp tác khu vực và quốc
tế trong việc nghiên cứu phát triển CNTT. Các công nghệ và ứng dụng
tiên tiến đã được triển khai áp dụng và giới thiệu ở nước ta. CNTT có
khả năng đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thông tin đang tăng nhanh.
được trao đổi, sử dụng và điều phối xuyên quốc gia đã là phổ biến. Quan hệ
hợp tác và cạnh tranh trong các lĩnh vực kinh tế, thương mại, công nghệ
giữa các quốc gia, giữa các doanh nghiệp ngày càng sôi động hơn. Việc
chuyển tải nhanh chóng thông tin làm cho nhịp độ sản xuất kinh doanh ngày
càng nhanh hơn, chu kỳ tồn tại của kỹ thuật và sản phẩm ngày càng ngắn lại.
Các khâu sản xuất, cung ứng và tiêu thụ đều phải thay đổi cho phù hợp với
điều kiện thông tin nhanh chóng, chuyển từ sản xuất quy mô lớn sang sản
xuất theo đơn “đặt hàng” qua internet, làm cho khoảng cách giữa người sản
xuất và người tiêu dùng ngày càng thu hẹp lại. Người sản sản xuất có thể
hiểu được nhu cầu của khách hàng, nắm bắt được thông tin thị trường một
cách nhanh nhất, có thể xây dựng được chiến lược sản xuất kinh doanh
thích hợp với xu thế phát triển của thị trường trong nước, khu vực và quốc
tế. Người tiêu dùng có thể tham gia quá trình sản xuất: lựa chọn, thiết kế
những sản phẩm thích hợp nhất cho mình.
Sự phát triển của CNTT góp phần làm cho năng suất lao động tăng lên
đáng kể ( ở Mỹ tăng từ 20 đến 40%, ước tính đến năm 2007, GDP sẽ tăng
327 tỷ USD do phát triển xa lộ cao tốc thông tin. Giá trị sản xuất của ngành
thông tin chiếm tỷ trọng ngày càng lớn, trở thành lớn số 1 thế giới.
Sự phát triển của CNTT sẽ giúp các doanh nghiệp nắm bắt được một
cách nhanh nhất các công nghệ mới và có thể mua các công nghệ đó với giá
rẻ nhất không qua khâu trung gian. Việt Nam đang trong quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế, ứng dụng CNTT tốt sẽ nâng cao năng lực cạnh tranh, nắm
bắt thông tin tiếp cận thị trường, mở rộng quan hệ với khu vực và thế giới.
Điều này sẽ vô cùng có ích cho hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao
năng suất lao động lên gấp nhều lần, nâng cao khả năng cạnh tranh. Phát
triển CNTT sẽ đem lại nhiều sự thuận tiện, tiết kiệm thời gian, tăng khả
năng lựa chọn cho người tiêu dùng, chỉ cần ở nhà mà có thể truy cập vào các
trang web siêu thị hay chỉ cần gọi điện thoại là người tiêu dùng có thể đặt
hàng lựa chọn hàng theo ý muốn và được giao hàng đến tận nhà một cách
nhanh chóng và thuận tiện .
mất 0,3 USD nếu thực hiện bằng internet mà chỉ cần ngồi tại nhà.
CNTT ảnh hưởng trực tiếp đến việc thay đổi cách thức làm việc và tổ
chức kinh doanh trong toàn xã hội
Trong nền kinh tế mới có sự hội tụ của nhiều ngành công nghiệp,
không những để hình thành những công nghiệp mới mà còn thay đổi cách tổ
chức, hoạt động của cả nền kinh tế, cũng như cách sinh hoạt, giải trí của xã
hội. Rõ ràng nhất là sự hội tụ giữa công nghiệp tính toán( máy tính điện tử, 19
máy vi tính, bộ vi xử lý), công nghiệp điện thoại và viễn thông ( hệ thống và
dịch vụ điện thoại viễn thônghữu tuyến và vô tuyến0 và công nghiệp thông
tin, phát hành ( sách, báo, âm nhạc, truyền thanh và truyền hình). Sự hội tụ
này tạo ra nhiều hướng, cơ hội và điều kiện nghiên cứu, phát minh trong
nhiều ngành khoa học kỹ thuật khác nhau, hứa hẹn sẽ tiếp tục thay đổi đời
sống nhân loại. Nó cũng làm tăng tốc độ phổ biến và khả năng truyền bá các
phát minh khoa học kỹ thuật lên các mặt hoạt động của xã hội tiến tới nền
kinh tế nối mạng toàn cầu. Việc trao đổi thông tin về khả năng cung cấp,
nhu cầu, xảy ra nhanh chóng và hiệu quả. Hệ thống nối mạng ngày càng
mở, càng có nhiều thành viên trên khắp thế giới thì nó càng hữu ích và có
giá trị đối với mỗi thành viên, mở ra nhiều cơ hội kinh doanh có hiệu năng
kinh tế cao nhưng cũng làm cho sự cạnh tranh càng sâu sắc thêm , đem lại
hiệu quả cho nền kinh tế của toàn xã hội.
CNTT với thông tin mau lẹ và tự động cho phép tối ưu hoá dây
chuyền cung ứng vật liệu cho mọi ngành nghề . Đón trước thời cơ, giai đoạn
2001-2010, chiến lược phát triển của Ngành là “ Hội nhập và phát triển”
nhằm phát huy tối đa nội lực, tạo môi trường cạnh tranh sâu hơn, rộng hơn
trong nước để tiếp tục đổi mới công nghệ, mở rộng năng lực mạng lưới, đa
dạng hoá các loại hình dịch vụ, đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT, hạ
giá thành và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Một mốc đáng nhớ là ngày
trọng hàng đầu cho sự phát triển trí tuệ.
Trong kinh tế tri thức, tri thức và công nghệ nhanh chóng trở thành lạc
hậu do tốc độ biến đổi diễn ra hết sức nhanh chóng. Sự đổi mới và sáng tạo
luôn đòi hỏi phải có thông tin. Thông tin trở thành cơ sở quan trọng hàng
đầu cho sự đổi mới và sáng tạo. Ngày nay, trên nền tảng của những tiến bộ
thực sự có ý nghĩa về CNTT và phát triển cơ cấu thông tin quốc gia, loài
người đang tiến tới ngưỡng cửa của xã hội thông tin toàn cầu. Đặc điểm nổi
bật của xã hội thông tin là sự phát triển không dựa chủ yếu vào các nguồn
dự trữ tự nhiên như trong xã hội công nghiệp mà chủ yếu dựa vào nguồn tri
thức về khoa học và công nghệ, tức các nguồn nhân lực tri thức có khả năng
tái tạo, tự sản sinh và không bao giờ cạn.
Mục tiêu của xã hội thông tin toàn cầu là : xây dựng một cộng đồng thế
giới trong đó nhân dân các nước láng giềng không coi nhau như kẻ thù tiềm
tàng mà là người đối tác, đồng minh tiềm tàng, là thành viên trong cùng một
gia đình, trong đại gia đình ngày càng có liên hệ với nhau của nhân loại.
Ngày nay, các nước đang phát triển đang có những nỗ lực cao trong
việc khai thác cơ hội do hệ thống thông tin toàn cầu đem lại nhằm phát triển
toàn diện kinh tế xã hội và thu hẹp dần khoảng cách giữa họ với các nước
khác. Sự lớn mạnh nhanh chóng của CNTT sẽ là một trong những yếu tố
thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế tri thức. Nền kinh tế tri thức là nền 21
kinh tế mà trong đó các yếu tố sản xuất, quá trình sản xuất, sản phẩm hàng
hoá, quá trình điều khiển sản xuất và quản lý kinh tế đều chứa hàm lượng tri
thức tương đối cao và ngày càng cao. Như vậy, quá trình thu nhận, lưu giữ,
xử lý, khai thác và tạo tri thức là thành phần chủ đạo, là yếu tố cốt lõi trong
nền kinh tế tri thức.
Xu thế hướng tới xã hội thông tin và hướng tới sự phát triển của nền
kinh tế tri thức mở ra cho các nước đang phát triển những cơ hội tiếp cận và
không cần phải mua và cài đặt vào PC của mình nhiều chương trình như trước
đây, mà có thể thuê chương trình mình cần. Dịch vụ này giúp cho các doanh
nghiệp nhỏ cũng có thể dùng hệ thống ERP hay KM; và người dùng có cơ hội
sử dụng nhiều chương trình khác nhau.
Với sự phát triển không ngừng của CNTT và viễn thông, các yêu cầu
ngày càng gia tăng cả về số lượng, chất lượng và loại hình dịch vụ, sự ra đời
của các sản phẩm thiết bị mới đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến kiến trúc mạng,
ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phá triển của các hãng sản xuất cung cấp
thiết bị, các nhà khai thác viễn thông. Nhằm hướng tới một mô hình kiến trúc
mạng mới trên nền tảng công nghệ hiện đại, đầu tư hiệu quả đáp ứng các yêu
cầu phá triển phong phú đa dạng các dịch vụ, các tổ chức quốc tế về viễn
thông với sự tham gia cả về kỹ thuật và kinh tế của nhiều hãng cung cấp thiết
bị và nhiều nhà khai thác đã cố gắng nghiên cứu để đưa ra mô hình cho cấu
trúc hạ tầng thông tin toàn cầu GII ( Global Infomation Infrastructure) và
mạng thế hệ sau NGN, trong đó có thể kể đến hoạt động nghiên cứu và thử
nghiệm của các tổ chức viễn thông sau đây : ITU, IETF, MSF, ATM Forum,
TINA, AMF,
Các mô hình mạng viễn thông sau đây được các tổ chức quốc tế sử
dụng:
+ Mô hình cấu trúc hạ tầng thông tin toàn cầu(GII) của Liên minh Viễn thông
quốc tế (ITU)
+ Mô hình mạng thế hệ sau của Diễn đàn chuyển mạch đa dịch vụ MSF (
Multiservice Switchinh Forum).
+ Mô hình mạng thế hệ sau của Viện Tiêu chuẩn Châu Âu (ETSI).
Xu hướng phát triển mạng viễn thông theo cấu trúc mạng thế hệ sau là
xu hướng chung của thế giới. Mỗi quốc gia, mỗi nhà khai thác chọn một cách
đi, một lộ trình phù hợp với tình hình thực tế mạng hiện tại của mình. Ví dụ ở
Australia, do chính sách mở rộng thị trường viễn thông nên hiện nay đã có
nhiều nhà khai thác tham gia cung cấp các dịch vụ viễn thông, trong đó
Telstra vẫn là nhà khai thác lớn nhất ở Australia hiện nay. Mạng thế hệ sau và
Các dịch vụ viễn thông quốc tế do PT Indonesia Satellite(PT Indosat)
và PT Satellit Palapa Indonesia(PT Sateindo) cung cấp .
- Về truyền dẫn, công nghệ SDH đã được áp dụng triển khai vào
Indonesia từ năm 1993. Về chuyển mạch, hiện nay PT Indosat đóng vai
trò chủ yếu trong quản lý và khai thác các chuyển mạch quốc tế.
Indonesia đã triển khai dịch vụ truyền số liệu, thoại ở một số vùng đô
thị, với VoDSL, thoại và số liệu được truyền ở dạng các gói hoặc tế bào
ATM. Tại Indonesia đã có tới 45 ISP ( Internet Service Provider) hoạt
động cung cấp dịch vụ Internet.
Tại Singapore đã số hoá 100% mạng truyền dẫn và chuyển mạch, hiện
nay mạng viễn thông Singapore được đánh giá là mạng viễn thông h