Phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế - Pdf 13

-1-

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Kinh tế tri thức là một khái niệm mới, về nội hàm, kinh tế tri thức phản ánh
một trình độ rất cao trong các nấc thang phát triển kinh tế của loài người. Hiện
nay xu hướng phát triển kinh tế tri thức đang tác động ngày càng sâu rộng trên
mọi khía cạnh, lĩnh vực của đời sống nhân loại; có thể nói kinh tế tri thức vừa là
mục tiêu vừa là xu thế phát triển tất yếu của xã hội loài người trong tương lai
gần. Kinh tế tri thức được xác định chính là cánh cửa mở ra cho các nền kinh tế
đang phát triển tiếp cận và rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển nếu biết
đón bắt và tận dụng cơ hội. Ngược lại, kinh tế tri thức cũng tạo ra thách thức lớn
hơn bao giờ hết đối với các nước đang phát triển, đó là nguy cơ tụt hậu, đó là
khoảng cách ngày càng gia tăng về trình độ phát triển với các nước phát triển.
Trong bối cảnh đó ở nước ta, sau nhiều tranh luận, đã có sự nhất trí xây dựng
nền kinh tế theo hướng tri thức hóa dần các công đoạn của quá trình sản xuất
hàng hóa và dịch vụ trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, và phát triển
kinh tế tri thức ở nước ta đã được khẳng định tại các Báo cáo Chính trị của Đảng
lần thứ IX, X, XI.
Trong chiến lược phát triển nền kinh tế theo mô hình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa rút ngắn của vài thập niên tới, làm cho nhiệm vụ xây dựng chương trình
hành động nhằm hình thành và phát triển nền kinh tế tri thức của Việt Nam trở
nên đặc biệt cấp bách, thậm chí là rất gay gắt. Hơn nữa, trong bối cảnh hội nhập
kinh tế quốc tế, kinh tế tri thức ngày càng phát triển mạnh mẽ và đóng góp vai trò
quan trọng trong quá trình phát triển của thế giới, đó là thách thức lớn đối với
nước ta, song cơ hội lớn cũng nằm trong thách thức đó. Vì thế, mặc dù vẫn còn là
một nước đang phát triển, chúng ta không thể không tính đến tìm một lối đi tiến
nhanh vào nền kinh tế tri thức theo cách của mình, trong hoàn cảnh và đặc điểm
của mình, theo chiến lược và bước đi phù hợp với trình độ hiện có. Trong điều
kiện đó, trên tầm nhìn dài hạn, phát triển nền kinh tế tri thức phải được coi là
nhiệm vụ mang tính sống còn đối với tương lai của Việt Nam. Vì vậy, chúng tôi

hướng, tầm nhìn và từ đó đưa ra nhóm giải pháp tiếp cận để phát triển kinh tế tri
thức ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận án nghiên cứu phát triển kinh tế tri thức ở
Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ở hai mặt:
Thứ nhất, đánh giá nền kinh tế tri thức của Việt Nam đang phát triển ở mức
nào trong mức thang phát triển kinh tế tri thức của khu vực và thế giới, những
mặt nào mạnh cần phát huy và những điểm yếu cần khắc phục.
Thứ hai, phát triển kinh tế tri thức của Việt Nam trong điều kiện hội nhập
kinh tế quốc tế là con đường tất yếu của nền kinh tế nước ta nếu như không muốn
tụt hậu.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: Luận án nghiên cứu về phát triển kinh tế tri thức ở Việt
Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, bối cảnh mà mọi quốc gia đều phát
triển theo xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.
+ Về thời gian: Thời gian những năm 2000 trở lại đây, khi mà hầu hết các
quốc gia đều nhận thấy phát triển kinh tế tri thức là cơ hội phát triển đất nước
trong thế kỷ XXI, thời điểm mà Đảng và Chính phủ biến chủ trương, mong
-3-

muốn, trở thành hành động được thể hiện tại văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ IX,X,XI.
+ Giới hạn của nghiên cứu: Thứ nhất, luận án nghiên cứu phát triển kinh tế
tri thức của Việt Nam đặt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Thứ hai, luận
án chỉ dùng tiêu chí đánh giá kinh tế tri thức của Ngân hàng Thế giới mà không
so sánh tiêu chí này với tiêu chí của các tổ chức khác, từ đó chúng ta dễ có được
cái nhìn tổng thể về trình độ phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu và nguồn số liệu sử dụng
- Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu của luận án thuộc về lĩnh vực kinh tế chính trị. Do đó, việc

kinh tế quốc tế giai đoạn 2011 - 2020 và tầm nhìn 2030.
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ TRI THỨC
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRI THỨC
1.1.1 Khái niệm, và đặc điểm của tri thức
- Các khái niệm tri thức : Do quan điểm và thời điểm lịch sử khácnhau,
cách tiếp cận khác nhau nên có rất nhiều quan niệm về tri thức, có thể liệt kê một
số quan niệm chủ yếu như của : K. Marx, OECD, Peter Howit, từ điển Bách khoa
Toàn thư Việt Nam. Trên cơ sở những khái niệm không hẳn là giống nhau ở trên,
ta có thể thấy được những điểm chung và đưa ra khái niệm tri thức sử dụng
trong luận án : Tri thức là toàn bộ những sự hiểu biết của loài người được hình
thành trong lị ch sử phát triển của mình thông qua kinh nghiệm hay thông qua
quá trình học hỏi.
- Đặc điểm tri thức : Thứ nhất, tri thức là sản phẩm của lao động;
Thứ hai, tri thức không phải là vật chất nhưng tồn tại dưới cái vỏ vật chất
(giá đựng, vật mang); Thứ ba, tri thức dưới dạng sản phẩm khi đem sử dụng đòi
hỏi phải có cả một quá trình học hỏi và nghiên cứu; Thứ tư, tri thức dưới dạng
sản phẩm trong nền kinh tế thị trường trở thành một loại hàng hóa có tính phổ
cập; Thứ năm, tri thức là một trong các yếu tố quan trọng nhất của sản xuất và
đời sống xã hội; Thứ sáu, tri thức có tốc độ thay đổi nhanh chóng.
- Vai trò của tri thức đối với phát triển :
Các nhà kinh tế học ngày nay đều thống nhất quan điểm rằng, tri thức là một
đầu vào (input) cơ bản của sản xuất và của nền kinh tế. Nếu như quan điểm cổ
điển cho rằng các đầu vào sản xuất chỉ bao gồm: nguyên liệu, vốn, và lao động,
thì khái niệm “đầu vào tri thức” đã thay đổi sâu sắc tư duy kinh tế học. Hàm số
sản xuất theo trường phái kinh tế học cổ điển là: P = F (L,C, R) - Trong đó, P sản
xuất (Production) phụ thuộc vào R - tài nguyên (Ressource); C - vốn (Capital);
và L - lao động (Labor). Nhưng hàm số sản xuất theo trường phái kinh tế học
hiện đại đã được mở rộng: P = F (R, C, L, K…). Trong đó, ngoài R, C, L còn có
đóng góp của tri thức K (Knowledge).

Đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về nền kinh tế tri thức như của : Bộ
Thương mại và Công nghiệp Anh (năm 1998), GS.VS. Đặng Hữu, Ngân hàng
thế giới, tổ chức OECD, APEC, Từ điển Bách khoa Toàn thư Việt Nam… Khái
niệm kinh tế tri thức mà luận án này dùng đó là: kinh tế tri thức là một mức thang
mới, là một bước tiến mới của quá trình phát triển của kinh tế thế giới mà trong
nền kinh tế đó, động lực chính yếu nhất cho sự tăng trưởng chính là việc sử dụng
tri thức, truyền bá và sản sinh ra thêm tri thức mới. Trong nền kinh tế tri thức, tri
thức được sử dụng trong tất cả các ngành, kể cả các ngành truyền thống và giá
trị do tri thức tạo ra chiếm phần lớn trong tổng giá trị sản phẩm của nền kinh tế.
- Những nhân tố tác động đến sự ế tri thức :
Thứ nhất, t ; Thứ hai, Kinh tế thị trường là
động lực mạnh mẽ đẩy nhanh sự hình thành và phát triển kinh tế tri thứ
; Thứ ba, Thương mại thế giới thúc đẩy sự hình thành và phát triển kinh tế tri
thức toàn cầu.
-6-

- Đặc trƣng chủ yếu của nền kinh tế tri thức : Thứ nhất, Nền kinh tế tri
thức là nền kinh tế hậu công nghiệp; Thứ hai, Công nghệ cao, ICT được ứng
dụng rộng rãi và đóng vai trò đặc biệt quan trọng; Thứ ba, Nền kinh tế tri thức
chuyển dịch cơ cấu theo hướng gia tăng nhanh các ngành có giá trị gia tăng cao
dựa nhiều vào tri thức; Thứ tư, Tri thức khoa học và công nghệ cùng với lao động
kỹ năng cao là lực lượng sản xuất trực tiếp và quyết định; Thứ năm, Có cấu trúc
mạng lưới toàn cầu; Thứ sáu, Tốc độ biến đổi rất nhanh của công nghệ và nhanh
chóng ứng dụng trong các ngành sản xuất; Thứ bẩy, Đầu tư mạo hiểm có xu
hướng gia tăng mạnh trong nền kinh tế tri thức; Thứ tám, Đặc tính, cơ cấu và
chất lượng nguồn
nhân lực trong nền kinh tế tri thức thay đổi căn bản.
1.2 ĐO LƢỜNG MỨC ĐỘ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC
- Hệ thống chỉ tiêu đo lường kinh tế tri thức của Ngân hàng thế giới.
- Hệ thống chỉ tiêu đo lường kinh tế tri thức của APEC.

hạ tầng ICT. (iv) Kết hợp giữa đại nhẩy vọt và truyền thống; (v) Xây dựng văn
hóa kinh doanh phù hợp với hội nhập quốc tế và doanh nghiệp phải là chủ thể
của quá trình phát triển - đầu tư - nghiên cứu; (vi) Cải cách Kinh tế, hoàn thiện
hệ thống đổi mới quốc gia theo hướng tư do hóa và cởi mở; (vii) Hội nhập sâu
nhưng không hòa tan vào nền kinh tế thế giới.
CHƢƠNG 2
THỰC TRẠNG KINH TẾ XÃ HỘI VIỆT NAM TRÊN CON ĐƢỜNG
TIẾN ĐẾN NỀN KINH TẾ TRI THỨC
2.1 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM DƢỚI GÓC ĐỘ
CỦA NỀN KINH TẾ TRI THỨC
2.1.1 Những chỉ số phát triển kinh tế - xã hộ ủa Việt Nam
Trong hơn hai mươi năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được tốc độ
tăng trưởng khá nhanh, cơ cấu kinh tế đã có bước chuyển dịch đáng kể theo
hướng công nghiệp hóa, hiện đại hoá.


tiêu cơ bản của Ngân hàng Thế Giới
Những câu hỏi đặt ra là trình độ kinh tế tri thức của Việt Nam phát triển như
thế nào, chúng ta đang ở đâu trong mức thang phát triển kinh tế tri thức, Bảng 2.2
cho ta cái nhìn về mức độ phát triển kinh tế tri thức của Việt Nam.
Bảng 2.2: Bảng xếp hạng chỉ số kinh tế tri thức 2009
Xếp
hạng
Quốc gia
KEI
Môi trƣờng
kinh doanh
và thể chế
Đổi
mới
Đào
tạo
ICT
1
Mỹ
9.02
9.04
9.47
8.74
8.83

Tây Âu
8.76
8.71
9.27
8.29

3.6
100
Việt Nam
3.51
2.79
2.72
3.66
4.85
103
Indonesia
3.29
3.66
3.19
3.59
2.72
104
Ấn Độ
3.09
3.5
4.15
2.21
2.49
Nguồn : Tổng hợp từ báo cáo về kinh tế tri thức của World Bank 2010
Bảng trên cũng cho ta thấy rằng tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm của
Việt Nam và chỉ số phát triển ICT, phát triển con người của chúng ta đạt khá
nhưng không đồng bộ với hệ thống đổi mới, nghiên cứu khoa học và luật pháp
còn chưa cao. Năm 2008 chỉ số KEI củ 2009
3.51, xếp thứ 100/146 nướ
ế tri thứ . Tuy nhiên vẫn
đang ở (2<Kei<4) so với quốc tế (2009).

Mỹ
9.02
9.32
9.04
9.06
x
Tây Âu
8.76
8.97
8.71
9.05
93
Trung Quốc
4.47
3.92
3.90
2.84
95
Indonesia
3.29
3.22
3.66
3.52
102
Ấn Độ
3.09
3.17
3.50
3.59
x

đất nước chủ yếu vẫn nhờ vào vốn (chiếm 64%), nhân tố trí tuệ chỉ chiếm 25%
Lao động
chưa qua đào
tạo 77,5%
Lao động có
trình độ đại học
trở lên 4,8%
Lao động đã qua
đào tạo 17,7%
-11-

(trong khi đó, giai đoạn đầu công nghiệp hoá của các nước NICs, mức đóng góp
của nhân tố trí tuệ vào tăng trưởng là 60%, của vốn là 21%).
Đánh giá lĩnh vực đào tạo dưới giác độ và các tiêu chí của nền kinh tế tri
thức, theo số liệu của Ngân hàng Thế giới năm 2009 thì chúng ta đứng ở vị trí
thứ 99/145 nước (Bảng 2.8)
Bảng 2.8 Xếp hạng về đào tạo của Việt Nam
và một số quốc gia, vùng lãnh thổ - 2009
Xếp
hạng
Quốc gia
KEI
Đào tạo
2009
2000
2009
2000
x
G7
8.72

8.63
7.97
7.92
x
Nhóm nước thu nhập
cao
8.23
8.23
7.47
7.52
94
Trung Quốc
4.47
3.92
4.20
3.71
99
Việt Nam
3.51
2.90
3.66
3.73
101
Indonesia
3.29
3.22
3.59
3.59
x
Nhóm thu nhập trung

nam xếp thứ 73 với 3.67 điểm.
Về chỉ số sẵn sàng cho kinh tế điện tử (EIU), Việt nam xếp hạng thứ 65 - giữ
nguyên thứ hạng so với năm 2007.
Về mức độ chính phủ điện tử, chỉ số Chính phủ điện tử của Việt nam đã tăng
lên đáng kể: từ 0.364 điểm năm 2005 lên 0.4558 điểm năm 2008. Việt nam được
xếp thứ 91, tiếp tục tăng hạng hẳn 16 bậc so với các năm trước (năm 2005: xếp
thứ 105, năm 2004: xếp thứ 112). Điểm số cho chỉ số Web của Việt Nam năm
2008 là 0.4448 (tăng nhiều so với năm 2005 là 0.2231 và tăng rất nhiều so với
con số 0.143 của 2004),
Nhìn chung, bức tranh về ICT của Việt Nam là sáng so với những khu vực
khác, tuy nhiên, chỉ số ICT của Việt Nam tính về tổng thể vẫn ở mức trung bình
yếu, xếp hạng 78/146 quốc gia năm 2009 (xem Bảng 2.11)
Bảng 2.11: Xếp hạng ICT Việt Nam và một số quốc gia,
vùng lãnh thổ - 2009
Xếp
hạng
Quốc gia
KEI
ICT
2009
2000
2009
2000
7
Hồng Kông
8.32
8.08
9.33
9.37
8

Hàn Quốc
7.82
8.23
8.60
9.28
28
Nhật
8.42
8.92
8.00
8.72
41
Malaysia
6.07
6.17
7.14
7.33
64
Thái Lan
5.52
5.69
5.64
5.04
-13-

78
Việt Nam
3.51
2.90
4.85

Quốc gia
KEI
Hệ thống đổi
mới
2009
2000
2009
2000
4
Singapore
8.44
8.66
9.58
9.28
6
Mỹ
9.02
9.32
9.47
9.55
X
Tây Âu
8.76
8.97
9.27
9.33
10
Đài Loan
8.45
8.63

3.22
3.19
2.24
115
Việt Nam
3.51
2.90
2.72
2.38
Nguồn : Tổng hợp từ số liệu Ngân hàng Thế giới 2010
Đổi mới, chuyển giao công nghệ trong doanh nghiệp: Khả năng đổi mới
công nghệ là một chỉ số quan trọng phản ánh tiềm năng phát triển kinh tế tri thức.
Trong khi đó, đầu tư cho đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam chỉ
vào khoảng 0,2 - 0,3% doanh thu, trong khi Ấn Độ là 5%, Hàn Quốc là 10%.
Trong số công nghệ được áp dụng ở Việt Nam thì hơn 90% là công nghệ nhập
khẩu (Tài liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2008). Về đầu tư, tỷ lệ đầu tư cho
-14-

khoa học công nghệ trong tổng chi ngân sách nhà nước đã tăng lên từ 0,78% năm
1996 lên 2,13% năm 2002. Năm 2003, tổng chi cho khoa học công nghệ từ ngân
sách nhà nước đạt trên 3.150 tỷ đồng (xấp xỉ 200 triệu USD), chiếm 60% tổng
đầu tư của xã hội cho khoa học công nghệ. Như vậy, tỷ lệ đầu tư cho khoa học
công nghệ từ ngân sách Nhà nước là khá cao. Như vậy, tính đến hết 2009, tổng
đầu tư toàn xã hội cho khoa học công nghệ đạt khoảng 0,8% GDP, tương đương
với tổng đầu tư xã hội cho khoa học công nghệ /người/năm ở nước ta là 8,4 USD
vào năm 2009. Nếu so với các nước, năm 2002 (trước đó 6 năm), con số này ở
Hàn Quốc là 212 USD (gấp 25 lần), ở Đức là 511 USD (gấp 61 lần), ở Hoa Kỳ
là 794 USD (gấp 95 lần).
2.1.3 Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế tri thức của Việt Nam qua
yếu tố năng suất tổng hợp

Tài
sản cố
định
Lao
động
Tài
sản cố
định
Lao
động
Tài
sản cố
định
Lao
động
1
2
3
4
5
6=2x4
7=3x5
8
2000
6.79
11.30
2.02
0.3696
0.6304
4.18

2.67
2006
8.23
12.71
1.91
0.3495
0.6505
4.44
1.25
2.54
2007
8.46
14.31
1.93
0.3475
0.6525
4.97
1.26
2.23
BQ(0
0-07)
7.63
11.63
2.34
0.3640
0.6359
4.23
1.49
2.38
Nguồn : Báo cáo chỉ tiêu năng suất Việt Nam 2006 – 2007 (2009)

23.13
17.08
-
-
-
-
-
-
2005
8.44
100.00
51.38
16.84
31.67
2006
8.23
100.00
53.94
15.19
30.87
2007
8.46
100.00
58.75
14.89
26.36
2008
6.31
100.00
57.00

Malaysia
Nguồn : Tính toán của tác giả từ Productivity Report 2009 – Malyasia,
Tổng hợp từ Báo cáo chỉ tiêu năng suất Việt Nam 2006 – 2007(2009) ,

_cacyeu_to_tong_hop_TFP/
Hình 2.10 ở trên đây cho thấy, đến năm 2008 thì GDP đầu người của
Malaysia là 8.209 USD trong đó phần đóng góp do yếu tốc tri thức mang lại là
2.947USD, của Việt Nam tương ứng là 1.052 USD và 242 USD. Số liệu trên cho
thấy, xét cả về tỷ trọng và giá trị, phần đóng góp của tri thức trong sản phẩm xã
hội nói chung của Việt Nam còn thua xa so với Malysia cũng như những nước có
nền kinh tế phát triển trong khu vực Đông Nam Á.
2.2 NHỮNG ĐIỂM SÁNG TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ

TẾ TRI THỨC Ở VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ
QUỐC TẾ
3.1 NHỮNG THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN, CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC
ỂN KINH TẾ TRI THỨC Ở NƢỚC TA
TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ
3.1.1 Những thuận lợi trong phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam
Thứ nhất, Đánh giá Những thuận lợi về tự nhiên và lịch sử: Đây là những
yếu tố mà xét trên quan điểm hiện đạ ợc hưởng như là cái
có sẵn, được tự nhiên và lịch sử ban tặng.
Thứ hai, Các lợi thế hiện tại do quá trình phát triển hiện đại tạo ra, nó được
hiểu là sản phẩm trực tiếp của quá trình phát triển cận hiện đại.
3.1.2 Những khó khăn bất lợi trong quá trình xây dựng và phát triển kinh
tế tri thức ở ều kiện hội nhập quốc tế
Thứ nhất, xét tổng thể, so sánh với mặt bằng chung của khu vực, chúng ta
yếu kém của hạ tầng cơ sở, trình độ về kỹ thuật thông tin chưa cao, chất lượng
nguồn nhân lực, môi trường kinh doanh,…còn ở mức thấp.
-18-

Thứ hai, chúng ta tiếp cận và xây dựng nền kinh tế tri thức trong khung cảnh
toàn cầu hóa đặt ra sẽ phải đổi mặt với mặt bằng xuất phát không cao.
3.1.3 Những cơ hội để xây dựng và phát triển kinh tế tri thức ở
trong điều kiện hội nhập quốc tế
Thứ nhất, từ kinh tế công nghiệp chuyển lên nền kinh tế tri thức, là xu thế
phát triển tất yếu khách quan, xu thế ấy lôi cuốn tất cả các quốc gia.
Thứ hai, nền kinh tế tri thức hình thành và phát triển là nhờ năng lực sáng
tạo của con người. Tài nguyên là có hạn, năng lực sáng tạo của con người là vô
hạn; một khi nền kinh tế dựa chủ yếu vào năng lực trí tuệ của con người, thì khả
năng của nền kinh tế của các quốc gia là hết sức to lớn.
Thứ ba, tự do hoá thị trường đang tạo tiền đề thuận lợi cho kinh tế thế giới,
đặc biệt là thông tin, viễn thông…, từ đó hình thành một kết cấu hạ tầng toàn cầu

Thứ tư, kinh tế tri thức và công nghiệp hóa hiện đại hóa là hai mục
tiêu không tách rời trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
Thứ năm, (i) Mô hình học hỏi là vận dụng là phát triển vùng như Bangalore
của Ấn độ, chiến lược quốc gia như của Singgapore trên cơ sở kết hợp những
thuận lợi và đánh giá bất lợi từ chiến lược phát triển của các quốc gia đi trước.
(ii) Đường lố : Dịch vụ văn hóa, du lịch, các dịch vụ hạ tầng mềm như
tài chính, ngân hàng, viễn thông, bảo hiểm…; Công nghiệp - Công nghệ cao;
phát triển ; Gắn với trục cơ cấu kinh
tế trọng điể -Trung-Nam.
ỤC TIÊU TIẾP CẬN VÀ
KINH TẾ TRI THỨC GIAI ĐOẠ - ẦM NHÌN 2030
tiếp cận và phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam
Thứ nhất, đối với công nghiệp và dịch vụ, chúng ta phát triển theo hướng
tuần tự và nhẩy vọt.
Thứ hai, đối với cơ khí chế tạo, chúng ta ưu tiên sử dụng công nghệ vât liệu
mới, công nghệ kỹ thuật số, chế tạo máy công cụ điều khiển theo chương trình,
các dây chuyền thiết bị tự động.
Thứ ba, đối với những ngành dịch vụ như du lịch, thương mại, bưu chính
viễn thông, ngân hàng, tài chính,….
Thứ tư, đối với xây dựng và kết cấu hạ tầng, phải đảm bảo vận dụng tri thức,
công nghệ, phương pháp tổ chức quản lý mới nhất đáp ứng yêu cầu đòi hỏi kết
cấu hạ tầng cao, nhất là hạ tầng ICT.
Thứ năm, chuyển trọng tâm phát triển những lĩnh vực quan trọng sang chủ
yếu dựa vào tri thức.
3.3.2 Những mục tiêu chủ trên con đƣờng tiếp cận và phát triển kinh tế
tri thức Việt Nam đến 2020 và tầm nhìn 2030
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 nêu rõ, để phấn đấu đạt
được mục tiêu phát triển kinh tế giai đoạn 2010 - 2020, thì phải đẩy mạnh công
nghiệp hóa hiện đại hóa gắn liền với phát triển kinh tế tri thức. Vì vậy, phát triển
kinh tế tri thức như là một chiến lược tạo lập, rút ngắn công nghiệp hóa, hiện đại

phẩm của nền kinh tế tri thức trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
3.4.2 Nhóm giải pháp cho giáo dục và đào tạo
Thứ nhất, Đổi mới trong quản lý giáo dục phù hợp nhu cầu phát triển của
kinh tế tri thức.
Thứ hai, Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo cho phù hợp với
nhu cầu phát triển của kinh tế tri thức.
Thứ ba, Tái cấu trúc hệ thống giáo dục và mở rộng mạng lưới giáo dục phù
hợp với nhu cầu phát triển của kinh tế tri thức.
Thứ tư, Đổi mới chương trình và tài liệu đào tạo.
-21-

Thứ năm, Đổi mới phương pháp dạy, kiểm định và đánh giá chất lượng giáo
dục.
Thứ sáu, Xã hội hóa giáo dục, tận dụng mọi nguồn lực xã hội cho đào tạo
nguồn nhân lực phục vụ cho nhu cầu của nền kinh tế tri thức.
Thứ bẩy, Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền giáo dục tri
thức.
Thứ tám, Gắn đào tạo với nhu cầu xã hội, nhằm thực hiện có hiệu quả việc
cung cấp nhân lực trực tiếp cho các doanh nghiệp, tạo điều kiện để các doanh
nghiệp tham gia vào quá trình xây dựng và thực hiện chương trình đào tạo.
Thứ chín, Nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học công nghệ trong các cơ sở
đào tạo và nghiên cứu.
3.4.3 Xây dựng cơ sở hạ tầ

Để đạt được những mục tiêu xây dựng cơ sở và phát triển ICT nêu trên,
chúng ta cần thực hiện những nhóm giải pháp chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, chúng ta phải xây dựng một loạt các giải pháp nâng cao nhận thức
về vai trò, vị trí của ICT của toàn xã hội từ lãnh đạo cho đến người dân, trong
mọi ngành kinh tế quốc dân.
Thứ hai, không ngừng nâng cao năng lực phát triển và ứng dụng vể ICT.

Thứ tư, Ưu tiên phát triển những ngành khoa học công nghệ mũi nhọn mang
tính đột phá bên cạnh ICT đó là : Công nghệ sinh học : (1) Công nghệ sinh học
cho nông nghiệp (2) Công nghệ sinh học phục vụ cho sức khỏe cộng đồng (iii)
Công nghệ sinh học phục vụ công nghiệp, (iv) Công nghệ sinh học phục vụ xử
lý ô nhiễm môi trường. Công nghệ tự động hóa: tập trung ở những lĩnh vực
như điều khiển điện tử công suất, mô hình hóa và điểu khiển rô bốt công nghiệp,
điều khiển các hệ sinh học, giao diện người - máy, tự động hóa trong nông
nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, khai khoáng, chế tạo máy Công nghệ vật liệu
mới : như vật liệu polyme và composite ; vật liệu phục vụ công nghiệp, năng
lượng và xây dựng; vật liệu môi trường; vật liệu vô cơ, kim loại và hợp kim;
vật liệu nano và submicro; vật liệu mới cho công nghiệp dược. Công nghệ năng
lượng mới : Công nghệ nhiệt mặt trời tập trung (CST), Công nghệ thủy điện
Hydrokinetic Power (HP); Sản xuất nhiên liệu diezel sinh học từ tảo; Công nghệ
nhiên liệu hóa thạch sạch. Nghiên cứu và ứng dụng công nghệ vũ trụ :Xây
dựng hạ tầng ban đầu về công nghệ vệ tinh bao gồm: Trạm thu và Trung tâm xử
lý ảnh vệ tinh, hệ thống trạm định vị nhờ vệ tinh; phóng và đưa vào hoạt động.
Phát triển Cơ khí chính xác phục vụ các ngành kinh tế kỹ thuật mũi nhọn :
Các ngành công nghệ cao hầu hết đều phát triển và sử dụng những sản phẩm
của cơ khí chính xác như rô bốt, con quay hồi chuyển (phục vụ cho nhiều lĩnh
vực trong đó có an ninh quốc phòng)….
3.4.5 Tăng cƣờng khai thác tri thức của thế giới
Để tận dùng tối ưu cơ hội “đi xe miễn phí” đó thì chiến lược hướng tới kinh
tế tri thức của Việt Nam trong giai đoạn tới cần bao hàm một số nội dung sau :
Thứ nhất, cải thiện môi trường kinh doanh chung, tăng cường thu hút đầu tư
vào những lĩnh vực có triển vọng và có sức lan tỏa mạnh nhất. \
Thứ hai, năng động hơn và định hướng có chọn lọc hơn nữa, quản lý tri thức
theo hướng đổi mới hơn nữa trong quá trình tìm kiếm công nghệ thể hiện thông
qua việc chuyển giao công nghệ, lixăng, nhập khẩu các máy móc, thiết bị kỹ
thuật…
-23-

Luận án cũng đã phân tích thực trạng phát triển kinh tế Việt Nam dưới góc
nhìn của nền kinh tế tri thức trong những năm qua. Bên cạnh những thành tựu đạt
được như tốc độ tăng GDP nhanh, tỷ lệ năng suất tổng hợp TFP cống hiến trong
GDP ngày càng gia tăng, cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin – truyền thông ngày
càng phát triển…thì nền kinh tế Việt Nam vẫn còn bộc lộ nhiều khiếm khuyết
nếu nhìn dưới các tiêu chuẩn của nền kinh tế tri thức như: 1) Thiếu vắng một
chiến lược tổng thể về xây dựng và phát triển kinh tế tri thức tận dụng tối đa điều
kiện hội nhập quốc tế; 2) Các điều kiện vật chất - kỹ thuật để phát triển kinh tế tri
-24-

thức vẫn còn thiếu và yếu trên nhiều phương diện; 3) Trình độ phát triển kinh tế
thị trường còn thấp; 4) Tính sẵn sàng cho hội nhập và phát triển chưa cao…
Từ đó xác định phương hướng tiếp cận, mục tiêu và các nhóm giải pháp phát
triển kinh tế tri thức giai đoạn 2020 và tầm nhìn 2030.
*********************


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status