TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA NGỮ VĂN
===£otũlOS===
NGUYÊN HOÀI THƯƠNG
NGHI LẺ TANG MA CỦA NGƯỜI MƯỜNG Ở
MƯỜNG BI - HÒA BÌNH XƯA VÀ NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
••••
Chuyên ngành: Việt Nam học
Ngưòi hưóng dẫn khoa học TS. NGUYỄN
THỊ TÍNH
HÀ NỘI - 2015
LỜI CẢM ƠN
Đế hoàn thành đề tài khóa luận tốt nghiệp “Nghi lễ tang ma của người Mường ở Mường
Bi - Hòa Bình xưa và nay ” tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo đã tận tình hướng dẫn,
giảng dạy tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu và rèn luyện tại Trường Đại học Sư Phạm
Hà Nội 2
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới TS. Nguyễn Thị Tính là người đã hướng
dẫn, giúp đỡ và chỉ bảo tận tình trong suốt quá trình tôi thực hiện đề tài này.
Qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Sở Văn hóa Thể thao và Du Lịch tỉnh Hòa Bình
và ủy ban nhân dân huyện Tân Lạc và bà con dân tộc Mường tại Mường Bi, Tân Lạc đã giúp đỡ
nhiệt tình và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình tìm hiếu và hoàn thành khóa luận.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài khóa luận một cách hoàn chỉnh nhất,
nhưng trong đề tài vẫn có những thiếu sót nhất định mà bản thân chưa thấy được. Tôi rất mong
Trong đó, Mường Bi tương ứng với địa giới hành chính của huyện Tân Lạc bây
giờ. Mường Vang tương ứng với huyện Lạc Sơn. Mường Thàng thuộc về 2 huyện
Cao Phong và Kỳ Sơn. Còn Mường Động chính là huyện Kim Bôi ngày nay. Mỗi
xứ Mường đều có những đặc trưng riêng, góp phần làm nên sự phong phú trong
văn hóa của người Mường Hòa Bình.
Trong phong tục tập quán của người Mường, tang lễ là một sự kiện rất quan
trọng. Xuất phát từ niềm tin vào sự tồn tại của linh hồn vào một cuộc sống sau khi
chết, quan niệm về thế giới hữu hình và vô hình, người Mường tin rằng người chết
sẽ mang lời nguyện cầu của người sống đến với tố tiên và tố tiên sẽ thu giữ, chỉ lối
cho linh hồn người đã mất ở thế giới bên kia. Mối liên hệ vô hình này luôn giúp
người Mường nhớ về người đã mất và giáo dục con cái phải biết tôn trọng, giữ gìn
những truyền thống tốt đẹp tổ tiên để lại. Từ triết lí sống đó, dân tộc Mường có
những nghi thức tổ chức tang lễ rất đặc biệt. Điều này làm nên một dấu ấn riêng,
một bản sắc văn hóa độc đáo của dân tộc Mường.
Như vậy, việc tìm hiểu vốn văn hóa nói chung, tục tang ma nói riêng của
người Mường ở một địa phương cụ thể như Mường Bi (huyện Tân Lạc) tỉnh Hòa
Bình có thể góp phần giới thiệu về người Mường và tục tang ma của họ, đồng thời
bảo tồn và phát triển những nét bản sắc trong văn hóa của dân tộc này.
Mặt khác, là một người con của đất Hòa Bình, tôi luôn cảm thấy có trách
nhiệm với phong tục tập quán của quê hương và dân tộc mình, với mong muốn
làm sáng tỏ thêm những đặc trưng truyền thống và một số nét thay đổi hiện nay
trong phong tục tang ma của người Mường ở quê hương và góp phần nhỏ bé vào
việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của đồng bào
Mường ở Mường Bi, tỉnh Hòa Bình.
Từ thực tế trên, đề tài “Nghi lễ tang ma của người Mường ở Mường Bi - Hòa
Bình xưa và nay” đã được chọn làm hướng nghiên cứu trong khóa luận này.
2. Lịch sử nghiên cún vấn đề
Từ trước đến nay văn hóa Mường vốn là một đề tài hấp dẫn đối với các nhà
trưng truyền thống và một số nét thay đối trong tang ma người Mường nói chung
và của người Mường ở Mường Bi, tỉnh Hòa Bình nói riêng.
3. Mục đích nghiên cún
Khóa luận này có mục đích tìm hiểu những đặc trưng truyền thống trong nghi
lễ tang ma của người Mường tại Mường Bi, tỉnh Hòa Bình từ đó làm rõ một số nét
thay đổi trong phong tục tang ma hiện nay của người Mường ở nơi đây. Qua đó có
thể tìm ra những giải pháp bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của người
Mường hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cún
♦ Đối tượng nghiên cứu
Khóa luận đi sâu nghiên cứu nghi lễ tang ma của người Mường tại Mường
Bi, tỉnh Hòa Bình. Nhằm tìm hiểu những nét đặc trưng truyền thống trong nghi lễ
tang ma của người Mường đồng thời làm rõ những biến đổi trong nghi lễ tang ma
của người Mường ở huyện Tân Lạc tỉnh Hòa Bình.
♦ Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận tiến hành các nội dung nghiên cứu ở Mường Bi, huyện Tân Lạc,
tỉnh Hòa bình nơi tập trung đông đảo người Mường sinh sống và có phong tục tập
quán lâu đời.
5. Phương pháp nghiên cún
Trong quá trình hoàn thành khóa luận các phương pháp nghiên cứu được sử
dụng là: -Phương pháp điền dã dân tộc học gồm: ghi chép, quan sát, vẽ hình, chụp
hình, ghi âm, phỏng vấn về tang lễ...
- Phương pháp miêu tả: dùngđể phân tích các sự kiện quan sát thấy trong tục tang
ma và khái quát thành những nét đặc sắc tiêu biếu trong tang lễ người Mường.
- Phương pháp phân tích tài liệu: là phương pháp thu thập thông tin thông qua các
tài liệu có sẵn như: sách, báo cáo của huyện theo từng giai đoạn. Thông qua việc
tổng hợp và phân tích những tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu đã giúp cho
tác giả có được những số liệu cần thiết để hoàn thành khóa luận này.
Lạc là một huyện miền núi nằm ở phía tây nam tỉnh Hòa Bình, vị trí địa lý thuộc
21°27’ - 20°35’ vĩ độ Bắc và 105°6’ - 105°23’ kinh độ Đông, phía đông giáp với
huyện Cao Phong, phía tây giáp với huyện Mai Châu, phía bắc giáp với huyện Đà
Bắc, phía nam và tây nam giáp với huyện Lạc Sơn và tỉnh Thanh Hóa. Tống diện
tích tự nhiên của huyện là 523Km2 (chiếm khoảng 11,2% tổng diện tích toàn
tỉnh), gồm 1 thị trấn và 23 xã.
Tân Lạc là huyện có vị trí địa lý đặc biệt thuận lợi: có quốc lộ 6 nối liền thủ
đô Hà Nội và Tây bắc, đường 12B từ Mường Khen chạy theo tuyến đi Nho Quan
(Ninh Bình), nối với đường Hồ Chí Minh. Đó là những con đường huyết mạch nối
thủ đô Hà Nội, các tỉnh đồng bằng Bắc bộ, khu IV (cũ) với vùng Tây bắc.
1.1.2.
Địa hình
Địa hình Tân Lạc khá đa dạng, độ cao trung bình so với mặt nước biển từ
200-300m, nơi cao nhất là 1200m. Địa hình thấp dần về phía đông nam và chia
làm ba vùng rõ rệt:
Vùng cao gồm 5 xã: Quyết Chiến, Ngổ Luông, Nam Sơn, Bắc Sơn và Lũng
Vân. Độ cao trung bình của vùng dao động trong khoảng 600 - 800m. Địa hình
vùng này có nhiều núi độ dốc lớn và các thung lũng hẹp.
Vùng giữa gồm 4 xã: Ngòi Hoa, Phú Cường, Phú Vinh, Trung Hoà, với địa
hình có nhiều đồi, núi xen kẽ các khe suối và bãi bằng.
Vùng thấp gồm 14 xã còn lại và thị trấn Mường Khến, có độ cao trung bình
khoảng 150 - 200m, có địa hình chủ yếu là đồng bằng xen với đồi thấp, là vựa lúa
chính của Tân Lạc.
Là một huyện miền núi nên Tân Lạc có địa hình phức tạp: dãy Trường Sơn
chạy theo chiều dài của huyện, đất đai bị chia cắt bởi hệ thống suối, đồi núi và có
1.1.5.
Tài nguyên
• Tài nguyên nước
Tân Lạc không có hệ thống các sông lớn chảy quanh nhưng có nhiều suối lớn
nhỏ và hồ chứa. Nguồn nước mặt của Tân Lạc được hình thành bởi ba hệ
thống suối:
Suối Chù, bắt nguồn từ vùng núi thuộc các xã Phú Vinh và Trung Hòa chảy
qua các xã Mỵ Hòa, Quy Hậu về phía đông nam với diện tích lưu vực là 350 km2.
Suối Cái bắt nguồn từ vùng núi xã phú cường chạy dọc theo thung lũng
Mường Bi qua các xã Phong Phú, Do Nhân, Lỗ Sơn theo hướng đông nam với
diện tích lun vực là 230km2.
Suối Hoa bắt nguồn từ vùng núi xã Thung Nai, chảy qua các xã Ngòi Hoa rồi
đố vào Sông Đà với diện tích lưu vực 230km2. Đây là nguồn cung cấp nước phục
vụ đắc lực cho sản xuất nông nghiệp.
Nguồn nước ngầm ở Tân Lạc cũng tương đối dồi dào có thể khai thác để
phục vụ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân.
• Tài nguyên rừng
Rừng tự nhiên ở Tân Lạc có tổng diện tích 2.317.476 ha, chiếm 82.92% diện
tích ròng trong tỉnh, rừng trồng có 477.273 ha, chiếm khoảng 17,8%. Trong thảm
rừng ở Tân Lạc có nhiều loại gỗ quý (Lim, sến, táu, lát, nghiến,...) tre, nứa, bương,
vầu và các loại cây đặc sản có giá trị (sa nhân, mây song, cánh kiến...). Dưới tán
rừng là hệ thống động thực vật với nhiều loại động vật quý hiếm (khỉ, lợn, hố,
hươu, nai...). Đặc biệt xã Phú Vinh có những hang dơi lớn, hàng năm cung cấp
một lượng phân bón lớn và thực phẩm quý cho nhân dân quanh vùng.
• Tài nguyên khoáng sản
Tài nguyên khoáng sản ở Tân Lạc chủ yếu là đá vôi với một số loại khoáng
Ngày 2/1/1955, ủy ban hành chính liên khu III quyết định chia xã Thạch Bi
thành 9 xã: Địch Giáo, Quy Mỹ, Do nhân, Tuân Lộ, Phong Phú, Phú Vinh, Phú
Cường, Mỹ Hòa và Quyết Chiến. Tiếp theo, ngày 15/9/1956, xã Quyết Chiến
được chia làm 6 xã: Ngổ Luông, Lỗ Sơn, Gia Mô, Trí Đạo, xã Kiến Thiết được
chia thành 5 xã: Phú Tuy, Chí Thiện, Ngọc Mỹ, Văn Sơn và Thượng Cốc.
Ngày 22/1/1957, xã Đoàn Kết được chia thành 5 xã: Đong lai, Thanh Hối,
Mãn Đúc, Tủ Lê, Quy Hậu. Xã Mỹ Hòa được chia thành 3 xã: Mỹ Hòa, Ngòi Hoa
và Trung Hòa.
Xuất phát từ yêu cầu đẩy mạnh kinh tế miền núi, ngày 15/10/1957, Thủ
tướng chính phủ đã quyết định chia huyện Lạc Sơn thành hai huyện: Lạc Sơn và
Tân Lạc. Lúc mới thành lập, huyện Tân Lạc có 22 xã, riêng xã Ngòi Hoa của
huyện Đà Bắc đến ngày 28/2/1985 mới được cắt sang huyện Tân Lạc. Đen ngày
19/3/1988, Hội đồng bộ trưởng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quyết
định thành lập thị trấn Mường Khến. Thị trấn Mường Khến được thành lập từ các
xóm Chiềng và Minh Khai của xã Mãn Đúc, xóm Tân Hồng của xã Quy Hậu. Như
vậy, kể từ đó đến nay, địa giới hành chính của huyện Tân Lạc được ốn định với 24
đơn vị hành chính cấp xã.
Theo thống kê năm 2007, dân số của huyện Tân Lạc là 78.900 người. Mật độ
dân số bình quân đạt 151 người/km2. Dân số thành thị chiếm 5,6%, dân số nông
thôn chiếm 94,4%.
Trước cách mạng tháng 8/1945, chủ yếu ở Tân Lạc là người Mường Bi, sau
đó có thêm đồng bào dân tộc kinh lên xây dựng kinh tế mới. Hiện nay, người kinh
chiếm khoảng 16% ngoài ra còn có một số dân tộc khác như: Thái, Tày, Dao,
Mông chiếm khoảng 0,5%, nhiều nhất là người Mường vẫn chiếm đa số với
83,5%.
Với địa hình, khí hậu, dân số và kết cấu dân cư như vậy đã tạo nên sự phong
phú, đa dạng của tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái và văn hóa nơi đây
và ảnh hưởng lớn đến đời sống cư dân Mường Bi.
trắng (về sau có thêm các màu không phải loại vải cổ truyền). Bên trong là loại Áo
báng (yếm), cùng với đầu váy nổi lên giữa hai vạt áo ngắn. Đầu thường đội khăn
trắng, xanh với các phong cách không cầu kỳ như một sốtộc người khác.
Váy là loại váy kín màu đen, toàn bộ phận được trang trí là đầu váy và cạp váy,
khi mặc mảng hoa văn nổi lên giữa trung tâm cơ thể.
Đây là một cách trang trí và thể hiện ít gặp ở các tộc khác trong nhóm ngôn
ngữ và khu vực láng giềng. Trong các dịp lễ, tết họ mang chiếc áo dài xẻ ngực
thường không cài khoác ngoài bộ trang phục thường nhật vừa mang tính trang
trọng vừa phô được hoa văn cạp váy kín đáo bên trong. Nhóm mặc áo cánh ngắn
xẻ ngực thường mang theo chiếc yếm bên trong, về cơ bản giống yếm của phụ nữ
dân tộc Kinh nhưng ngắn hơn.
Tỗ chức cộng đồng
Xưa kia, hình thái tổ chức xã hội đặc thù của người Mường là chế độ lang
đạo, các dòng họ lang đạo (Đinh, Quách, Bạch, Hoàng) chia nhau cai quản các
vùng. Đứng đầu mỗi mường có các lang cun, dưới lang cun có các lang xóm hoặc
đạo xóm, cai quản một xóm.
Tín ngưỡng
Người Mường Bi ở Tân Lạc thờ đa thần (tổ tiên, thành hoàng, thần đất, thần
núi,...). Cũng như một số tộc người thiểu số khác ở Việt Nam, người Mường ở Tân
Lạc cho rằng muôn vật trên thế gian này đều có linh hồn cả. Phật giáo và các tôn
giáo khác ảnh hưởng đến nơi đây là không đáng kể. Chính vì có quan niệm tín
ngưỡng như trên mà họ cầu cúng tất cả các loại thần thánh, ma quỷ một khi cảm
thấy cần thiết. Họ cho rằng, con người chết đi cũng biến thành ma và ma tổ tiên sẽ
phù hộ được con cháu. Vì thế thờ cúng tổ tiên có tầm quan trọng số 1 trong đời
sống tâm linh của họ, nó phản ánh ý thức sâu sắc về cội nguồn, về tình cảm ruột
già máu mủ và trở thành đạo lý uống nước nhớ nguồn.
Ngoài việc thờ cúng tổ tiên họ còn thờ thần bản mệnh, thổ công, thờ các
nhân vật huyền thoại, người anh hùng, thờ động vật, cây cỏ...
thịt trâu, thịt lợn.. .và các loại măng, mộc nhĩ, nấm...
Phương pháp cất trữ khá nổi tiếng của họ là muối chua các loại thịt cá, tiết
trâu, tiết bò, măng, rau cải (muối dưa), làm mắm tôm, tép...
Rượu cần người Mường nối tiếng bởi cách chế biến và hương vị đậm đà của
men được đem ra mời khách quý và uống trong các cuộc vui tập thể.
Phụ nữ cũng như nam giới thích hút thuốc lào bằng loại
ống điếu to. Đặc biệt phụ nữ còn có phong tục nhiều người
cùng chuyền nhau hút chung một điếu thuốc.
Tiểu kết chương 1
Với nhũng đặc điểm tự nhiên - văn hóa - xã hội kể trên, Mường Bi (Tân Lạc)
gặp không ít khó khăn trong việc phát triển kinh tế xã hội. Xong chính những điều
kiện đó cũng mang lại cho Mường Bi một môi trường thuận lọi cho việc giữ gìn,
bảo tồn các yếu tố quý giá của văn hóa truyền thống.
Có thể nói nền văn hóa của người Mường ở Mường Bi - Hòa Bình mang đậm
sắc thái văn hóa dân gian, góp phần làm phong phú thêm bản sắc văn hóa Việt
Nam. Tuy có nhiều yếu tố chung về nếp sống, văn hóa xã hội, văn hóa tinh thần
với người Mường ở các vùng khác như: Kim Bôi, Lạc Sơn (Hòa Bình) ; Phú Thọ,
Thanh Hóa...Song nền văn hóa của người Mường Bi ở Tân Lạc, Hòa Bình vẫn có
những đặc điểm riêng biệt.
Trải qua thời gian dài với bao tác động của lịch sử, Mường Bi vẫn giữ được
cho mình những giá trị văn hóa truyền thống, những phong tục tập quán, sinh hoạt
văn hóa đặc sắc. Trong đó nghi thức ma chay là một trong những nghi thức tôn
giáo “đậm đặc” của người Mường Bi, đã thể hiện được những tập tục cổ truyền,
những quan niệm về vũ trụ, thế giới nhân sinh quan dân tộc.
CHƯƠNG 2
NHŨNG NGHI LỄ TRUYỀN THỐNG TRONG TANG MA CỦA NGƯỜI
MƯỜNG Ở MƯỜNG BI - HÒA BÌNH
2.1.
hồn sẽ đi đến một thế giới khác. Cái thế giới khác này là nơi mà chúng ta đang
bàn đến, đó chính là vũ trụ quan của các tộc người và ở đây chính là âm giới. Như
vậy, âm giới bao gồm cả những nơi tốt đẹp hoặc không tốt đẹp, hoặc một thế giới
nào đó mà các linh hồn sẽ trú ngụ sau khi rời thể xác.
Quan niệm vũ trụ của người Mường được chia thành ba tầng, bốn thế giới.
Tầng cao nhất là thế giới của Mường Tròi (Mường K,lơi) là nơi trú ngụ của Vua
trời và các phò tá của Vua Trời. Tầng ở giữa là Mường Pưa (Mương Pưa), là thế
giới của người sống, tập họp lại thành các gia đình, thành xóm và thành mường.
Tầng thứ ba có hai thế giới là Mường Pưa Tín (Mương Pưa Tín) ở dưới mặt đất và
mường Vua Khú ( Mương Bua Khú) ở đáy nước. Thế giới bên dưới mặt đất không
phải là âm ty, không phải là thế giới siêu nhiên của tinh linh, mà là thế giới của
những người tí hon, gia xúc cũng tí hon, có lối thông lên thế giới của người trên
mặt đất. Hệ thống vũ trụ “ba tầng - bốn thế giới” của người Mường lấy Mường
Pưa, thế giới của người sống làm trung tâm, mọi đường đi đều xuất phát từ đây,
mọi thế giới đều quy tụ về đây. Tuy nhiên ở trong không gian hữu hạn, mỗi thế
giới lại có một bản chất riêng, do đó sự thông thương giữa các thế giới bị hạn chế.
Mường Pưa là thế giới tự nhiên, là “cõi sống” của người Mường. Mường Pưa Tín,
vốn thông thương với Mường Pưa, cũng là thế giới tự nhiên nhưng thấp kém hơn.
Mường Trời là thế giới siêu nhiên hoàn chỉnh nhất, thời gian ở đây vô tận. Mường
Vua Khú là một thứ thế giới siêu nhiên.
Người Mường cho rằng khi sống thì họ ở Mường Trần gian, lao động sản
xuất đế có cái ăn và làm đẹp bản mường, đến khi mất là họ trở về với thế giới của
ông bà, tiếp tục cuộc sống ở thế giới Mường Ma, cũng có cửa có nhà, cũng chăm
lợn gà và các công việc vốn quen làm như thuở trước sống ở Mường Trần gian.
Khi còn sống ở “mường người” đạo lý là hành động cư xử tốt đẹp, là sự chăm sóc
tận tình với nhau. Đen khi chết, đạo lý ấy biến thành trách nhiệm và bổn phận của
người sống đối với người chết “nghĩa tử là nghĩa tận” , là sự đưa tiễn người đến
“Mường Ma” một cách long trọng và đủ đầy. Không có chữ viết, nên “tang ca” là
người có hồn có vía, khi còn sống vía luôn cần xác trong con người và gắn với thế
xác. Khi chết, vía sẽ rời bỏ xác và ra đi vĩnh viễn. Trong một thời gian nhất định
biến thành ma, lang thang. Thời kì đó tương đương với giai đoạn để tang (một
năm). Sau thời gian để tang hồn người chết được nhập vào với thế giới bên kia,
nơi có cộng đồng tổ tiên sinh sống và trở thành tổ tiên của gia đình con cháu.
Với người Mường, chết không phải là hành vi vĩnh viễn chấm dứt sự tồn tại
của các linh hồn. Ngược lại cái chết được hiểu như là sự tiếp tục cuộc sống linh
hồn, như trong một thế giới khác với đầy đủ những đòi hỏi về vật chất cũng như
người sống. Vì vậy tang ma của người Mường ở Mường Bi có rất nhiều nghi thức,
lễ nghi nhằm đế chuấn bị cho người chết sống ở thế giới mới. Điều này thế hiện rõ
trong các bài mo.
Trong khi đó, ở thế giới người sống người ta lại cho rằng họ có bốn phận
cung phụng cho những nhu cầu riêng của người chết bằng những lễ tục, đồ cúng
thì người chết sẽ được vui sướng.
Chính vì vậy, trong thế giới người sống, người taphải liên kết tổ tiên với
những hành vi của con cháu mình, người ta phải cúng lễ cho tổ tiên những hạt
cơm đầu mùa gặt hái, người ta hỏi ý kiến của tổ tiên trong nhiều trường hợp và
báo cáo cho tổ tiên biết những sựkiện xảy ra trong gia đình. Khi có điều tai họa
xảy ra trong gia đình, người ta phải cầu khấn tổ tiên che chở hoặc cầu khấn tổ tiên
đừng nối giận nữa. Như vậy mặc dầu có sựtách biệt thế giới người sống và thế
giới người chết, song cuộc sống của những người còn lại vẫn nhuộm ánh phản
chiếu buồn thảm của một cuộc sốngđang tiếp diễn, giống như hệt và song song ở
bên kia thế giới...
Tóm lại, quan niệm về sống, chết của người Mường khá phức tạp. Họ cho
rằng, con người khi chết đi sẽ đi vào thế giới của mình, đó là thế giới người chết,
thế giới đó tách rời với thế giới người sống. Nhưng họ cũng thừa nhận rằng giữa
hai thế giới ấy lại có mối liên hệ kì lạ, huyền bí không sao phá nổi. Họ cũng cho
rằng ma không hẳn là lực lượng xấu xa, độc hại, kẻ phá hoại, mà nhiều khi trở
quan tài. Người ta buộc hai ngón tay cái lại với nhau, tay được đặt trước ngực, hai
chân duỗi thắng, hai ngón chân cái cũng được buộc lại với nhau.
Xong những việc ấy đưa thi hài đặt lên giường đắp cho một tấm chăn đơn có
dải vải đỏ ở giữa, một chiếc chăn bônghoặc nhiều hơn nữa. Hai bên người chết
còn trải tấm lụa tơ tằm dài từ đầu đến chân, mặt của người chết được cuốn vải và
che lại bằng khăn tránh việc mắt người chết có thể mở ra. Còn hàm người chết
được quấn vải kéo lên giữ không cho hàm người chết mở ra, người Mường
Bi ở Tân Lạc gọi là “Tóng cáng” - kéo hàm. Trước khi kéo hàm người ta bỏ vào
hàm người chết vài hạt gạo, 7 hạt đối với nam và 9 hạt đối với nữ.
Đồng thời lúc này ông Trượng (thầy cúng) làm một lễ tống trùng. Người
Mường quan niệm rằng, hồn phải ra đi là do có ma ác làm hại. Vì vậy trước khi
nhập quan phải đuối hết ma ác.
2.2.2.
Nghỉ lễ nhập quan
Đầu tiên thầy mo sẽ thực hiện nghi lễ chia vải vóc. Những thành viên trong
gia đình sẽ dựng cọc, mắc màn, lấy vải trắng quây xung quanh, lấy chăn quây che
phần trên cùng. Người chết sẽ được khâm liệm, mặc quần áo mới, quấn vải trắng
quanh áo quan, trong cùng là vải của con út, ngoài cùng là vải của con trưởng.
Mặt trên của áo quan được treo vải trắng. Phía trên quan tài buộc một cái sào để
treo quần áo của con cái. Phía ngoài sân cũng được treo vải trắng, người quá cố có
bao nhiêu người con trai thì treo bằng ấy mảnh.
Người quá cố được đặt ở gian giữa của ngôi nhà. Các con cháu vào, đứng lại
gần. Một người nói: “Nay được giờ lành, chúng con xin rước nhập quan”. Con trai
bên trái, con gái bên phải đứng quây quần xung quanh.
Chiếc quan tài của người Mường ở Mường Bi (Tân Lạc) được làm bằng cây
gỗ khoét rỗng thành hình chiếc thuyền. Người chết sẽ được chôn cùng đồ tùy táng
đầu
nhận lấy hồn này và từ đây hãy tiếp tục giúp hồn ở thế giới mường ma”.
Sau khi có động tác “băm” của con trưởng, mọi người mới bắt đầu được
khóc. Khóc và khống. Khống là nói lên lời thương, lời nhớ, lời vĩnh biệt...
Lúc này người ta đánh:
Ba hồi cồng dài không có tiếng láy lại
Ba hồi chiêng dài không có tiếng láy
lại Ba hồi trống dài không có tiếng láy
lại (Neu người chết là đàn ông, bắn ba
phát súng)
2.2.4.
Quạt ma
Khi ông Trượng xướng roóng khấu đầu, các nàng dâu trong nhà làm lễ Quạt
ma. Te quạt ma là một nghi lễ độc đáo trong đám ma người Mường. Khi tế quạt
ma, những người là dâu trong nhà trong họ của người quá cố phải mặc bộ đồ quạt
ma rất đẹp, gồm: váy đen, cạp mới, áo ngắn, áo chùng trắng, yếm đỏ, hai tay đeo
vòng hạt cườm, tay phải cầm quạt cọ múa, tay trái cầm que gậy, đầu đội mũ quạt
trang trí tua hạt cườm. Phía trước đặt một chiếc ghế mây.
Quạt ma là một điệu múa khoan thai, nhẹ nhàng, tỏ tình thân quý, trìu mến,
xót thương người ra đi. Dâu cả múa trước, các con dâu lần lượt múa theo.
Mục đích của nghi lễ quạt ma này nhằm tỏ lòng thương tiếc và yêu quý
người đã chết, dâu hiền quạt mát cho linh hồn người chết thanh thản. Động tác
múa trong nghi lễ quạt ma thường rất đơn giản, người múa quay mặt về phía thầy
mo, một tay cầm quạt che trước ngực, một tay cầm gậy chống xuống đất múa theo
nhịp chiêng của thầy mo. Động tác từ người dâu cả đến người dâu cuối cùng theo
đối với các thầy Mo khi hành nghề.
Đẻ có thể “bắt linh hồn” nghe theo, thì thầy Mo phải thực hiện nghi lễ Đạp
ma (hay còn gọi là lễ Giậm nước). Nghi lễ Đạp ma được thực hiện như sau:
Thầy mo đến cạnh xác người quá cố, tay phải vác gươm trên vai, tay trái
dùng quạt phe phay trên bụng mình, tư thế đứng bình thường, chân phải đeo chiếc
vòng chuôi dao. Sau khi chấm dứt đoạn mo trên thì thầy mo hú lên một tiếng, gọi
tên người chết một lần rồi co chân phải giậm mạnh xuống sàn nhà. Sau đó, thầy
mo dùng chân làm tâm để xoay một góc 700. Như vậy linh hồn sẽ nghe theo thầy
mo để thụ lễ.
Đêm Mo thứ hai
Chỉ có một roóng mo dài: Đẻ đất, Đẻ nước, Con chu, Kéo lội, Đoọc moong
(sinh ra đất, sinh ra nước, chặt cây chu, kéo cây lội, săn muông thú). Một roóng
gồm ba tích truyện khác nhau. Tang ma có thể chấm dứt với tích thứ nhất khi thần
thoại đã cạn vì con người đã thắng trong đấu tranh với thiên nhiên. Nhưng có lẽ
người Mường lại nhìn với đôi mắt có phần khác, vì đối với họ thần thoại mới là
bước đầu trước khi lịch sử hiện ra. Lúc này con người phải chiến đấu với các lực
lượng siêu nhiên nhưng dưới dạng bình thường trong thế giới trần gian. Và thế là
Đẻ đất, Đẻ nước được tiếp nối bằng hai tích khác, nhưng lần này không còn mang
chất thần thoại: “ cồn chu kéo lội, Đoọc moong” .
Đêm Mo thứ ba
Cũng chỉ một roóng mo dài: Nhòm họ, nhòm Mường, nghé nhàn, nghé dậu.
Roóng này gồm hai chuyến đi. Chuyến đi thứ nhất “qua Mường Ma” và “trên
đường về”. Chuyến đi thứ hai: để cho người chết tạm biệt làng và Mường của
mình.
Từ đêm Mo thứ tư đến đêm Mo thứ tám
Đưa người chết đi kiện vua trời, xuống âm phủ đối kiện, thắng kiện trở về
Truyền thuyết người Mường kể rằng, con người khi sống đã làm cho muôn
loài bất bình đã lên tận trời để kiện nên khi chết con người phải đi hầu kiện.
Bi quan niệm cửa chính chỉ để cho người còn sống đi.
Người ta đưa tang ra nhà trạm để đặt lên đòn táng. Đòn táng để sẵn trên một
bệ gỗ ở đây ông mo làm lễ đưa tang. Thực ra không có một quy định cụ thể nào về
việc đưa ma, qua quan sát thấy các đám đưa ma của người Mường trình tự đi như
sau :
-
Phường trống - kèn đi trước.
-
Thầy Mo đầu đội mũ Bông Múc - Bông Bạo, tay cầm quạt, tay cầm khénh, có nơi
thầy vác gươm.
-
Trưởng họ đi trước nhà ram ( đòn để khênh đặt quan tài) để chỉ huy đoàn khênh.
-
Đoàn khênh nhà ram.
Tiếp đến đoàn con cháu đi đưa tiễn, trong hàng ngũ con dâu, con dâu trưởng
đi trước vai quải cặp quần áo, sau nữa là đoàn người rồng rắn đi theo. Trên đường
đi, các nhà hai bên đường đều đốt lên một đống lửa nhỏ, người Mường gọi đó là
đốt lửa cho ma. Dân gian Mường vẫn lan truyền câu chuyện nếu nhà ai không đốt
lửa, hàng đêm ma (người chết) sẽ vào nhà xin lửa, vì sang bên mường ma tối tăm
nên hồn người chết rất cần lửa để xua đi đêm tối.
Đoàn ma đưa đi chậm rãi, thong thả, vừa đi phường trống - kèn, trống cái,