TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
NGUYỄN THỊ HÒA
NGHI LỄ TANG MA
CỦA NGƢỜI CAO LAN Ở THÔN
ĐỒNG GĂNG, XÃ QUANG YÊN,
HUYỆN SÔNG LÔ, TỈNH VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Việt Nam học Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
ThS. NGUYỄN THỊ TÍNH HÀ NỘI – 2014
Khãa luËn tèt nghiÖp Tr-êng §HSP Hµ Néi 2
NguyÔn ThÞ Hßa Líp K36E - ViÖt Nam häc
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “Nghi lễ tang ma của ngƣời Cao Lan ở thôn
Đồng Găng, xã Quang Yên, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc” là công trình
nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ từ Giáo viên hướng dẫn ThS. Nguyễn Thị
Tính. Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực, chưa
được ai công bố trên bất cứ công trình nghiên cứu nào trước đây.
Nếu phát hiện bất kỳ sự gian lận nào tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
trước Hội đồng, cũng như kết quả luận văn của mình.
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Thị Hòa Khãa luËn tèt nghiÖp Tr-êng §HSP Hµ Néi 2
1.4.3. Tín ngưỡng tôn giáo và lễ hội truyền thống 14
Khãa luËn tèt nghiÖp Tr-êng §HSP Hµ Néi 2
NguyÔn ThÞ Hßa Líp K36E - ViÖt Nam häc
CHƢƠNG 2. PHONG TỤC TANG MA CỦA NGƢỜI CAO LAN,
THÔN ĐỒNG GĂNG, XÃ QUANG YÊN, HUYỆN SÔNG LÔ,
TỈNH VĨNH PHÚC 15
2.1. Quan niệm về cái chết của người Cao Lan 15
2.2. Các nghi lễ trong đám tang của người Cao Lan 18
2.2.1. Trước tang lễ 18
2.2.2. Trong tang lễ 20
2.2.3 Sau tang lễ 38
2.3. Các kiêng kị trong tang ma 38
CHƢƠNG 3. NHỮNG VẺ ĐẸP TRONG VĂN HÓA, HỦ TỤC VÀ MỘT
SỐ NGHI LỄ BIẾN ĐỔI TRONG TANG MA HIỆN NAY 40
3.1. Những vẻ đẹp trong văn hóa cần bảo tồn 40
3.2. Những hủ tục cần loại trừ 41
3.3. Một số biến đổi trong nghi lễ tang ma hiện nay 42
KẾT LUẬN 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Khãa luËn tèt nghiÖp Tr-êng §HSP Hµ Néi 2
Khãa luËn tèt nghiÖp Tr-êng §HSP Hµ Néi 2
NguyÔn ThÞ Hßa 2 Líp K36E - ViÖt Nam häc
bàn cư dân, vào mọi sinh hoạt và quan hệ con người,tạo ra trên đất nước ta
đời sống tinh thần cao đẹp” (Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII). Đặc biệt
trong giai đọan hiện nay đất nước ta đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa -
hiện đại hóa đất nước, “Dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà mang bản
sắc văn hóa dân tộc” theo định hướng của Đảng. Việc tìm hiểu và đánh giá
đặc trưng văn hóa của dân tộc Cao Lan là một việc hết sức quan trọng.
Tang ma của người Cao Lan ở thôn Đồng Găng, xã Quang Yên, tỉnh
Vĩnh Phúc cho đến nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên
sâu về những nghi lễ trong đám tang, những biến đổi trong tang lễ hiện nay
của người Cao Lan ở vùng này. Chính vì những lí do trên tôi chọn vấn đề
“Nghi lễ tang ma của ngƣời Cao Lan ở thôn Đồng Găng, xã Quang Yên,
huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.
Mục đích nhằm góp phần giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa của người Cao
Lan ở Vĩnh Phúc nói riêng và của cả dân tộc Cao Lan nói chung.
2. Lịch sử vấn đề
Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 5 khoá VIII về xây dựng, phát
triển nền văn hoá Việt Nam đã nêu: “Di sản văn hoá là tài sản vô giá gắn kết
cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc văn hoá dân tộc, cơ sở để sáng tạo
những giá trị mới và giao lưu văn hoá. Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa
phát huy những giá trị văn hoá truyền thống (bác học và dân gian), văn hoá
cách mạng, bao gồm cả văn hoá vật thể và phi vật thể”. Đã có nhiều công
trình khoa học nghiên cứu về văn hóa các dân tộc thiểu số nói chung và văn
hóa dân tộc Cao Lan nói riêng, phải kể đến như:
- Viện Dân Tộc Học (1978), Các dân tộc ít người ở Việt Nam (Các tỉnh phía
Bắc), Nxb Khoa học xã hội Hà Nội. Trong công trình nghiên cứu này viện
Dân tộc học đã đề cập đến các dân tộc ít người ở tỉnh phía Bắc về văn hóa vật
Bắc Giang. Nhưng chưa có một nghiên cứu chuyên sâu nào viết về nghi lễ
tang ma của người Cao Lan ở thôn Đồng Găng, xã Quang Yên, tỉnh Vĩnh
Phúc một cách chi tiết cụ thể.
Những nghiên cứu trên đã là nguồn tư liệu quý báu để tôi tham khảo và
định hướng xây dựng khóa luận tốt nghiệp của mình.
Khãa luËn tèt nghiÖp Tr-êng §HSP Hµ Néi 2
NguyÔn ThÞ Hßa 4 Líp K36E - ViÖt Nam häc
3. Mục đích nghiên cứu
- Đi sâu tìm hiểu các nghi lễ tang ma truyền thống, từ đó làm rõ những
giá trị văn hóa trong tang ma để nhằm giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa
truyền thống của tộc người Cao Lan ở thôn Đồng Găng, xã Quang Yên, tỉnh
Vĩnh Phúc.
- Tìm hiểu văn hóa dân tộc Cao Lan nói chung và phong tục tang ma
của người Cao Lan ở thôn Đồng Găng, xã Quang Yên, huyện Sông Lô, tỉnh
Vĩnh Phúc.
- Cung cấp cho bạn đọc những hiểu biết cụ thể, chi tiết về phong tục
tang ma của người Cao Lan.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu, khai thác, đi sâu nghiên cứu về nghi lễ tang ma của đồng
bào dân tộc người Cao Lan.
- Làm sáng tỏ những vẻ đẹp trong văn hóa cũng như những hủ tục
trong đám tang của người Cao Lan.
5. Đối tƣợng nghiên cứu
Với mục đích nghiên cứu trên, đối tượng nghiên cứu chính của khóa
luận là tang ma của người Cao Lan và những vẻ đẹp cũng như hủ tục trong
đám tang của người Cao Lan tại thôn Đồng Găng, xã Quang Yên, huyện Sông
Lô, tỉnh Vĩnh Phúc.
6. Phạm vi nghiên cứu
luận được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về người Cao Lan thôn Đồng Găng, xã Quang
Yên, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc
Chương 2: Phong tục tang ma của người Cao Lan thôn Đồng Găng, xã
Quang Yên, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc
Chương 3: Những vẻ đẹp trong văn hóa, hủ tục và một số nghi lễ biến
đổi trong tang ma hiện nay
Khãa luËn tèt nghiÖp Tr-êng §HSP Hµ Néi 2
NguyÔn ThÞ Hßa 6 Líp K36E - ViÖt Nam häc
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ NGƢỜI CAO LAN THÔN ĐỒNG GĂNG, XÃ
QUANG YÊN, HUYỆN SÔNG LÔ, TỈNH VĨNH PHÚC
1.1. Thành phần dân cƣ
Dân cư Đồng Găng được chia làm 3 nhóm dân cư chính: dân tộc Kinh
chiếm khoảng 30%, dân tộc Cao Lan chiếm khoảng 69%, còn các dân tộc
khác chiếm 1% (chủ yếu là các nàng dâu ở các dân tộc khác đến).
1.2. Quan hệ xã hội
Tất cả các sinh hoạt cộng đồng của họ đều hòa hợp với nhau, tuy khác
nhau về phong tục, tập quán nhưng họ cũng biết chấp nhận và cảm thông cho
nhau. Trong công việc ma chay hay cưới xin họ đều giúp đỡ nhau nhiệt tình.
Như việc tổ tức quét dọn trong đình làng xưa kia chỉ có người Cao Lan mới
được phép tham gia còn người Kinh không được phép, nhưng bây giờ thì
khác người Kinh có thể tham gia vào những công việc đó. Chứng tỏ rằng mối
quan hệ xã hội có chiều hướng đi lên theo hướng tích cực, nhằm xây dựng
mối quan hệ giữa các cộng đồng dân tộc.
1.2.1. Văn hóa bản làng
Người Cao Lan sinh sống xen kẽ với các dân tộc khác: Kinh, Tày và
tuổi gì, mệnh gì hợp hay không hợp và tháng nào thì cưới được. Sau khi xem
xong nhà trai xin làm lễ ăn hỏi.
Lễ ăn hỏi (giá bạc)
Nhà trai xem được ngày tốt tháng tốt và thông qua bên nhà gái xin ăn
hỏi, nhà gái đồng ý, nhà trai về chuẩn bị, nhờ ông bác, ông mối cùng một
cháu trai từ 10 – 12 tuổi đi cùng gánh lễ. Lễ vật gồm: 2 chiếc bánh dày gửi
nhà trọ “người đánh tiếng hỏi nhờ”.
Lễ ăn cưới (đón dâu)
Sau khi nhận được ý kiến thách cưới của nhà gái, nhà trai sắp xếp
chuẩn bị lễ vật, định ngày cưới và bỏ cho nhà gái nhận lễ: hai con gà, một con
nộp cheo, một con hẹn ngày cùng tiền mặt. Nhà trai nói rõ ngày đón dâu, nhà
Khãa luËn tèt nghiÖp Tr-êng §HSP Hµ Néi 2
NguyÔn ThÞ Hßa 8 Líp K36E - ViÖt Nam häc
gái đồng ý thì hai bên gia đình chuẩn bị cỗ mời anh em, họ hàng, làng xóm,
bạn bè đến mừng cùng hai gia đình.
Sau lễ cưới 3 - 7 ngày gia đình nhà chồng cùng cô dâu về nhà mẹ đẻ
chơi, ăn một bữa cơm, sau đó để nàng dâu ở lại rồi đưa con gái sang nhà
thông gia ăn cơm ở đó nếu xa thì ngủ lại một đêm hôm sau về.
Tộc người Cao Lan xem việc mời nhận ông bà mối là cực kỳ quan
trọng vì ông bà mối có nhiệm vụ bảo ban hòa giải đôi vợ chồng trẻ trong suốt
thời gian tiếp theo. Kể từ khi nhận là con của ông bà mối, hai vợ chồng có
trách nhiệm chăm sóc bố mẹ mối khi về già, khi họ chết phải để tang như bố
mẹ đẻ.
1.2.3. Tập quán trao đổi và buôn bán
Khác với Tây Bắc, Đông Bắc là khu vực thương mại, buôn bán phát
triển khá hơn. Các chợ phiên trong khu vực này hình thành sớm, có vai trò
quan trọng trong đời sống kinh tế của các tộc người. Mặc dù xưa kia đời sống
khó khăn, song người Cao Lan cũng sớm tham gia vào hoạt động trao đổi,
Phần thứ nhất là gầm sàn, phần này chủ yếu nuôi lợn, gà, trâu, bò Ngoài để
nuôi súc vật, gầm sàn cũng là nơi chứa công cụ lao động, chứa củi. Tính từ
mặt đất lên mặt sàn có độ cao khoảng 4m; phần thứ hai là mặt sàn, mặt sàn là
nơi sinh hoạt chính của các thành viên trong gia đình, mặt sàn được chia
thành các khoảng khác nhau. Đi từ cầu thang vào nhà phần đầu tiên chúng ta
gặp là phần bếp, có một chiếc kiềng được đặt ở giữa, bên cạnh có nơi rửa bát,
nơi đặt giá bát. Từ bếp chúng ta nhìn ra cửa sổ sẽ thấy một mái hiên sàn, đó
đồng thời cũng là đằng sau nhà. Đi ra đó sẽ nhìn thấy nhà tắm của mọi người,
ta thấy một cầu thang đi xuống phía sau của ngôi nhà. Bên cạnh phần bếp là
gian giữa của ngôi nhà, gian này dùng để tiếp khách, cũng chính là gian thờ
cúng, nơi ăn uống của gia đình. Gian giữa cũng có một cái cầu thang lên
xuống ở giữa cửa, gian này có không gian rộng nhất ngôi nhà. Phần tiếp theo
phải kể đến các buồng ngủ của các thành viên trong gia đình.
Khãa luËn tèt nghiÖp Tr-êng §HSP Hµ Néi 2
NguyÔn ThÞ Hßa 10 Líp K36E - ViÖt Nam häc
1.3.2. Trang phục ngày thƣờng
Người Cao Lan có truyền thống trồng bông, dệt vải, vải được dệt thành
tấm rồi nhuộm chàm cùng một số nguyên liệu khác. Trong các công đoạn để
tạo ra một bộ trang phục: việc chế tác các công cụ, chế biến sợi bông, trồng
bông thường do đàn ông làm, còn những công việc như cán bông, quay sợi,
dệt, nhuộm, cắt may đều do phụ nữ đảm nhiệm, những công việc này đều
được trao truyền từ mẹ sang con gái.
Trang phục nam giới: có màu chàm hoặc nhuộm màu đen, bao gồm:
một chiếc mũ nồi, một chiếc áo cánh dài qua mông xẻ hai bên, có hai túi may
ở hai bên vạt áo, cổ áo được may như cổ áo sơ mi bình thường, tay áo dài,
ống tay áo tròn. Quần của nam giới là quần lá tọa, cạp quần được may bằng
chun, rộng nên nhiều khi mặc người ta phải quấn hai bên cạp quần lên, quần
dài đến gót chân.
nhà mới.
Các loại thực phẩm khác như: gà, vịt, ngan, rau củ cũng được chế
biến thành nhiều món. Nhưng đặc biệt trong các dịp cúng tế không thể thiếu
gà, tuy nhiên gà trong khi chế biến cũng có một số kiêng kỵ, thịt gà chỉ được
luộc hoặc xào, gà cúng phải là gà sống, được cúng nguyên con. Các loại đồ
chấm của người dân rất đa dạng như nước tương, nước muối.
Trong ăn, uống người dân hầu như sử dụng hết các loại động, thực vật
để chế biến các loại đồ ăn, thức uống phục vụ cho cuộc sống hàng ngày,
nhưng họ cũng không bao giờ ăn và cúng thịt chó (do đây được coi là vật tổ
của người Cao Lan), nhìn chung hệ thống đồ ăn, thức uống của người Cao
Lan rất phong phú, họ đã biết vận dụng những nguyên liệu có sẵn từ thiên
nhiên, sản phẩm từ sản xuất trồng trọt, chăn nuôi để chế biến ra nhiều món ăn
phục vụ cho bữa ăn hàng ngày và làm đồ cúng tế vào những ngày lễ.
1.3.4. Phƣơng tiện vận chuyển
Phương tiện vận chuyển của đồng bào Cao Lan khá thô sơ, chủ yếu đi
bộ, cùng với đó là những chiếc bị một được đeo chéo bên hông, một được đeo
Khãa luËn tèt nghiÖp Tr-êng §HSP Hµ Néi 2
NguyÔn ThÞ Hßa 12 Líp K36E - ViÖt Nam häc
phía sau lưng như gùi. Những chiếc bị được đan bằng dây rừng hoặc dây mây
nên rất dai và bền, nhưng hiện nay kinh tế phát triển đồng bào đã có xe đạp,
xe máy để đi lại nên việc vận chuyển cũng dễ dàng hơn.
1.3.5. Công cụ sản xuất và đồ dùng sinh hoạt
Người Cao Lan sinh sống, canh tác chủ yếu ở địa hình đồi núi, trung du,
miền núi của huyện Sông Lô nên họ sống bằng nghề nông trồng lúa có cả lúa
nương và lúa nước, vì vậy công cụ chủ yếu để canh tác phải được chế tạo sao
cho phù hợp với công việc vừa làm ruộng vừa làm nương.
Công cụ chủ yếu để làm nương là dao, rìu tay, các công cụ này đều do
người Cao Lan tự chế, rất tiện lợi, bền chắc, khi đi rừng, lên nương họ mang
Nói cách khác hát Sình ca còn là tiếng hát than khóc trong tang ma.
Người Cao Lan trân trọng Sình ca như chính cuộc sống của họ bởi đó
chính là một phần mang lại sự độc đáo trong văn hóa Cao Lan. Với mỗi
người, những câu hát dân ca như đã trở thành một miền kí ức không thể quên,
để rồi nó trở thành nhịp cầu đưa người ta trở về với tuổi thơ.
Múa: Người Cao Lan có rất nhiều điệu múa đặc sắc nhưng đặc biệt
nhất vẫn là điệu múa chim gâu, múa lên nương của đồng bào… Những điệu
múa trong lễ hội, ngoài ra còn có điệu múa đi cấy, múa xuống đồng, múa tra
hạt… Đặc biệt hơn người Cao Lan còn có điệu múa “tam thanh” trong đám
tang nữa. Nếu người thầy cúng, thầy Say mất thì mới có điệu múa này, nếu
người bình chết thường không có điệu múa này.
Các dụng cụ âm thanh được dùng để phục vụ cho các điệu múa, hát của
đồng bào có: chũm chọe, trống con, trống tang sành đây là bộ ba trống, được
xem như một bộ trống quý của đồng bào Cao Lan còn được giữ lại cho tới
ngày nay và chỉ được cất giữ tại nhà ông Từ Đình. Khi có lễ hội, như hội làng
hay việc của đình làng thì họ mới mang trống ra.
Khãa luËn tèt nghiÖp Tr-êng §HSP Hµ Néi 2
NguyÔn ThÞ Hßa 14 Líp K36E - ViÖt Nam häc
1.4.3. Tín ngƣỡng tôn giáo và lễ hội truyền thống
Về tín ngưỡng tôn giáo:
Đồng bào Cao Lan không theo tôn giáo nào nhưng họ lại có rất nhiều
tín ngưỡng bản địa để thờ cúng, trong đó phải kể đến tín ngưỡng thờ thần (thờ
cúng các lực lượng siêu nhiên, thờ cúng tổ tiên, thần che chở cho gia đìn), tín
ngưỡng tang ma, xin cưới, tín ngưỡng liên quan đến chữa bệnh, sản xuất nông
nghiệp…
Tất cả những tín ngưỡng trên đều được người Cao Lan thực hiện từ
trước đến nay. Tuy nhiên còn có một số điều trong tin ngưỡng được bỏ qua,
giảm bớt đi để thích nghi với đời sống bây giờ và làm cho phần lễ nhẹ nhàng
Chết là sự kết thúc của chu kì một đời người mà ai cũng phải trải qua,
vậy nên việc làm ma cho người chết là nghi lễ quan trọng trong chu kì đời
người. Về với cõi Tây phương cực lạc, ở đó chết không phải hết mà mọi cái
mới chỉ bắt đầu, đối với bất kì ai cái chết không thể chánh khỏi, song ở mỗi
tộc người quan niệm về cái chết, hình thức về cái chết có những nét văn hóa
riêng. Cái chết là vĩnh biệt mọi người, lìa khỏi trần gian để sống một thế giới
khác do tổ tiên hay thần linh đó cai quản. Niềm thương tiếc, nỗi nhớ thương
của anh em, họ mạc nhất là con cháu được hể hiện qua việc tổ chức lễ tang
ma, thờ cúng.
Đồng bào người Cao Lan cho rằng hồn là trung tâm của thể sống, tất cả
mọi thể sống đều có hai phần linh hồn và thể xác. Hồn là phần không nhìn
thấy, vô hình như cái bóng của sự sống, khi chết hồn được gọi là ma (côi),
hình bóng của con người, hồn có thể bay ra khỏi thực thể để chơi quanh quẩn
xung quanh con người hoặc đi chu du sang thế giới do tổ tiên cai quản. Vì
trong tâm thức người Cao Lan lực lượng thế giới siêu nhiên rất phức tạp, có
quan hệ chặt chẽ với đời sống của con người. Mỗi khi sinh ra khỏe mạnh, ốm
đau, trưởng thành đều có mối liên hệ chặt chẽ với lực lượng siêu nhiên thể
hiện khá rõ rệt những quan niệm về tôn giáo, Đạo giáo, như thuyết luân hồi và
đặc biệt là các yếu tố Phật giáo đậm nét.
Khãa luËn tèt nghiÖp Tr-êng §HSP Hµ Néi 2
NguyÔn ThÞ Hßa 16 Líp K36E - ViÖt Nam häc
Đối với đồng bào Cao Lan tuy vô hình nhưng ma cũng có cuộc sống
như người bình thường, cũng ăn uống, ngủ nghỉ, sinh hoạt Xuất phát từ
quan niệm đó người Cao Lan ở thôn Đồng Găng, xã Quang Yên, huyện Sông
Lô, tỉnh Vĩnh Phúc cho rằng những người còn sống phải có trách nhiệm với
những nhu cầu cần thiết cho cuộc sống người đã khuất. Khi được thỏa mãn
các nhu cầu đầy đủ mọi thứ thì ma sẽ về phù hộ độ trì cho con cháu có sức
khỏe dồi dào, làm ăn phát đạt, không bệnh tật, ốm yếu, còn nếu không cúng
Từ các quan niệm như vậy mà đồng bào Cao Lan rất coi trọng việc tang
ma của người quá cố vì vậy mà việc lo toan chuẩn bị cho mỗi người khi chuẩn
bị về thế giới bên kia cũng rất đầy đủ, chu đáo. Qua đám tang của người Cao
Lan người ta có thể đánh giá được tinh thần cộng cảm của dân tộc Cao Lan.
Người thân mất đi là chuyện buồn của một nhà, nhưng tổ chức đám tang lại là
chuyện của cả dòng họ, của bản làng. Ngày tổ chức đám tang mọi người trong
làng không đi làm mà tập trung ở nhà có người mất giúp đỡ làm việc.
Các hình thức về cái chết
Đối với đồng bào người Cao Lan họ quan niệm rằng có 2 loại chết: chết
bình thường và chết không bình thường.
Chết bình thường
Những người chết khi đã già.
Chết không bình thường
Những trường hợp chết non, chết tai nạn, chết chưa được cấp sắc, chết
bất đắc kỳ tử.
Chết non: Những người bị ma ăn thịt, bị bệnh tật chết, chưa có vợ, có
chồng, người Cao Lan coi đó là chết non.
Đối với những người chết tai nạn thì không được mang xác vào nhà mà
làm ma ở chỗ khác, người Cao Lan quan niệm oan hồn mang sự không may
mắn đến cho bản đó và gia đình. Gia đình có người chết tai nạn phải đón thầy
về cải oan hồn. Thầy thu tất cả các oan hồn ấy đưa xuống địa ngục, cách ly
Khãa luËn tèt nghiÖp Tr-êng §HSP Hµ Néi 2
NguyÔn ThÞ Hßa 18 Líp K36E - ViÖt Nam häc
oan hồn với hồn tai nạn không cho đến gần nhau để khỏi gây hại cho người
khác.
Dù đã già thì những người chết chưa được cấp sắc cũng chỉ được làm
ma, không được làm chay để đưa hồn người chết về với tổ tiên vì họ chưa có
tên thật, sau này nếu con cháu có điều kiện thì tổ chức cấp sắc và làm lễ chay
bệnh trước khi người chết qua đời gọi con cháu vào căn dặn như “bệnh của
tao không thể qua khỏi được, con ma nó bắt tao đi khi tao đi rùi chúng mày
phải làm ăn tốt đấy cho bọn cháu nó theo ”. Gia đình biết người ốm không
thể qua khỏi mới tiến hành chuẩn bị những cái cần thiết cho đám tang. Như
chuẩn bị gỗ tiến hành làm quan tài, gỗ làm quan tài phải là gỗ tốt, cây không
cụt ngọn, không mục nát vì người Cao Lan không có tập quán cải táng.
Ngoài ra chuẩn bị may áo tang, áo tang của người Cao Lan phải là vải
trắng chứ không được làm bằng vải xô, chuẩn bị tiền, gạo, gà, lợn, thực phẩm,
vàng hương, giấy xanh đỏ, cây nứa để làm ma cho người chết. Khi đã qua đời
con cháu vây xung quanh khóc gọi tên người chết nhưng không được cho
nước mắt rơi vào người chết. Người ta đem súng kíp ra ngoài sân bắn một
phát chỉ thiên vừa để tiễn vong hồn người đã chết lên trời, vừa để báo với bản
làng là người đó đã chết. Sau khi tắc thở người ta đưa đồng tiền xu vào mồm
ngậm, con cháu đi lấy các loại lá thơm đun nước, tắm rửa thay quần áo cho
người chết, khiêng thi hài nằm ra chiếu dải giữa nhà rồi đắp chăn màu sáng
qua mặt, căng màn xô tự dệt, tránh con mèo nhảy qua làm vong hồn “giật
mình mất ngủ”. Đặt một cái mâm bên trái thi hài là người con trai mất, bên
phải thi hài là người con gái mất, trong mâm có một bát cơm đắp đầy, một
quả trứng gà luộc bóc ra, một cái chén, một ấm trà, một thỏi cây chuối cắm ba
nén nhang cháy, một cây đèn dầu, cắt cử con cháu quỳ hoặc ngồi chầu trước
mâm thờ vong hồn đầu tiên này. Con cháu, anh em, chú bác, trong họ đến
đem theo một dải vải màu trắng hoặc màu đen dài 2 - 3m quỳ khóc trước
vong hồn, đắp mảnh vải lên người chết tỏ ý thương tiếc người đã qua đời, cho
Khãa luËn tèt nghiÖp Tr-êng §HSP Hµ Néi 2
NguyÔn ThÞ Hßa 20 Líp K36E - ViÖt Nam häc
người qua đời một tấm chăn, vuông áo để người chết đi về thế giới bên kia.
Con trai, con gái, con dâu, con rể, để đầu trần xõa tóc đi chân đất, thắt bao
dao ngang lưng. Đợi thầy cúng đến để tiến hành tang lễ.