Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp Đại học
MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Trải qua hơn bốn nghìn năm lịch sử, cũng như nhiều quốc gia khác trên
thế giới, Việt Nam có một nền văn hóa mang bản sắc riêng, chính những nét
riêng đó đã làm nên cốt cách, hình hài của bản sắc văn hóa dân tộc.
Văn hóa như một dòng chảy xuyên suốt chiều dài lịch sử của đất nước,
hợp lưu bởi nhiều giá trị, yếu tố cấu thành. Đi sâu vào tìm hiểu cấu trúc nền
văn hóa Việt Nam, ta thấy yếu tố làm cho nền văn hóa có tính “truyền thống”
thể hiện được các giá trị về đời sống tinh thần, nét đẹp trong đời sống sinh
hoạt văn hóa dân gian qua mỗi vùng miền, đó chính là “ Các lễ hội truyền
thống”
Theo những thống kê của các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian tính đến
năm 2009 cả nước ta có 7.966 lễ hội. Trong đó lễ hội truyền thống có trên 500
lễ hội được trải dài trên khắp mọi miền đất nước trong mỗi làng quê Việt
Nam.
Mỗi một lễ hội truyền thống lại mang một nét văn hóa, đặc trưng riêng
cho mỗi làng quê, thể hiện sự phong phú, đa dạng về màu sắc văn hóa cũng
như những sinh hoạt tín ngưỡng trong đời sống của người dân. Tuy nhiên
nhìn một cách tổng thể, khái quát thì các lễ hội truyền thống Việt Nam cũng
mang những đặc điểm chung cơ bản như; đều hướng đến một đối tượng suy
tôn; hình thức tổ chức một lễ hội truyền thống bao gồm hai phần “Lễ và Hội”;
là nơi sinh hoạt văn hóa cộng đồng thể hiện sự đoàn kết của người dân( một
nét đẹp trong truyền thống của dân tộc)...Do vậy giữ gìn, phát huy và phát
triển các lễ hội truyền thống là một mục tiêu quan trọng trong chủ trương phát
triển kinh tế gắn liền với phát triển và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống
của Đảng và Nhà nước ta.
Trong xu thế vận động và phát triển của xã hội ngày nay. Tốc độ độ đô
phát triển lễ hội thì việc khai thác các điều kiện, lợi thế từ lễ hội để phát triển
các hoạt động du lịch là một việc làm có ý nghĩa thực tiễn. Đề tài: “Lễ hội
chọi trâu xã Hải Lựu huyện Sông Lô tỉnh Vĩnh Phúc” không chỉ giúp cho
việc bảo tồn, phát triển lễ hội mà còn quảng bá, tuyên truyền hình ảnh, giá trị
của lễ hội, đề suất các giải pháp có ý nghĩa thực tiễn để khai thác các tiềm
năng lễ hội để phục vụ các hoạt động du lịch mang lại nguồn lợi đóng góp cho
địa phương xã Hải Lựu, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng và cho hoạt
động du lịch của cả nước nói chung.
2. Lịch sử nghiên cứu
Có rất các tác phẩm, tài liệu, công trình viết về lễ hội chọi trâu xã Hải
Lựu huyện Sông Lô tỉnh Vĩnh Phúc:
SVTH:Hà Thị Kim Cúc
Lớp: K35G - Việt Nam học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp Đại học
Vũ Thế Bình (2009), Non Nước Việt Nam, Nhà xuất bảnTổng Cục Du
Lịch trung tâm Thông Tin Du Lịch-Hà Nội.
“Tạp chí văn hóa thể thao và du lịch Vĩnh Phúc”, số 12/2010,
chuyên đề Du Lịch
“Tạp chí văn hóa thể thao và du lịch Vĩnh Phúc”, số 3-10/2009,
chuyên đề huyện Sông Lô.
Nguyễn Khắc Xương (2011), Tín ngưỡng lúa nước vùng đất tổ Nhà
xuất bản Thời Đại.
Hà Văn Thư (2008), Lễ hội chọi trâu xã Hải Lựu, Công Ty in Ba
Không gian phần lễ: Được diễn ra tại Đình Trên, Đình Kiêng (lễ hội
chọi trâu diễn ra trước năm 1947), Đài tưởng niệm, Đền thờ Hùng Vương (tại
Phú Thọ)
Không gian diễn ra phần hội: Sân Đình Trên, Kiêng, bến Ảnh (xưa),
sân Uỷ Ban xã trên gò Mả Đàm (ngày nay)
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Những cơ sở lý luận của việc nghiên cứu đề tài
Hiện trạng của lễ hội chọi trâu xã Hải Lựu huyện Sông Lô tỉnh Vĩnh
Phúc và các tiềm năng phát triển du lịch.
Các giải pháp bảo tồn, phát huy và phát triển du lịch của lễ hội chọi trâu xã
Hải lựu huyện Sông lô tỉnh Vĩnh Phúc.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp thu thập và xử lý thông tin
Nghiên cứu Lễ hội chọi trâu xã Hải Lựu huyện Sông Lô tỉnh Vĩnh Phúc
qua việc thu thập các tài liệu có sẵn từ trước Sách, báo, các văn bản, tạp chí,
website, internet và các nguồn tư liệu từ địa phương cung cấp có liên quan
đến lễ hội.
6 .2 Phương pháp khảo sát thực địa.
Là phương pháp nghiên cứu giúp chúng ta tiếp cận vấn đề một cách chủ
động, trực quan, đánh giá một cách xác thực đề có cái nhìn toàn diện về đối
tượng nghiên cứu. Cụ thể trong đề tài này, phương pháp được vận dụng, tham
gia trực tiếp lễ hội để có những kết quả xác thực, đúng đắn, có giá trị thực
tiễn.
Các hoạt động khi tiến hành phương pháp: Quan sát, mô tả, quay phim,
chụp ảnh, ghi âm, ghi chép...
6.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu.
Nhằm so sánh lễ hội với các lễ hội chọi trâu diễn ra ở những khu vực
khác để thấy được những nét đặc trưng, riêng biệt và tiêu biểu của lễ hội : Lễ
SVTH:Hà Thị Kim Cúc
Cung cấp được những thông tin, kiến thức phong phú về lễ hội, lễ hội
truyền thống chọi trâu xã Hải Lựu huyện Sông Lô tỉnh Vĩnh Phúc đáp ứng
nhu cầu tìm tòi, khám phá của những người quan tâm đến lễ hội.
Từ những đề xuất, giải pháp cụ thể có ý nghĩa áp dụng thực tiễn đề tài sẽ là cơ
sở cho việc hoạch định công tác giữ gìn, bảo tồn và khai thác phát triển lễ hội
phục vụ cho các hoạt động du lịch, quảng bá hình ảnh địa phương.
8. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, lời cảm ơn, lời cam đoan…phần
nội dung khóa luận gồm 3 chương:
SVTH:Hà Thị Kim Cúc
Lớp: K35G - Việt Nam học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp Đại học
Chương1: Cơ sở lý luận của việc nghiên cứu lễ hội.
Chương2: Hiện trạng phát triển và khai thác các tiềm năng du lịch của
lễ hội chọi trâu xã Hải Lựu huyện Sông lô tỉnh Vĩnh Phúc.
Chương3: Các giải pháp bảo tồn, phát huy và phát triển du lịch của lễ
hội chọi trâu xã Hải lựu huyện Sông lô tỉnh Vĩnh Phúc.
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU LỄ HỘI
1.1 Khái quát về lễ hội
Lễ hội là một trong những bộ phận cấu thành nên nền văn hóa của một
quốc gia, dân tộc. Nó được xem là hiện tượng văn hóa tổng hợp, quy tụ mọi
về Xây dựng và phát triển kinh tế đi đôi với phát triển nền văn hóa tiến tiến
đậm đà bản sắc dân tộc).
1.1.1 Khái niệm và cấu trúc của lễ hội
1.1.1.1 Khái niệm.
Có rất nhiều những định nghĩa và khái niệm khác nhau về lễ hội ở Việt
Nam:
Một định nghĩa về lễ hội: “Lễ là là loại hình sinh hoạt văn hóa, sản
phẩm tinh thần của người dân được hình thành và phát triển trong quá trình
lịch sử. Người Việt Nam từ hàng ngàn đời nay có truyền thống “Uống nước
nhớ nguồn”. Lễ hội là sự kiện thể hiện truyền thống quý báu đó của cộng
đồng, tôn vinh những hình tượng thiêng, được định danh là những vị “Thần”
- những người có thật trong lịch sử dân tộc hay huyền thoại. Hình tượng các
vị thần linh đã hội tụ những phẩm chất cao đẹp của con người. Đó là những
anh hùng chống giặc ngoại xâm; những người khai phá vùng đất mới, tạo
dựng nghề nghiệp; những người chống chọi với thi hình thnahên tai, trừ ác
thú; những người chữa bệnh cứu người; những nhân vật truyền thuyết đã chi
phối cuộc sống nơi trần gian, giúp con người hướng thiện, giữ gìn cuộc sống
hạnh phúc... Lễ hội là sự kiện tưởng nhớ, tỏ lòng tri ân công đức của các vị
thần đối với cộng đồng, dân tộc. Lễ hội là dịp con người được trở về nguồn,
nguồn cội tự nhiên hay nguồn cội của dân tộc đều có ý nghĩa thiêng liêng
trong tâm trí mỗi người.Lễ hội thể hiện sức mạnh cộng đồng làng xã, địa
SVTH:Hà Thị Kim Cúc
Lớp: K35G - Việt Nam học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp Đại học
Lớp: K35G - Việt Nam học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp Đại học
Lễ hội thực chất là một nét sinh hoạt văn hóa tinh thần của con người,
gắn với con người như một điều tất yếu. Lễ hội đáp ứng những nhu cầu tinh
thần, tâm linh không thể thiếu của con người như trở về với tự nhiên, cội
nguồn, là môi trường để người dân thể hiện sức mạnh cố kết cộng đồng. Nó
mang giá trị bảo tồn văn hóa và truyền thống, là “bảo tàng sống” về văn hóa
truyền thống của dân tộc.
1.1.1.2 Cấu trúc của lễ hội
Mỗi lễ hội là một nét văn hóa mang tính đặc trưng cho vùng miền tuy
nhiên các lễ hội nói chung và lễ hội truyền thống dân gian nói riêng đều có
chung những đặc điểm: tính thiêng liêng của lễ hội; sự tôn sùng một đối
tượng, nhân vật lịch sử, đều hướng về cội nguồn; sự giải thiêng trong tâm
thức; nơi sinh hoạt văn hóa cộng đồng...Đặc biệt các lẽ hội đều có cấu trúc
chung gồm hai phần
• Phần nghi lễ
• Phần hội
Phần nghi lễ: Trong một lễ hội nói chung và lễ hội truyền thống nói riêng,
phần nghi lễ thường diễn ra trước phần hội (Tuy nhiên cũng có một vài lễ hội
phần lễ diễn ra sau phần hôi hay một vài lễ hội phần lễ diễn ra song song cung
phần hội)
Phần lễ là toàn bộ các nghi thức tưởng niệm, các hoạt động thờ tế ...để
ghi nhớ một sự kiện lịch sử, một nhân vật anh hùng có công với cộng đồng,
đất nước hay các hình tượng được suy tôn (thần tự nhiên, thần nông
nghiệp...). Niềm tin là yếu tố cơ bản để tồn tại một lễ hội. Nghi lễ là yếu tố
tâm linh của họ”.
Như vậy qua các định nghĩa về Lễ trong lễ hội ta thấy đây là một phần
quan trọng trong lễ hội nói chung và lễ hội truyền thống nói riêng, là yếu tố
hạt nhân tạo nên sự linh thiêng, giá trị thẩm mĩ về nét đẹp văn hóa truyền
thống.( ví dụ như nghi lễ trong lễ hội Đền Hùng đóng vai trò quan trọng là sự
tưởng niệm , ghi nhớ công ơn của các vị Vua Hùng với sự nghiệp xây dựng
nhà nước đầu tiên của dân tộc vừa qua nghi lễ trong tín ngưỡng thờ cúng
Hùng Vương đã được UNESCO công nhận là một di sản văn hóa phi vật thể
ngày mùng 6 tháng 12 năm 2012 ).
Phần Hội : Nếu như phần nghi lễ là sự tưởng niệm, thiêng liêng mang
nhiều yếu tố thiên về tinh thần thì phần hội lại thể hiện sự sôi nổi, ồn ào, thiên
về các yếu tố vật chất, là những sinh hoạt văn hóa cộng đồng mang tính vui
chơi, giải trí trong phần hội không bị rằng buộc bởi các lễ nghi, tôn giáo,
SVTH:Hà Thị Kim Cúc
Lớp: K35G - Việt Nam học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp Đại học
đẳng cấp và tuổi tác...mọi người cùng bình đẳng tham gia các hoạt động, các
trò chơi, trò diễn dân gian. Như vậy:
“ Hội được cấu thành bởi những hình thức sinh hoạt vui chơi, những
trò bách hí, không gian, thời gian, cảnh quan môi trường, tâm lí hội và hành
động hội, di tích lịch sử, danh thắng...”( ví dụ như phần hội trong lễ hội chọi
trâu xã Hải Lựu huyện Sông Lô tỉnh Vĩnh Phúc, hội chính là sự thi đấu trnh
tài của các “ Ông Cầu” ngoài ra thì hội còn có các trò chơi dân gian như: Cờ
đối với nhân dân. Người Việt Nam từ hàng ngàn đời nay có truyền thống
“Uống nước nhớ nguồn”. Lễ hội là sự kiện thể hiện truyền thống quý báu đó
của cộng đồng, tôn vinh những hình tượng thiêng. Lễ hội là dịp con người
được trở về nguồn, nguồn cội tự nhiên hay nguồn cội của dân tộc đều có ý
nghĩa thiêng liêng trong tâm trí mỗi người. Lễ hội cũng thể hiện sức mạnh
cộng đồng làng xã, địa phương hay rộng hơn là quốc gia dân tộc. Lễ hội còn
là nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần
của mọi tầng lớp dân cư”.
Lễ hội truyền thống là một bộ phận thuộc lễ hội nói chung, mang các
đặc điểm riêng biệt đó là “thời gian hình thành và tính lưu truyền qua các
thế hệ ” thể hiện một truyền thống, một nét đẹp trong văn hóa tín ngưỡng của
dân tộc mang tính giáo dục cao. Yếu tố cơ bản của lễ hội truyền thống đó là
tinh “cộng đồng”.
1.1.2.2 Ý nghĩa của lễ hội truyền thống trong lịch sử
Lễ hội truyền thống là yếu tố mang nhiều ý nghĩa, giá trị quan trọng.
Trong xã hội xưa, lễ hội truyền thống gắn bó với người dân là những sinh
hoạt văn hóa trong đời sống của họ. Hầu hết các lễ hội trong xã hội xưa đều
thể hiện hững sinh hoạt trong đời sống tinh thần, trong sản xuất nông nghiệp,
tín ngưỡng dân gian, truyền nối từ thế hệ này qua thế hệ khác.
Các lễ hội chủ yếu được tổ chức vào mùa xuân, mùa thu và sau mùa thu
hoạch của người dân.
Trong lịch sử, đất nước ta trải qua nhiều biến cố, thăng trầm, lễ hội
nhiều khi phải gián đoạn. Nhưng khi đất nước hòa bình, nhân dân lại khôi
phục và tổ chức lại các lễ hội truyền thống, điều đó chứng tỏ rằng, các lễ hội
truyền thống luôn giữ một vị trí, vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống
tinh thần của mỗi người dân Việt Nam. Giáo dục con người ghi nhớ công ơn,
SVTH:Hà Thị Kim Cúc
Lớp: K35G - Việt Nam học
truyền thống trong xã hội hiện đại.
Lễ hội truyền thống tồn tại và ngày càng được phát triển trong xã hội
hiện đại, mang những ý nghĩa không thể phủ nhận, không chỉ về tinh thần mà
SVTH:Hà Thị Kim Cúc
Lớp: K35G - Việt Nam học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp Đại học
còn cả các giá trị đóng góp về vật chất, xuất phát từ chính những “giá trị” của
lễ hội truyền thống.
Lễ hội trong xã hội hiện đại giúp cho con người gần nhau hơn, đoàn
kết, gắn bó sau những bộn bề lo toan của cuộc sống. Đây cũng là một trong
những truyền thống tốt đẹp của ông cha.
Thông qua các lễ hội, lễ hội truyền thống cũng tạo cho con người trong xã hội
hiện đại niềm lạc quan, yêu đời, yêu chân lý, trọng cái thiện và làm cho tâm
hồn, nhân cách mỗi con người như được sưởi ấm tính nhân đạo, nhân văn để
rồi thấm sâu vào cuộc sống đời thường đáp ứng nhu cầu đời sống văn hóa tinh
thần, tâm linh về giao lưu, làm cho đời sống có ý nghĩa hơn, tốt đẹp hơn.
Chiều sâu văn hóa tinh thần của các lễ hội truyền thống là giá trị bảo lưu cội
nguồn, là thứ “vũ khí tư tưởng sắc bén” cho mọi thời đại của mỗi dân tộc. Do
đó, lễ hội truyền thống trong lịch sử hay trong xã hội hiện đại đều góp phần
giáo dục truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc cho mọi thế hệ, làm lành
mạnh, phong phú đời sống tinh thần và cũng để nhằm góp phần thực hiện
“xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” được đề
ra trong Nghị quyết lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII).
gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích
tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ
ngơi, giải trí, thư giãn...Trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm
(phải trên 24h ), ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình, không mang mục
đích kinh tế.”
Định nghĩa trong Từ điển Bách khoa về du lịch (Viện hàn lâm): “Du
lịch là tập hợp các hoạt động tích cực của con người nhằm thực hiện một
dạng hành trình, là một công nghiệp liên kết nhằm thỏa mãn các nhu cầu của
khách du lịch”.
Ở nước ta, khái niệm du lịch được nêu trong pháp lệnh du lịch như sau:
“ Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của
mình nhằm thỏa mãn các nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một
khoảng thời gian nhất định”.
1.2.2 Khái niệm tiềm năng du lịch
SVTH:Hà Thị Kim Cúc
Lớp: K35G - Việt Nam học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp Đại học
Theo triết tự thì “Tiềm năng” có nghĩa là năng lực, sức mạnh, thế mạnh
tiềm tàng, ẩn nấp chưa được khai thác (Năng: trong chữ năng lực, khả năng,
tiềm năng chỉ thế mạnh. Còn Tiềm có nghĩa là: ẩn, kín, khuất nấp).
Như vậy theo triết tự từ như trên thì tiềm năng du lịch được định nghĩa là:
“Các điều kiện, thế mạnh về du lịch chưa được con người khai thác và sử
dụng ở hiện tại nhưng có thể được khai thác và sử dụng cho sự phát triển của
mọi thành viên, Cá nhân, tổ chức có liên quan đến du lịch” (Luật du lịch năm
2005).
Như vậy qua các định nghĩa, khái niệm nêu trên, ta thấy hoạt động du
lịch là hoạt động vừa mang đặc điểm của ngành kinh tế, vừa có đặc điểm, ý
nghĩa của các ngành văn hóa – xã hội.
1.2.4 Phát triển du lịch gắn với lễ hội
Lễ hội là một kho tàng văn hóa, nơi lưu giữ những tín ngưỡng, tôn
giáo, những sinh hoạt văn hóa văn nghệ, nơi phản ánh tâm thức con người
Việt Nam một cách trung thực. Nhìn chung, lễ hội dân tộc Việt Nam gồm hai
bộ phận: lễ hội truyền thống cung đình và lễ hội truyền thống dân gian. Với lễ
hội dân gian, đây là nơi lưu trữ nhiều tín ngưỡng dân gian, được biểu hiện
dưới nhiều dạng như thờ cúng thần hoàng, thờ mẫu, thờ cúng tổ tiên, thờ cúng
tổ nghề...Ngoài ra, các tín ngưỡng dân gian còn tiềm ẩn các trò diễn như tín
ngưỡng thờ thần mặt trời, mặt trăng, thần nước...Sự tiềm ẩn đó khiến chúng ta
khó nhận diện các tín ngưỡng cổ xưa ấy. Cùng với tín ngưỡng, nhiều lễ hội
còn gắn với phật giáo, thiên chúa giáo. Lễ hội cung đình gắn liền với văn hóa
cung đình của các triều đại phong kiến mà đỉnh cao và sự phong phú là các lễ
hội cung đình triều Nguyễn như lễ tế Nam Giao, tế Xã tắc, Truyền lô…
Lễ hội truyền thống còn lưu giữ nhiều sinh hoạt văn hóa văn nghệ đặc sắc.
Nơi mở hội nhiều khi là những danh lam thắng cảnh, một môi trường giàu
tính văn hóa và chính địa điểm mở hội đáp ứng các tiêu chuẩn của một điểm
du lịch.
Với ngành Du lịch, lễ hội là một sản phẩm văn hóa đặc biệt. Ngành Du
lịch càng phát triển, càng gắn kết với lễ hội truyền thống. Tự thân ngành du
lịch trong bước đường phát triển của mình đã tìm đến lễ hội như một “sản
phẩm văn hóa đặc biệt”. Đưa khách du lịch đến với các lễ hội truyền thống là
nhằm để giới thiệu đất nước, con người Việt Nam hôm qua, hôm nay là giới
SVTH:Hà Thị Kim Cúc
Lễ hội chọi trâu có ở nhiều nơi: Lễ hội chọi trâu ở Đồ Sơn( Hải Phòng),
lễ hội chọi trâu ở Phù Ninh (Phú Thọ), chọi trâu ở Hàm Yên( Tuyên Quang)
SVTH:Hà Thị Kim Cúc
Lớp: K35G - Việt Nam học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp Đại học
và lễ hội chọi trâu ở xã Hải Lựu, huyện Sông Lô tỉnh Vĩnh Phúc. Ở mỗi vùng
miền lễ hội chọi trâu lại mang một ý nghĩa, một giá trị, đối tượng suy tôn,
hình thức tổ chức và nguồn gốc ra đời khác nhau. Để có thể thấy được sự
khác biệt về ý nghĩa về tín ngưỡng và văn hóa của các lễ hội chọi trâu ở mỗi
nơi, mỗi vùng miền ta cùng đi so sánh lễ hội chọi trâu ở hai vùng tiêu biểu là
Đồng bằng trung du với lễ hội chọi trâu xã Hải Lựu huyện Sông Lô tỉnh Vĩnh
Phúc và lễ hội chọi trâu ở Đồ Sơn Hải Phòng ở vùng biển:
Đặc điểm so
Lễ hội chọi trâu xã Hải
Lễ hội chọi trâu Đồ Sơn,
sánh
Lựu huyện Sông Lô, Vĩnh
Hải Phòng
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp Đại học
thành hoàng làng, cứ hàng
năm nhân dân Đồ Sơn lại tổ
chức cho các cặp trâu chọi
nhau trước khi mổ thịt tế thần.
Chưa có số liệu chính xác về
Thời gian ra Từ thế kỉ II Tcn
đời
thời gian ra đời của lễ hội.
Trải qua những giai đoạn Trải qua nhiều giai đoạn
phát triển thăng trầm của thăng trầm. Đến năm 1989 lễ
Lịch sử phát lịch sử. Lễ hội chọi trâu Hải hội chọi trâu Đồ Sơn được
triển
Lựu phát triển qua 3 giai khôi phục, phát triển và đến
đoạn :
•
năm 2000 chính thức được
Từ thế kỉ II đến năm công nhận là một trong 15 lễ
hội lớn trong phạm vi cả
1947
SVTH:Hà Thị Kim Cúc
Lớp: K35G - Việt Nam học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
tôn
Khoá luận tốt nghiệp Đại học
tướng Lữ Gia
vệ xóm làng.
Lễ hội thể hiện tinh thần Lễ hội thể hiện truyền thống
Ý nghĩa
thượng võ và truyền thống uống nước nhớ nguồn, tưởng
uống nước nhớ nguồn của nhớ công ơn thành hoàng
dân tộc( nét sinh hoạt văn làng, và nét đẹp trong sinh
hóa của cư dân đồng bằng hoạt văn hóa của cư dân vùng
Bắc bộ)
biển.
Các ông cầu do một tập thể Theo người dân nơi đây, các
nuôi chung (một dòng họ, trâu được chọn để chọi phải
một làng, một giáp, một có màu đen tuyền vì theo
hội...).
truyền thuyết thì màu đen
Khoá luận tốt nghiệp Đại học
nghiệp vùng đồng bằng Bắc
bộ, vơi hi vọng trâu ở độ
tuổi trưởng thành, có sức
khỏe, cường tráng sẽ mang
lại vụ mùa thắng lợi, và các
miếng đánh của các ông cầu
cũng thể hiện tinh thần
thượng võ của dân tộc.
Qua sự so sánh một vài đặc điểm đặc trưng giữa hai lễ hội chọi trâu Đồ
Sơn và lễ hội chọi trâu Hải Lựu đã cho ta thấy tuy cùng một tên gọi, cùng một
hình thức tổ chức, nhưng ở hai vùng miền hai khu vực khác nhau mỗi lễ hội
lại có những nét khác biệt. Sự khác biệt đó cũng biểu hiện sự đa dạng, phong
phú về văn hóa, tín ngưỡng của dân gian mỗi vùng miền nét đặc trưng giữa
văn hóa vùng đồng bằng và vùng biển.
2.1.1 Khái quát về huyện Sông Lô
Sông Lô là một huyện miền núi của tỉnh Vĩnh Phúc được thành lập từ
ngày mùng 1 tháng 4 năm 2009. Là một huyện mới được tách ra từ huyện Lập
Thạch cũ, huyện Sông Lô có phía Đông giáp huyện Lập Thạch, phía Tây giáp
huyện Phù Ninh của tỉnh Phú Thọ, phía Bắc giáp huyện Sơn Dương tỉnh
Tuyên Quang. Tuy là một huyện mới được thành lập nhưng huyện Sông Lô là
một trong những cái nôi của nền văn minh Sông Hồng. Đây là vùng đất cổ với
nhiều di tích lịch sử gắn liền với quá trình phát triển của dân tộc Việt: Di chỉ
Gò Đồn, Gò Trâm Dài... thuộc nền văn hóa Sơn Vi cách ngày nay gần 2 vạn
năm; Di chỉ Gò Đặng, Gò Hội thuộc văn hóa Phùng Nguyên, cách ngày nay
khoảng 3.500 năm, chùa tháp Bình Sơn xây dựng bằng gạch nung từ thế kỉ
SVTH:Hà Thị Kim Cúc
Là huyện mới thành lập, với khí thế mới, Đảng bộ và nhân dân Sông
Lô luôn phấn đấu xây dựng huyện ngày càng giàu đẹp văn minh, đóng góp
vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Huyện Sông Lô gồm 17 xã, thị trấn, vẫn còn đó những tên gọi xa xưa:
Kẻ Then, Kẻ Thiều, Kẻ Bạch, Kẻ Lạn, Kẻ Sáng... tại Gò Đồn xã Hải Lựu, Gò
Trâm Dài xã Đôn Nhân, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy những công cụ
thuộc thời kỳ văn hóa Sơn Vi. Đó là thời kì con người nguyên thủy săn bắt,
SVTH:Hà Thị Kim Cúc
Lớp: K35G - Việt Nam học
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp Đại học
hái lượm dựa vào công cụ được ghè đẽo từ đá cách ngày nay khoảng 2 vạn 3
nghìn năm. Điều đó chứng tỏ những người Việt cổ thời tiền sử, cộng đồng thị
tộc mẫu hệ nguyên thủy đã có mặt khai phá và xây dựng nền văn minh ở
mảnh đất Sông Lô từ rất xa xưa. Đất Sông Lô là đất địa linh, núi cao, sông
sâu. Từ xa xưa nhân dân Sông Lô đã quần tụ đông đúc “sầm uất bến Then”.
Đến giữa thế kỉ XIX nhóm dân tộc Cao Lan di cư đến lập nghiệp ở xã Quang
Yên. Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX có nhóm dân tộc Dao đến lập bản nay
thuộc thôn Thành Công, xã Lãng Công tụ hội thành 3 nhóm dân tộc : Kinh,
Dao, Cao Lan với bản sắc văn hóa, phong tục tập quán riêng cùng bên nhau
xây dựng quê hương Sồng Lô giàu đẹp.
Đất địa linh sinh nhân kiệt, huyện Sông Lô có tới 5 tiến sĩ nho học. Đó
là Khổng Cư Lỗ, xã Cao Phong thi đỗ Đệ tam giáp đồng, tiến sĩ Khoan Tân
sửu đời vua Lê Thánh Tông. Đó là ông trạng Triệu Nghi Phù, thôn Nam Giáp,
Bánh nẳng Nhân Đạo-Tứ Yên, mắm tỏi Đức Bác, cá Thính Sông Lô, xôi vò,
xôi xéo...
Nhân dân và Đảng bộ huyện Sông Lô luôn phấn đấu và quyết tâm xây
dựng quê hương giàu đẹp, phát triển trong xu thế hội nhập của đất nước nói
chung và của tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng, khai thác và sử dụng mọi lợi thế và
tiềm năng của quê hương.
2.1.2 Lễ hội chọi trâu xã Hải Lựu, huyện Sông, Lô tỉnh Vĩnh
Phúc.
2.1.2.1 Khái quát về xã Hải Lựu, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc
Hải Lựu là xã miền núi, nằm ở phía Tây Bắc của huyện Sông Lô. Phía
Bắc giáp xã Bạch Lưu và Quang Yên, phía Đông giáp xã Lãng Công và xã
Nhân Đạo, phía Nam giáp xã Đôn Nhân, phía Tây có dòng Sông Lô làm ranh
giới tự nhiên với xã Phù Ninh huyện Lâm Thao tỉnh Phú Thọ. Tổng diện tích
tự nhiên là 1023,38ha, dân số là 6400 người( theo số liệu thống kê năm 2008).
Xã Hải Lựu trước thuộc huyện Lập Thạch( Lập Thạch có tên từ đời vua Trần
Thiếu Đế (1398-1400), đến thời Lê thuộc phủ Tam Đới trấn Sơn Tây; Năm
1899 thuộc tỉnh Vĩnh Yên và nay thuộc tỉnh Vĩnh Phúc).
Vùng đất Hải Lựu ngày nay gồm đất của hai làng Bạch Lưu Hạ (tên
nôm gọi là Kẻ Nội) và Hải Lựu (Kẻ Kảy).
Đầu thế kỉ XX thuộc tổng Bạch Lưu huyện Lập Thạch (tổng Bạch Lưu
gồm 5làng: Bạch Lưu Hạ, Bạch Lưu Thượng, Hải Lựu, Quang
Viễn,YênThiết). Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, thành lập xã Hải Lựu gồm
hai làng Bạch Lưu Hạ và Hải Lựu cho đến tận ngày nay. Phía Đông Bắc xã
Hải Lựu được chắn bởi dãy núi Thét, một nhánh ngang của địa hình núi Sáng
SVTH:Hà Thị Kim Cúc
Lớp: K35G - Việt Nam học