Hôn nhân của người dao quần chẹt hiện nay ở làng thành công, xã lãng công, huyện sông lô, tỉnh vĩnh phúc - Pdf 38

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HOÀNG THỊ MINH NGUYỆT

HÔN NHÂN CỦA NGƯỜI DAO QUẦN CHẸT HIỆN NAY
Ở LÀNG THÀNH CÔNG, XÃ LÃNG CÔNG,
HUYỆN SÔNG LÔ, TỈNH VĨNH PHÚC

LUẬN VĂN THẠC SĨ DÂN TỘC HỌC

HÀ NỘI - 2016


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HOÀNG THỊ MINH NGUYỆT

HÔN NHÂN CỦA NGƯỜI DAO QUẦN CHẸT HIỆN NAY
Ở LÀNG THÀNH CÔNG, XÃ LÃNG CÔNG,
HUYỆN SÔNG LÔ, TỈNH VĨNH PHÚC

Chuyên ngành: Dân tộc học
Mã số: 60.31.03.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ DÂN TỘC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. PHẠM QUANG HOAN

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè, đồng
nghiệp luôn động viên, giúp đỡ tôi để tôi hoàn thành luận văn của mình.
Hà Nội, tháng 7 năm 2016

Hoàng Thị Minh Nguyệt


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI DAO QUẦN
CHẸT Ở LÀNG THÀNH CÔNG ................................................................ 10
1.1. Cơ sở lý thuyết ..................................................................................................... 10
1.2. Khái quát về xã Lãng Công ............................................................................... 13
1.3. Người Dao Quần Chẹt ở làng Thành Công ....................................................... 17
TiỂu kết chương 1 .......................................................................................... 29
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM HÔN NHÂN CỦA NGƯỜI DAO QUẦN CHẸT .. 30
2.1. Quan niệm về hôn nhân ...................................................................................... 30
2.2. Tiêu chuẩn chọn vợ, chồng ................................................................................. 31
2.3. Quyền quyết định trong hôn nhân ...................................................................... 33
2.4. Tuổi kết hôn .......................................................................................................... 34
2.5. Các nguyên tắc và hình thức hôn nhân .............................................................. 36
2.6. Cư trú sau hôn nhân ............................................................................................. 39
2.7. Hôn nhân bị chi phối bởi những yếu tố vật chất ............................................... 40
2.8. Các trường hợp hôn nhân khác ........................................................................... 41
Tiểu kết chương 2 .......................................................................................... 43
Chương 3: PHONG TỤC TẬP QUÁN VÀ NGHI LỄ TRONG HÔN
NHÂN CỦA NGƯỜI DAO QUẦN CHẸT ................................................. 44
3.1. Nghi lễ trước đám cưới ....................................................................................... 44
3.2. Nghi lễ trong đám cưới ........................................................................................ 47
3.3. Lễ lại mặt (ùi mịn) ............................................................................................... 54

Hiện đại hóa

HTX

Hợp tác xã

NQ

Nghị quyết

Nxb

Nhà xuất bản

PGS

Phó giáo sư

UBND

Ủy ban nhân dân

THCS

Trung học cơ sở



Trung ương


ở các tỉnh Hà Giang, Lào Cai, Tuyên Quang, Quảng Ninh, Yên Bái…
Trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, chỉ có nhóm Dao Quần Chẹt với trên 160
hộ gia đình cư trú ở làng Thành Công, xã Lãng Công, huyện Sông Lô. Họ
chiếm 70% dân số của làng và sống cận kề với người Việt (Kinh). Tuy nhiên,
cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu nào về hôn nhân
của người Dao Quần Chẹt tại địa bàn này.

1


Hiện nay, quá trình hội nhập kinh tế, giao lưu tiếp xúc văn hóa giữa các
tộc người đang diễn ra mạnh mẽ khiến cho văn hóa truyền thống, trong đó có
hôn nhân của dân tộc Dao nói chung, của nhóm Dao Quần Chẹt ở tỉnh Vĩnh
Phúc nói riêng, cũng biến đổi theo.
Trước những tác động của hiện đại hóa và hội nhập, Đảng và Nhà nước
đã đề ra đường lối phát triển văn hóa trong tình hình mới, đó là bảo tồn, phát
huy những giá trị văn hóa truyền thống và tiếp thu những tinh hoa văn hóa
của nhân loại, xây dựng nền văn hóa Việt Nam theo hướng dân tộc, khoa học
và đại chúng.
Trong bối cảnh nêu trên, việc nghiên cứu sâu về hôn nhân của người Dao
Quần Chẹt tại một làng cụ thể - làng Thành Công giúp chúng ta nhận diện
được những điểm chung và những nét riêng, đồng thời cũng hiểu rõ hơn sự đa
dạng văn hóa của dân tộc Dao ở Việt Nam. Việc nghiên cứu đầy đủ , có hệ
thống về hôn nhân của người Dao Quần Chẹt còn góp phần giữ gìn những giá
trị văn hóa tộc người, vừa góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch
định và cụ thể hóa Luật Hôn nhân và gia đình, chính sách xã hội và chính
sách văn hóa, phù hợp với tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm (khóa
VIII) của Ban chấp hành Trung ương Đảng Về xây dựng và phát triển nền văn
hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và Nghị quyết Hội nghị lần
thứ chín (Khóa XI) Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam

dân tộc Dao, đã đề cập khái quát về dân số, nguồn gốc lịch sử, phân loại c
ác ngành Dao, các hình thái kinh tế, phong tục tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng,
văn học nghệ thuật, tri thức dân gian cũng như những đổi mới trong đời sống
sinh hoạt của dân tộc Dao từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945. Ở khía
cạnh hôn nhân và gia đình, nhóm tác giả đã giới thiệu khá chi tiết về dòng họ,
quy mô gia đình, quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, tính chất hôn
nhân, hình thái cư trú sau hôn nhân... của người Dao ở nước ta.
Cũng với tiêu đề Người Dao ở Việt Nam, công trình của tác giả Vũ Quốc
Khánh lại có cái nhìn khái quát về đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội cũng như
các nghi lễ quan trọng trong đời sống của cộng đồng người Dao.
3


Nghiên cứu về người Dao còn phải kể đến những công trình của Phan
Hữu Dật, Hoàng Hoa Toàn về Xác minh tên gọi và phân nhóm các ngành Dao
ở Tuyên Quang (1971), Nguyễn Khắc Tụng về Vấn đề phân loại các nhóm
Dao ở Việt Nam (1995).
Năm 1995, Hội thảo Quốc tế lần thứ VII với tiêu đề Sự phát triển văn
hóa xã hội của người Dao: Hiện tại và tương lai, được tổ chức tại Thái
Nguyên. Kỷ yếu Hội thảo đã tập hợp những bài viết của các học giả Việt Nam
và quốc tế đề cập đến các khía cạnh khác nhau trong đời sống của người Dao
ở Việt Nam cũng như ở một số nước trên thế giới như: phân loại nhóm Dao,
tình hình dân số, vấn đề giới, các vấn đề về văn hoá vật thể và phi vật thể...
Về nhà ở và trang phục của người Dao, trước hết là công trình nghiên
cứu của Nguyễn Khắc Tụng: Nhà ở của người Dao, xưa và nay (1996), của
Lê Ngọc Thắng: Nữ phục Dao ở Việt Nam- phong cách và cá tính (1990), của
Phạm Minh Phúc: Nhà ở của người Dao Áo Dài ở Hà Giang (2014)…
Về tôn giáo, tín ngưỡng, đáng chú ý là công trình Thầy cúng trong văn
hoá tín ngưỡng của người Dao Họ (2014) của Phạm Văn Dương. Trong công
trình nghiên cứu công phu này, tác giả đã không chỉ mô tả rất cụ thể các hình

với tiêu đề Biến đổi trong hôn nhân và ảnh hưởng của nó tới văn hóa gia đình
người Dao Quần Chẹt ở xã Ba Vì, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây của Vũ Thị Uyên
(2008); khóa luận tốt nghiệp cử nhân Hôn nhân của người Dao Tiền ở xã Hiền
Lương, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình của Nguyễn Đức Trị (2014)...
Như vậy, cho đến nay, mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về dân tộc Dao và
văn hóa của một số nhóm Dao, tuy nhiên chưa có tác giả nào đi sâu nghiên
cứu về hôn nhân của nhóm Dao Quần Chẹt ở Việt Nam nói chung và ở Vĩnh
phúc nói riêng. Tác giả luận văn là người đầu tiên nghiên cứu về hôn nhân
hiện nay của người Dao Quần Chẹt ở làng Thành Công, xã Lãng Công, huyện
Sông lô, tỉnh Vĩnh Phúc.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Trình bày có hệ thống bức tranh về hôn nhân của người Dao Quần
Chẹt ở làng Thành Công, góp phần làm rõ đặc điểm văn hóa trong hôn nhân
của một nhóm địa phương ở dân tộc Dao.
5


- Chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng đến hôn nhân của người Dao Quần
Chẹt ở làng Thành Công.
- Đưa ra một số khuyến nghị nhằm góp phần bảo tồn và phát huy các
giá trị văn hóa truyền thống trong hôn nhân của người Dao Quần Chẹt.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận văn tập trung nghiên cứu những quan niệm, nguyên tắc, hình
thức, các bước thực hành trong nghi lễ hôn nhân, vấn đề cư trú sau hôn nhân...
của người Dao Quần Chẹt.
- Nghiên cứu những biến đổi trong hôn nhân hiện nay và các yếu tố tác
động đến sự biến đổi này ở người Dao Quần Chẹt.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu

5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài luận văn này, tác giả sử dụng các phương pháp
nghiên cứu sau:
- Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu có sẵn: Tác giả đã đọc
các công trình nghiên cứu về dân tộc Dao, trong đó có nhóm Dao Quần Chẹt
ở Vĩnh Phúc. Các nghiên cứu này được in thành sách, các bài báo đăng trên
tạp chí chuyên ngành, luận án, luận văn, báo cáo tập sự, báo cáo khoa học tại
các hội nghị, hội thảo, trong đó có đề cập đến hôn nhân và gia đình của người
Dao nói chung, nhóm Dao Quần Chẹt nói riêng. Ngoài ra, các tài liệu thứ cấp
như báo cáo, số liệu về dân số, dân tộc, niên giám thống kê liên quan đến
người Dao cũng được tác giả lưu tâm và tham khảo phục vụ cho nội dung
nghiên cứu của luận văn.
- Phương pháp điền dã dân tộc học: Đây là phương pháp chủ đạo được
tác giả sử dụng để thu thập tư liệu, thông tin cho luận văn, với các thao tác kỹ
thuật như sau:
+ Quan sát tham dự: Việc quan sát được thực hiện trong suốt quá trình
nghiên cứu tại thực địa tại làng Thành Công, giúp tác giả dễ hòa nhập với
người dân và cộng đồng, hiểu được sâu sắc hơn về văn hóa và hôn nhân của
người Dao Quần Chẹt tại địa bàn nghiên cứu.
7


+ Phỏng vấn sâu: Công cụ này đã được tác giả luận văn áp dụng cho
nhiều đối tượng là người Dao Quần Chẹt ở làng Thành Công. Người được
phỏng vấn sâu khác nhau về giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp và địa vị xã hội.
Trong đó, đối tượng được tác giả quan tâm nhiều hơn là những người cao
tuổi, minh mẫn, am hiểu phong tục tập quán, những người làm thầy cúng, mai
mối và gia đình hai bên cô dâu, chú rể. Ngoài ra, tác giả còn phỏng vấn những
người trẻ tuổi để tìm hiểu quan niệm của họ về lựa chọn người bạn đời, đồng
thời thấy được xu hướng biến đổi trong hôn nhân của người Dao Quần Chẹt ở

lưu trữ ở địa phương.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn là nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên, có hệ thống dưới góc độ
Dân tộc học về hôn nhân hiện nay của người Dao Quần Chẹt ở làng Thành
Công, xã Lãng Công, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc. Qua đó giúp người đọc
thấy rõ một số nét đặc trưng văn hóa của nhóm Dao quần Chẹt và sự đa dạng
văn hóa của tộc người Dao ở nước ta.
Luận văn cung cấp thêm những thông tin, tư liệu mới về hôn nhân của
người Dao Quần Chẹt làm cơ sở khoa học cho việc xây dựng và cụ thể hóa
chính sách bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa tộc người cũng như thực hiện
Luật Hôn nhân và gia đình hiện ở nhóm Dao Quần Chẹt hiện nay.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn
được kết cấu thành 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và khái quát về người Dao Quần Chẹt ở làng
Thành Công
Chương 2: Đặc điểm hôn nhân của người Dao quần Chẹt
Chương 3: Phong tục tập quán và nghi lễ trong hôn nhân của người
Dao Quần Chẹt
Chương 4: Bảo tồn và phát huy các giá trị hôn nhân của người Dao
Quần Chẹt

9


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI DAO QUẦN CHẸT
Ở LÀNG THÀNH CÔNG
1.1. Cơ sở lý thuyết
1.1.1 Một số khái niệm công cụ

Như vậy, lý thuyết về giao lưu, tiếp biến văn hóa cho thấy biến đổi là
quá trình tất yếu của mọi sự vật và hiện tượng, trong đó bao gồm cả văn hóa
tộc người nói chung và hôn nhân nói riêng. Ngày nay, dưới sự tác động của
quá trình phát triển, hiện đại hóa, toàn cầu hóa và xu hướng hội nhập đang
diễn ra mạnh mẽ thì sự giao lưu, biến đổi văn hóa của các tộc người, trong đó
có hôn nhân của người Dao Quần Chẹt là không tránh khỏi. Do đó, khi nghiên
cứu văn hóa tộc người, trong đó có các quan niệm, nguyên tắc, đặc điểm và
các nghi lễ trong hôn nhân của người Dao Quần Chẹt ở làng Thành Công, tác
giả luận văn không thể chỉ xem xét vấn đề này một cách biệt lập hay trong
trạng thái tĩnh, mà luôn đặt chúng trong trạng thái động, trong quá trình biến
đổi, tiếp biến.
- Lý thuyết về nghi lễ chuyển đổi: Là nghi lễ đánh dấu sự thay đổi địa vị
xã hội của con người do nhà dân tộc học người Pháp Arnold Van Gennep
(1873-1975) đưa ra vào thế kỷ XX. Nghi lễ chuyển đổi thường đi kèm với
những nghi lễ xung quanh những sự kiện liên quan đến đời người như việc ra
đời của đứa trẻ, tuổi vào đời, hôn lễ, thượng thọ. Tác giả luận văn đã vận
dụng lý thuyết về nghi lễ chuyển đổi để nghiên cứu việc thực hành các nghi lễ
hôn nhân của người Dao Quần Chẹt ở làng Thành Công.
1.2. Khái quát về xã Lãng Công.
1.2.1. Điều kiện tự nhiên
Xã Lãng Công tiếp giáp với huyện Sơn Dương (tỉnh Tuyên Quang) và
với xã Quang Yên cùng huyện Sông Lô ở phía Bắc; phía Đông tiếp giáp các
xã Quang Sơn, Ngọc Mỹ của huyện Lập Thạch; phía Nam tiếp giáp các xã
Đồng Quế, Nhân Đạo, phía Tây tiếp giáp xã Hải Lựu. Địa hình của xã Lãng
Công khá phức tạp, phía Tây là vùng gồi đò nhấp nhô, phía Đông là dãy núi
Sáng trùng điệp, chạy dọc giữa xã là những cánh đồng ruộng bậc thang, thuận
lợi cho việc trồng trọt của nhân dân.
Địa bàn của xã Lãng Công trải từ Bắc xuống Nam dài trên 4km và từ
Đông sang Tây hơn 5km, với tổng diện tích tự nhiên là 2053,3ha, trong đó,
13


14


tăng diện tích sử dụng lên từ 2,3 đến 2,5 lần và tăng tổng sản lượng từ 15 đến
30 tấn thóc/năm.
Trồng trọt phát triển đã tạo điều kiện cho chăn nuôi gia đình phát triển.
Chăn nuôi gà, lợn, vịt, ngan, trâu, bò, dê… vẫn được các gia đình duy trì để
phục vụ cải thiện bữa ăn của gia đình và đặc biệt trong các nghi lễ đám cưới,
đám ma, cấp sắc… Trong 5 năm qua, phong trào chăn nuôi ở địa phương cơ
bản vẫn được phát triển tốt, có nhiều mô hình chăn nuôi gia đình theo hướng
sản xuất hàng hoá cho hiệu quả kinh tế cao. Tỷ trọng thu từ chăn nuôi trong
tổng giá trị thu nhập từ sản xuất nông nghiệp hàng năm vẫn đạt khá (năm
2010 là 55,3%; năm 2013 là 61,3%, năm 2014 là 63,7%) vượt chỉ tiêu đã
được Đại hội nhiệm kỳ đề ra.
Cùng với sự phát triển của trồng trọt, chăn nuôi, các ngành nghề khác
mở ra trước đây cũng được duy trì và phát triển có chiều hướng gia tăng rõ rệt
như: sản xuất gạch, ngói đã thu hút nhiều lao động tham gia và đáp ứng nhu
cầu xây dựng cơ sở hạ tầng ngày càng tăng của địa phương.
Các cấp uỷ Đảng và chính quyền thường xuyên chỉ đạo phát triển kinh
tế địa phương bằng cách áp dựng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất,
các giống cây có năng suất, chất lượng cao. Năng suất lúa bình quân hàng
năm đều vượt kế hoạch đề ra: năm 2010 là 51,4 tạ/ha/vụ; năm 2011 đạt 54,16
tạ/ha/vụ; năm 2012 đạt 56,94 tạ/ha/vụ; năm 2014 đạt 57,67 tạ/ha/vụ. Trong
đó, có những giống lúa cho năng suất, chất lượng cao như BC15 có vụ cho
năng suất bình quân lên tới 69,9 tạ/ha/vụ.
Thu nhập từ kinh tế rừng, vườn đồi của xã cũng có sự tăng trưởng rõ
rệt, cụ thể năm 2010 tổng thu đạt 2,889 tỷ đồng; năm 2012 là 3,4 tỷ đồng,
năm 2013 là 4,756 tỷ đồng.
Chính quyền xã cũng quan tâm đầu tư về hoạt động tiểu thủ công

thu nhập đầu người là 24,5 triệu, tỷ lệ hộ nghèo còn 3,2%. Đặc biệt chính
quyền xã Lãng Công đã lãnh đạo thực hiện tốt chương trình quốc gia về xây
dựng nông thôn mới trên địa bàn xã. Vì vậy đã góp phần giữ vững ổn định
chính trị, kinh tế - xã hội tăng trưởng và có những bước phát triển khá; quốc
phòng, an ninh được giữ vững, an sinh xã hội được đảm bảo, diện mạo nông
16


thôn ngày một đổi mới; đời sống cả về vật chất lẫn tinh thần của nhân dân
được nâng lên rõ rệt. [5, tr. 2-5].
1.3. Người Dao Quần Chẹt ở làng Thành Công
1.3.1. Nguồn gốc và lịch sử lập làng
Thành Công là một trong 10 làng của xã Lãng Công - một xã miền núi của
huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc, cách trung tâm huyện gần 10 km về phía Bắc.
Theo thống kê của xã Lãng Công, cho đến năm 2014 làng Thành Công
có 165 hộ với gần 1000 người Dao sinh sống. Họ thuộc nhóm Dao Quần
Chẹt, gồm 5 dòng họ: Dương, Triệu, Đặng, Phùng và Bàn, trong đó, các dòng
họ Dương, Triệu có nhân khẩu đông hơn cả.
Người Dao ở làng Thành Công tự nhận mình là Miền. Theo lời kể của
một số người Dao Quần Chẹt ở làng Thành Công thì người Dao ở đây có
nguồn gốc từ Quảng Đông, Trung Quốc. Tổ tiên lâu đời nhất của họ đã đến
sinh sống ở làng Thành Công hơn 100 năm trước đây. Theo Nguyễn Ngọc
Thanh và cộng sự, nguyên nhân người Dao di cư sang Việt Nam là do thiếu
đất canh tác, chiến tranh, dịch bệnh. Họ đã đến Hoành Bồ, Quảng Ninh, sinh
sống được bốn đời nhưng sau đó gặp khó khăn họ lại chuyển về Kim Bôi,
Hoà Bình được hai đời rồi cũng do thiếu đất canh tác, người Dao Quần Chẹt
lại chuyển đi và tới Thành Công và lưu lại đó cho đến ngày nay [51, tr. 19].
Người Dao ở làng Thành Công kể lại rằng, họ Dương di cư đến đây sớm nhất,
lúc đó có khoảng 5-6 gia đình, đến nay đã được 6 đời. Tiếp đến là họ Triệu và
họ Đặng. Các dòng họ đầu tiên này đã cùng nhau lập miếu thờ thần nông, thờ

Hiện nay, người Dao Quần Chẹt ở làng Thành Công trồng hai vụ lúa/
năm: vụ Đông Xuân và vụ mùa. Do được đầu tư máy cày, máy bừa để sản
xuất nên năng suất và giá trị thu được từ sản xuất nông nghiệp không ngừng
tăng cao (thôn có 17 máy cày và máy bừa, 3 máy vò, 5 máy xay sát). Trong
năm 2012, tổng sản lượng cây có hạt là 256 tấn. Năm 2014 đạt 288 tấn, trung
bình 50 tạ/ha/vụ. Năm 2014 giá trị thu đạt 12.350.000 đồng, đến năm 2014
đạt 114.360.000 đồng. [6, tr. 4-5].
Bên cạnh cây nông nghiệp, loại cây dược liệu được trồng khá phổ biến
ở làng Thành Công là cây đinh lăng (lá to), một loại cây thích hợp với vườn
18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status