TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
KHOA VĂN HÓA HỌC
DƯƠNG MẠNH THẮNG
VĂN HÓA SINH THÁI CỦA NGƯỜI DAO QUẦN CHẸT
TẠI VƯỜN QUỐC GIA BA VÌ – XÃ BA VÌ
HUYỆN BA VÌ – HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGÀNH VĂN HÓA HỌC
Hà Nội - 2014
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
KHOA VĂN HÓA HỌC
DƯƠNG MẠNH THẮNG
VĂN HÓA SINH THÁI CỦA NGƯỜI DAO QUẦN CHẸT
TẠI VƯỜN QUỐC GIA BA VÌ – XÃ BA VÌ
HUYỆN BA VÌ – HÀ NỘI
Chuyên ngành: Nghiên cứu Văn hóa
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGÀNH VĂN HÓA HỌC
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: TH.S. NGUYỄN THÀNH NAM
Hà Nội - 2014
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được nhiều sự quan
tâm, giúp đỡ và động viên. Vì vậy tôi xin gửi lời cảm ơn đến những người đã
dõi theo và sát cánh bên tôi, giúp tôi hoàn thành đề tài của mình.
Đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Thạc sĩ Nguyễn
Thành Nam, giảng viên khoa Văn hóa học, trường Đại học Văn hóa Hà Nội.
9XYX#' !#-$%-Z [*\#]#^_+`-T#!a#W
!,-!*Z-bc#.#WV
d##4e#'&f!gbc#.#
!45#
N8O>?>hHi<>?>K?
?PQ<=>8>>?BCDEA>F
G<BCA<H
?>?><<=>8>>?BCDEA>FG<BCA
<H'IJ<H'>KL<HM>N
\%\-jk+l#!m.Y#!-!\%n.#4oD.A*"#!p--!q!,#-4-4(#YX#!r.!U +`
-T#!a#V
\%\-jk+l#!m.Y#!-!\%n.#4oD.A*"#!p-m !"#s1+,'%1-t-T#!a#
-!u!4`#v%!%T%w
W
\%\-jk+l#!m.Y#!-!\%n.#4oD.A*"#!p-m !"#-!x%)yz !\--jq#0#!
-{'^|!g}
O>?OE~<>?>K??PQ<=>8>>?BCDEA
>FG<BCA<H
1 !\ -• !d.%g#)3##4oD.A*"#!p--t0!*+T%<4o#[*X%..<€
1 !\ -• !d.%\%%• %!d#![*z2#
OE~<>?>K<=>8>>?BCDEA>F>B‚ƒ8„
>?PR<iG<BCA<H'IJ<H'>KL<HM>NV}
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Môi trường tự nhiên là điều kiện sống vô cùng quan trọng và không thể
thiếu của con người. Con người là một phần của giới tự nhiên, muốn tồn tại
được con người cần phải thích ứng và hòa hợp với môi trường tự nhiên. Ngày
nay, khi môi trường đã trở thành vấn đề của toàn cầu vẫn tồn tại hai quan
điểm đối lập nhau: một là tuyệt đối hóa việc bảo vệ môi trường đến mức cực
động của con người không phải là vô hạn, bên cạnh việc sử dụng, khai thác tự
nhiên, con người còn phải bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường, phải
“chung sống hài hòa” với tự nhiên.
Ở Việt Nam hiện nay, sự phát triển kinh tế cũng là một trong những
trọng tâm phát triển đất nước hướng tới sự nghiệp Công nghiệp hóa – hiện đại
hóa. Việc phát triển kinh tế chủ yếu tập trung ở các khu vực trọng điểm và
đều là các thành phố lớn, các khu đô thị. Bên cạnh đó, nhiều khu vực rừng núi
lại gặp nhiều khó khăn trong việc phát triển kinh tế. Nhưng cũng chính những
khu vực rừng núi là nơi sinh sống của các dân tộc thiểu số lại có những giá trị
văn hóa sinh thái được hình thành từ lâu đời và đang được lưu giữ, trao truyền
qua nhiều thế hệ. Các giá trị văn hóa sinh thái này đang chịu tác động mạnh từ
nền kinh tế thị trường, khoa học kỹ thuật, hội nhập và đổi mới theo cả hướng
tích cự và tiêu cực. Một vấn đề cấp thiết đặt ra đó là phát triển kinh tế, cải
thiện đời sống cộng đồng các tộc người thiểu số nhưng vẫn giữ lại các giá trị
văn hóa sinh thái quý giá trở thành bài học giáo dục cho sự phát triển kinh tế
phải gắn liền với bảo vệ môi trường tự nhiên.
V
Khu vực Vườn Quốc gia Ba Vì thuộc xã Ba Vì – huyện Ba Vì – Hà Nội
là nơi sinh sống của cộng đồng người Dao Quần Chẹt. Trải qua thời gian dài
sinh sống tại đây, người Dao Quần Chẹt đã hình thành nên những nét văn hóa
sinh thái đặc thù. Những giá trị văn hóa sinh thái này được lưu truyền trong
cồng đồng người Dao Quần Chẹt từ đời này qua đời khác, nó gắn liền với
cuộc sống sinh hoạt hằng ngày của họ. Với phương thức sinh hoạt kinh tế
nông nghiệp nương rẫy và săn bắn hái lượm, cộng đồng người Dao Quần Chẹt
phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên. Đối với họ thiên nhiên là nguồn sống, là yếu
tố quyết định đến sự tồn vong và phát triển của họ. Những giá trị văn hóa sinh
thái đó được xem như văn hóa ứng xử của người Dao Quần Chẹt với môi
trường, văn hóa sinh thái góp phần định hướng, điều chỉnh hành vi của con
người tác động đến tự nhiên. Người Dao Quần Chẹt tận dụng, khai thác tự
nhiên phục cho cuộc sống của mình, đồng thời họ cũng bảo vệ và cải tạo tự
những kiến thức cần thiết, sự am hiểu về văn hóa vật thể và văn hóa phi vật
thể của người Dao. Nhưng những nhóm Dao ở địa phương lại có nhiều bản
sắc riêng. Chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể về nhóm Dao Quần Chẹt
ở khu vực Vườn quốc gia Ba Vì – xã Ba Vì – huyện Ba Vì – Hà Nội.
Nghiên cứu vấn đề về môi trường và sinh thái ở nước ta ít được đề cập
đến. Vấn đề này chỉ thực sự được quan tâm ở những thập niên cuối của thế kỉ
XX cho đến nay, đó là khi chúng ta nhận thấy được tầm quan trọng của việc
bảo vệ môi trường tự nhiên, môi trường sinh thái gắn liền với sự tăng trưởng
kinh tế, phát triển bền vững đất nước. Có thể kể đến các công trình như: Môi
trường sinh thái – Vấn đề và giải pháp của Phạm Ngọc Trầm (Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia Hà Nội 1997); Sinh thái học và môi trường của Bộ Giáo
dục và Đào tạo (Nhà xuất bản giáo dục, Hà Nội, 2002); Sinh thái và môi
trường – Nguyễn Văn Tuyên (Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1998)… Từ
các công trình này, vấn đề sinh thái học và môi trường được quan tâm, đồng
}
thời các cảnh báo và dự đoán xu hướng cho các vấn đề về môi trường đặc biệt
quan tâm. Đó như là những hồi chuông cảnh tỉnh cho sự lạm dụng khai thác
thiên nhiên một cách không khoa học ở nước ta.
Vấn đề về văn hóa sinh thái chỉ thực sự được quan tâm trong thời gian
gần đây khi liên tiếp những sự việc, những vấn đề về môi trường có liên quan
đến văn hóa xảy ra. Một số công trình tiêu biểu có thể kể đến như: Văn hóa
sinh thái – Nhân văn của Trần Lê Bảo chủ biên (Nhà xuất bản Văn hóa –
Thông tin, Hà Nội, 2001); Một số vấn đề về văn hóa sinh thái ở miền núi phía
Bắc nước ta hiện nay – Trần Thị Hồng Loan (2002); Vấn đề văn hóa sinh thái
trong sự phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay – Trần Thị Hồng Loan,
Luận án Tiến sĩ, Viện Khoa học Xã hội, 2012… Nhìn chung các công trình
nghiên cứu trên vấn đề văn hóa sinh thái chỉ được đề cập đến dưới góc độ là
tác động của con người vào tự nhiên, hay mối quan hệ giữa phát triển kinh tế
và bảo vệ môi trường.
Tuy có nhiều công trình nghiên cứu về người Dao và văn hóa sinh thái,
bộ địa phương có những giải pháp thiết thực, hợp lý nhằm bảo lưu các giá trị
văn hóa sinh thái truyền thống đang dần mai một.
Nhiệm vụ của đề tài:
Để thực hiện các mục tiêu trên, đề tài cần thực hiện những nhiệm vụ:
Nghiên cứu cơ sở lý thuyết về sinh thái học, văn hóa sinh thái của người
Dao Quần Chẹt ở Vườn Quốc gia Ba Vì, xã Ba Vì – huyện Ba Vì – Hà Nội
nói riêng và văn hóa sinh thái nói chung để đưa ra những nhận định về các giá
trị văn hóa sinh thái.
Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa sinh
thái truyền thống, đòng thời hướng đến sự phát triển bền vững của người Dao
Quần Chẹt tại Vườn quốc gia Ba Vì.
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp luận: Là phương pháp nghiên cứu duy vật lịch sử, duy
vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lê Nin nhằm phân tích, đánh giá những
giá trị văn hóa sinh thái của người Dao Quần Chẹt và sự tác động của những
giá trị văn hóa sinh thái đó đến đời sống văn hóa tinh thần, sinh hoạt xã hội,
kinh tế… của cộng đồng người Dao Quần Chẹt tại khu vực Vườn quốc gia Ba
Vì, xã Ba Vì – Hà Nội.
Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Phương pháp nghiên cứu liên
ngành Văn hóa học với Dân tộc học được vận dụng để nghiên cứu về người
Dao Quần Chẹt tại xã Ba Vì, huyện Ba Vì – Hà Nôi.
Phương pháp phân tích tổng hợp: Phương pháp này được áp dụng
nhằm hệ thống các thông tin, tư liệu thu thập được thông qua việc nghiên
cứu lý thuyết, thư tịch, tài liệu và phỏng vấn trực tiếp về người Dao Quần
Chẹt ở xã Ba Vì – huyện Ba Vì – Hà Nội. Phân tích nhằm làm rõ các vấn
đề từ nhiều góc độ, tổng hợp và khái quát vấn đề giúp tác giả dễ dàng nắm
bắt thông tin.
Phương pháp điền dã: Đây là phương pháp chủ yếu được sử dụng để
thực hiện đề tài. Từ việc nghiên cứu thực địa khu vực Vườn quốc gia Ba
XÃ BA VÌ, HUYỆN BA VÌ – HÀ NỘI
1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ VĂN HÓA SINH THÁI
1.1.1 Thuyết sinh thái văn hóa và khái niệm văn hóa sinh thá
Thuyết sinh thái văn hóa: (Cultural ecology)
Thuyết sinh thái văn hóa, tức thuyết Tiến hóa đa tuyến hay Tiến hóa đa
hệ (Multilinear evolution) được cho là ra đời vào khoảng năm 1950, tập trung
nghiên cứu mối liên hệ giữa con người – môi trường – văn hóa, gắn liền với
tên tuổi của nhà nhân học người Mỹ Julian Steward (1902 – 1972). Phương
pháp của sinh thái văn hóa có nhiệm vụ làm rõ quan hệ giữa văn hóa với môi
trường tự nhiên từ quan điểm con người là chủ thể tồn tại, thích ứng với môi
trường thông qua văn hóa, còn văn hóa thì chịu ảnh hưởng lớn của các loại tài
nguyên môi trường mà con người sử dụng. Trong những khu vực khác nhau
nhưng có môi trường giống nhau và phương thức khai thác môi trường giống
nhau thì có khả năng có những nền văn hóa giống nhau phát triển song hành.
Chính vì hiện tượng phát triển song hành như vậy của văn hóa mà Julian
Steward còn đặt tên khác cho lý thuyết của mình là thuyết Tiến hóa đa hệ. Khi
sử dụng thuyết Sinh thái văn hóa cần quan tâm đến tương quan giữa văn hóa
và môi trường, coi môi trường là nhân tố quan trọng trong học thuyết. Tiến
hóa đa tuyến đồng nghĩa với việc thích nghi những yếu tố nòng cốt của văn
hóa như tổ chức xã hội, cơ cấu chính trị, tôn giáo… là những yếu tố chịu ảnh
hưởng trực tiếp của môi trường cụ thể, chứ không xem trọng những yếu tố
văn hóa nghệ thuật mà Steward xem là những yếu tố không nòng cốt, không
chịu ảnh hưởng gì mấy của môi trường.
Con người trải nghiệm cuộc sống của mình và phải thích nghi với các
môi trường tự nhiên thông qua bối cảnh văn hóa. Sinh thái văn hóa là các
dạng thức văn hóa hình thành và phát triển tương ứng với những môi trường
nhất định như sinh thái biển đảo, sinh thái đồng bằng châu thổ, sinh thái cao
nguyên… Ở Việt Nam có rất nhiều loại hình sinh thái tự nhiên tương ứng với
các khu vực cư trú của các tộc người. Những tộc người sinh sống lâu đời tại
tiêu biểu cho trình độ đạt được trong lịch sử phát triển xã hội”.
Ở Việt Nam, trên cơ sở phân tích các định nghĩa về văn hóa, GS.Trần
Ngọc Thêm đã đưa ra định nghĩa về văn hóa: “Văn hóa là một hệ thống hữu
cơ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua
quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi
trường tự nhiên và môi trường xã hội của mình”. [12; tr.10]
Văn hóa được xem là những giá trị, bao gồm cả giá trị vật chất hoặc tinh
thần được con người tích lũy và sáng tạo trong hoạt động sống, thích ứng với
môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Con người vừa là chủ thể, vừa là
khách thể của văn hóa. Những sản phẩm văn hóa được con người tạo ra nhằm
mục đích phục vụ cho chính cuộc sống của con người.
Như vậy, hiểu theo một cách khái quát nhất: “Văn hóa là những giá trị
vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình hoạt động
sống nhằm phục vụ cho nhu cầu và lợi ích của con người. Các giá trị văn hóa
được lưu giữ và truyền thụ từ đời này qua đời khác”.
Còn “Sinh thái” trong tiếng Hi Lạp là “Oikos” có nghĩa là nhà ở, nơi cư
trú, nơi sinh sống của mọi sinh vật, trog đó có cả con người. Môi trường sinh
thái chính là ngôi nhà của các loài sinh vật, là môi trường sống. Dưới góc độ
sinh thái học, môi trường sinh thái bao gồm các yếu tố: Thổ quyển, thủy
quyển, khí quyển và các loài sinh vật. Đây là những yếu tố quan trọng không
thể thiếu trong một hệ sinh thái.
Từ sự tìm hiểu về “văn hóa” và “sinh thái” có nhiều quan niệm về văn
hóa sinh thái khác nhau được đưa ra:
Một cách khái quát có thể hiểu: “Văn hóa sinh thái là tất cả những giá
trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình tác động và
cải biến tự nhiên nhằm tạo ra một môi trường sống tốt hơn”.
Theo TS. Trần Thị Hồng Loan: “Văn hóa sinh thái là toàn bộ những
phương thức và những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo,
tích lũy và phát triển trong quá trình ứng xử với các loài sinh vật khác, nhằm
hóa sinh thái xét về nguồn gốc chính là sự sáng tạo của con người trong quá
trình tác động và cải tạo tự nhiên vì sự tồn tại và phát triển của chính con
V
người. Văn hóa sinh thái được thể hiện thông qua chính trình độ nhận thức
của con người đối với tự nhiên, qua những hành vi ứng xử của con người với
tự nhiên.
Tuy nhiên, không phải mọi hoạt động, tác động của con người cải biến
môi trường tự nhiên đều trở thành giá trị văn hóa sinh thái. Những giá trị văn
hóa sinh thái được hình thành và lưu giữ, truyền từ thế hệ này sang thế hệ
khác tự chứng minh được sự tốt đẹp của nó cũng như sự cần thiết đối với
cuộc sống của con người. Những giá trị văn hóa sinh thái truyền thống phải
tương đối ổn định, thể hiện được bản sắc của tộc người thông qua cách ứng
xử với môi trường tự nhiên.
1.1.2 Đặc trưng của văn hóa sinh thái
Văn hóa sinh thái cũng như văn hóa nói chung mang trong mình những
đặc trưng cơ bản:
Tính sáng tạo là đặc trưng thứ nhất của văn hóa sinh thái. Tính sáng tạo
của văn hóa sinh thái cũng như của văn hóa mà nói thì đây là đặc tính cốt lõi
nhất. Trong hoạt động cải biến tự nhiên phục vụ mục đích sống, con người
với tư duy đã sáng tạo ra các cách thức nhằm thích nghi với môi trường tự
nhiên. Con người có tư duy không ngừng sáng tạo ra những giá trị vật chất và
tinh thần, điều này đem đến sự thích nghi cao nhất với tự nhiên, đem lại lợi
ích cho cuộc sống của con người. Những sáng tạo này đã hình thành nên các
giá trị văn hóa sinh thái.
Tính nhân văn là đặc trưng thứ hai của văn hóa sinh thái. Tính nhân văn
được thể hiện thông qua hoạt động, hành vi của con người tác động vào môi
trường tự nhiên. Trong quá trình sống con người không ngừng khai thác và
tác động vào tự nhiên. Những hoạt động mang tính quá mức làm hủy hoại
môi trường tự nhiên, môi trường sống của các loài là trái với tính nhân văn.
Mọi hoạt động khai thác tự nhiên đều phải có một điểm dừng, phải có một
- Văn hóa sinh thái phi vật thể
Từ góc độ xã hội học, cấu trúc của văn hóa sinh thái bao gồm:
- Văn hóa sinh thái cá nhân
}
- Văn hóa sinh thái cộng đồng
Từ góc độ lịch sử, cấu trúc của văn hóa sinh thái bao gồm:
- Văn hóa sinh thái truyền thống
- Văn hóa sinh thái hiện đại
Giáo sư Trần Ngọc Thêm xem xét văn hóa dưới góc độ văn hóa ứng xử
đã đưa ra các cấu trúc văn hóa sau:
Văn hóa ứng xử
Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên Văn hóa ứng xử với môi trường
xã hội
Văn hóa tận dụng
môi trường tự nhiên
Văn hóa ứng phó với
môi trường tự nhiên
Văn hóa tận
dụng môi
trường xã hội
Văn hóa ứng
phó với môi
trường xã hội
Như vậy, cấu trúc văn hóa của Giáo sư Trần Ngọc Thêm có thể xem là
một cấu trúc văn hóa sinh thái. Theo đó, Giáo sư Trần Ngọc Thêm đã chỉ rõ
mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, con người là một phần của giới tự
nhiên. Sự tận dụng và ứng phó với môi trường tự nhiên của con người được
thể hiện trong cơ cấu bữa ăn, kiến trúc ngôi nhà ở, phương thức sản xuất, các
tập quán sinh hoạt… cũng chính là những biểu hiện của các giá trị văn hóa
sinh thái.
thiên nhiên. Trang phục không chỉ để bảo vệ, để che đi phần thân thể nhạy
cảm khi con người ý thức được về cái tôi tự trọng của mình mà nó còn thể
hiện được cái đẹp về hình thức bên ngoài và cái đẹp trong tâm hồn của mỗi
con người. Việc con người sử dụng các chất liệu từ thiên nhiên, thiết kế trang
phục và màu sắc thích hợp cho thây sự hài hòa giữa con người và tự nhiên.
Dược liệu: Đây cũng là một trong những giá trị của văn hóa sinh thái,
thể hiện mối quan hệ mật thiết giữa con người và tự nhiên. Tự nhiên không
chỉ cung cấp nguồn lương thực, dinh dưỡng cho con người, cung cấp cho con
người nguyên vật liệu làm nhà…mà với sự phong phú, đa dạng của thực vật
đã trở thành một kho thuốc quý báu giúp con người tồn tại, chống lại được
nhiều căn bệnh. Trải qua những quá trình lâu dài nghiên cứu, sử dụng thử
nghiệm trong cuộc sống con người đã biết được công dụng của các loài thảo
mộc, thực vật có ích trong việc chữa bệnh. Con người ngày càng biết được
nhiều tính năng, công dụng của nhiều loại động, thực vật khác nhau, và từ đó
vận dụng những động, thực vật này vào trong lĩnh vực y học để bảo vệ và
chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Con người cần phải nhận thức được rằng,
nguồn dược liệu không phải là vô tận nên bên cạnh việc khai thác, sử dụng nó
một cách hợp lý, phải có ý thức tái tạo lại những dược liệu đó trong chừng
mực. Những giá trị văn hóa sinh thái giúp con người nhận thức được điều này
và có những hành động thiết thực hơn với tự nhiên.
Ẩm thực: Việc con người lấy các sản vật từ tự nhiên làm thức ăn đã diễn
ra từ ngàn đời nay, ngay từ khi lịch sử loài người bắt đầu. Hầu hết các thức ăn
của con người đều là dạng vật chất tự nhiên được khai thác từ môi trường
sống. Nhưng mỗi tộc người sinh sống tại các khu vực, các vùng lãnh thổ khác
nhau lại có văn hóa ẩm thực khác nhau. Sở dĩ như vậy bởi họ chịu tác động,
ảnh hưởng của môi trường tự nhiên đến đời sống sinh hoạt của mình. Điều đó
chi phối cách thức chế biến các món ăn cũng như giới hạn các sản phẩm khai
thác từ thiên nhiên theo các khu vực nhất định. Điều này lý giải sự khác nhau
về khẩu vị của cư dân các vùng khác nhau, cũng giống như việc cư dân vùng
đó đã góp phần định hướng những hành vi và cách ứng xử của con người với
tự nhiên, thể hiện rõ văn hóa sinh thái của cộng đồng.
Nghệ thuật dân gian: Nghệ thuật là một hình thức biểu hiện của văn
hóa. Trong các tác phẩm nghệ thuật dân gian, yếu tố văn hóa sinh thái được
thể hiện thông qua các tác phẩm văn học. Các tác phẩm văn học có sự sáng
tác, ghi chép lại đều thể hiện tâm tư, tình cảm của con người đối với tự nhiên.
Chủ đề về tình yêu lứa đôi ít thấy trong các tác phẩm văn học dân gian nhưng
chủ đề về thiên nhiên, môi trường lại xuất hiện rất nhiều. Trong các thể loại
như truyện cổ tích, thần thoại, thơ ca… hình ảnh thiên nhiên và cách ứng xử
của con người đối với tự nhiên luôn được khắc họa, lột tả chân thực. Bởi lẽ,
trong thời kỳ đầu khi xã hội chưa đạt đến trình độ phát triển, con người chưa
trinh phục được các thửu thách của tự nhiên thì tự nhiên trở thành các thế lực
siêu nhiên, thần thánh mà con người phái tôn thờ, khuất phục. Các tác phẩm
văn học nghệ thuật không chỉ thể hiện sự hiểu biết của con người về tự nhiên
mà còn đánh dấu khả năng chinh phục tự nhiên của con người. Mặt khác, với
hình thức biểu đạt sinh động nhưng cũng đầy chất tư duy, trừu tượng, các thể
loại văn học, nghệ thuật dân gian truyền tải các gái trị văn hóa sinh thái đến
với người tiếp nhận một cách hết sức gần gũi, thân thuộc. Chính vì thế, nghệ
thuật dân gian góp phần gìn giữ và lưu truyền các giá trị văn hóa sinh thái.
Tín ngưỡng, lễ hội dân gian: Việt Nam là một đất nước nông nghiệp.
Việc phải phụ thuộc vào thiên nhiên trong hoạt động nông nghiệp từ sớm đã
hình thành trong tâm thức người Việt tín ngưỡng đa thần, vạn vật hữu linh.
Người Việt quan niệm rằng mọi sự vật, hiện tượng đều có sự sống và linh
hồn. Khi những thiên tai như bão, lũ lụt, hạn hán ập đến làm cho mùa màng bị
ảnh hưởng mà con người vẫn chưa giải thích được các hiện tượng đó một
cách khoa học thì họ trở nên tôn thờ các hiện tượng tự nhiên. Họ tôn thờ mây,
mưa, sấm chớp… Nhưng xét về bản chất thì đây chính là việc con người
không thể đối đầu với tự nhiên. Các tín ngưỡng sùng bái tự nhiên được ra đời.
Tín ngưỡng và lễ hội là hai thành tố không thể tách rời, chúng thường song
Mùn” được hiểu là “Người ở rừng”. Tên gọi này cũng chỉ là cách gọi phiếm
xưng rất chung chung bởi lẽ người cư trú ở khu vực rừng núi không chỉ có người
Dao mà còn có nhiều tộc người khác. Ở nước ta cũng có nhièu trường hợp tên
gọi như vậy như: Vân-kiều, Bru, Xinh mun… Trong nhiều thư tịch, sách cổ ngữ
của Trung quốc có đề cập đến tên “Dao” như trong Quế Hải Ngu Hành Chí có