1
VnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phí
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
KHOA VĂN HÓA HỌC
DƯƠNG MẠNH THẮNG
VĂN HÓA SINH THÁI CỦA NGƯỜI DAO QUẦN CHẸT
TẠI VƯỜN QUỐC GIA BA VÌ – XÃ BA VÌ
HUYỆN BA VÌ – HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGÀNH VĂN HÓA HỌC
Hà Nội - 2014
2
VnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phí
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
KHOA VĂN HÓA HỌC
DƯƠNG MẠNH THẮNG
VĂN HÓA SINH THÁI CỦA NGƯỜI DAO QUẦN CHẸT
TẠI VƯỜN QUỐC GIA BA VÌ – XÃ BA VÌ
HUYỆN BA VÌ – HÀ NỘI
Chuyên ngành: Nghiên cứu Văn hóa
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGÀNH VĂN HÓA HỌC
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: TH.S. NGUYỄN THÀNH NAM
Hà Nội - 2014
3
VnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phí
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được nhiều sự quan
tâm, giúp đỡ và động viên. Vì vậy tôi xin gửi lời cảm ơn đến những người đã
1.2.2 Khái quát về địa bàn sinh sống của người Dao Quần Chẹt 25
Chương 2. GIÁ TRỊ VĂN HÓA SINH THÁI CỦA NGƯỜI DAO QUẦN
CHẸT TẠI VƯỜN QUỐC GIA BA VÌ, XÃ BA VÌ – HUYỆN BA VÌ –
HÀ NỘI 28
2.1 GIÁ TRỊ VĂN HÓA SINH THÁI VẬT THỂ 28
2.1.1 Nhà ở 28
2.1.2 Trang phục 34
2.1.3 Ẩm thực 40
2.1.4 Dược liệu 44
2.2 GIÁ TRỊ VĂN HÓA SINH THÁI PHI VẬT THỂ 52
2.2.1 Lối sống, phong tục tập quán ứng xử với tự nhiên 52
2.2.2 Nghệ thuật dân gian 55
2.2.3 Tín ngưỡng, lễ hội dân gian 60
5
VnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phí
Chương 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM GÌN GIỮ VÀ PHÁT HUY
CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA SINH THÁI CỦA NGƯỜI DAO QUẦN
CHẸT TẠI VƯỜN QUỐC GIA BA VÌ 64
3.1 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ VĂN HÓA SINH THÁI CỦA NGƯỜI DAO
QUẦN CHẸT TẠI VƯỜN QUỐC GIA BA VÌ, XÃ BA VÌ, HUYỆN BA
VÌ – HÀ NỘI 64
3.1.1 Các giá trị văn hóa sinh thái của người Dao Quần Chẹt thể hiện tư tưởng
sống hòa hợp với tự nhiên 64
3.1.2 Các giá trị văn hóa sinh thái của người Dao Quần Chẹt góp phần bảo vệ,
cải tạo tự nhiên theo hướng tích cực 66
3.1.3 Các giá trị văn hóa sinh thái của người Dao Quần Chẹt góp phần thúc
đẩy phát triển kinh tế, xã hội 67
3.2 GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA
SINH THÁI CỦA NGƯỜI DAO QUẦN CHẸT TẠI VƯỜN QUỐC GIA
BA VÌ 68
hecta rừng trên thế giới bị tàn phá, khai thác khoáng sản làm biến đổi bề mặt
tự nhiên, môi trường sống của con người và sinh vật, phá hủy môi trường sinh
thái hay các khu công nghiệp mọc lên như nấm ở khắp các quốc gia khiến cho
bầu khí quyển bị ô nhiễm nghiêm trọng. Hiệu ứng nhà kính, thủng tầng ozôn
hay động đất, sóng thần… ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống được ví như
sự trừng phạt bởi cơn thịnh nộ của tự nhiên giáng xuống nhân loại. Từ một
7
VnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phí
góc độ nào đó ta có thể thấy sự phát triển về kinh tế đem lại những chuyển
biến cho xã hội, đánh dấu sự thành công trong việc trinh phục tự nhiên của
con người. Tuy nhiên, dưới góc độ sinh thái học chúng ta có thể thấy rằng
những thành công đó đang “chống lại” con người.
Trước những bức bách của vấn đề môi trường sinh thái, sự lo ngại về
triển vọng phát triển của con người trong hiện tại và tương lai, nhận thức về
tự nhiên, về mối quan hệ giữa tự nhiên, xã hội và con người đã có những thay
đổi căn bản. Thay vì coi tự nhiên là nguồn của cải vô tận và chỉ biết khai thác
từ đó những gì có lợi cho mình như trước đây, con người ngày nay đã nhận ra
rằng, tự nhiên là một thể thống nhất và sức chịu đựng của nó trước những tác
động của con người không phải là vô hạn, bên cạnh việc sử dụng, khai thác tự
nhiên, con người còn phải bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường, phải
“chung sống hài hòa” với tự nhiên.
Ở Việt Nam hiện nay, sự phát triển kinh tế cũng là một trong những
trọng tâm phát triển đất nước hướng tới sự nghiệp Công nghiệp hóa – hiện đại
hóa. Việc phát triển kinh tế chủ yếu tập trung ở các khu vực trọng điểm và
đều là các thành phố lớn, các khu đô thị. Bên cạnh đó, nhiều khu vực rừng núi
lại gặp nhiều khó khăn trong việc phát triển kinh tế. Nhưng cũng chính những
khu vực rừng núi là nơi sinh sống của các dân tộc thiểu số lại có những giá trị
văn hóa sinh thái được hình thành từ lâu đời và đang được lưu giữ, trao truyền
qua nhiều thế hệ. Các giá trị văn hóa sinh thái này đang chịu tác động mạnh từ
nền kinh tế thị trường, khoa học kỹ thuật, hội nhập và đổi mới theo cả hướng
Thêm; Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa – Ngô Đức Thịnh (Nhà xuất bản
Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993)…. Các công trình nghiên cứu này đề cập đến
vấn đề lý luận chung của văn hóa, tập trung vào việc nghiên cứu các hệ thống
9
VnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phí
lý thuyết, khái niệm, cấu trúc, đặc trưng của văn hóa. Đây là những công trình
cần thiết cung cấp những kiến thức cơ bản về văn hóa nói chung và định hình
văn hóa Việt Nam trong bối cảnh văn hóa khu vực.
Những công trình nghiên cứu về văn hóa của các dân tộc thiểu số cũng
được thực hiện rất nhiều. Nghiên cứu về văn hóa của tộc người Dao ở Việt
Nam có: Người Dao ở Việt Nam – Bế Viết Đẳng, Nguyễn Khắc Tụng,
Nguyễn Nam Tiến (1971); Xác minh tên gọi và phân nhóm các ngành Dao ở
Tuyên Quang – Phạm Hữu Dật, Hoàng Hoa Toàn (1971); Vấn đề phân loại
các nhóm Dao ở Việt Nam – Nguyễn Khắc Tụng (1995); Nhà cửa của người
Dao xưa và nay – Nguyễn Khắc Tụng (1977); Văn hóa truyền thống của
người Dao ở Hà Giang – Phạm Quang Hoan, Hùng Đình Quý (1999); Văn
hóa truyền thống các dân tộc ở Hà Giang – Hùng Đình Quý (Nhà xuất bản
Hà Giang, 1994)… Các công trình nghiên cứu trên đã khảo tả lại bức tranh
sinh động về lịch sử, văn hóa, phương thức sinh hoạt, tôn giáo, tín ngưỡng, tri
thức dân gian… của người Dao ở Việt Nam. Qua đó, cung cấp cho chúng ta
những kiến thức cần thiết, sự am hiểu về văn hóa vật thể và văn hóa phi vật
thể của người Dao. Nhưng những nhóm Dao ở địa phương lại có nhiều bản
sắc riêng. Chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể về nhóm Dao Quần Chẹt
ở khu vực Vườn quốc gia Ba Vì – xã Ba Vì – huyện Ba Vì – Hà Nội.
Nghiên cứu vấn đề về môi trường và sinh thái ở nước ta ít được đề cập
đến. Vấn đề này chỉ thực sự được quan tâm ở những thập niên cuối của thế kỉ
XX cho đến nay, đó là khi chúng ta nhận thấy được tầm quan trọng của việc
bảo vệ môi trường tự nhiên, môi trường sinh thái gắn liền với sự tăng trưởng
kinh tế, phát triển bền vững đất nước. Có thể kể đến các công trình như: Môi
trường sinh thái – Vấn đề và giải pháp của Phạm Ngọc Trầm (Nhà xuất bản
thái phi vật thể.
11
VnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phí
Giá trị văn hóa sinh thái vật thể cần xem xét và nghiên cứu về: kiến trúc,
nhà ở, ẩm thực, trang phục, dược liệu, đồ dùng sinh hoạt.
Giá trị văn hóa phi vật thể cần nghiên cứu: đạo đức sinh thái, phong tục,
tập quán ứng xử với tự nhiên, nghệ thuật dân gian, lễ hội và tín ngưỡng dân
gian.
Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi về không gian của đề tài là khu vực Vườn Quốc gia Ba Vì thuộc
xã Ba Vì – huyện Ba Vì – Hà Nội.
Phạm vi về thời gian được xác định khi nghiên cứu các giá trị văn hóa
sinh thái truyền thống là những giá trị được hình thành và ổn định từ trước
Cách mạng tháng Tám năm 1945 và hiện nay là những giá trị được hình thành
trong những năm đổi mới có sự tác động, ảnh hưởng bởi các chính sách quản
lý của Nhà nước.
4. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
Mục đích của đề tài:
Thông qua việc điều tra, nghiên cứu các giá trị văn hóa sinh thái của
người Dao Quần Chẹt tại khu vực Vườn Quốc gia Ba Vì, xã Ba Vì – huyện
Ba Vì – Hà Nội đề tài nhằm khẳng định những nét đẹp và giá trị văn hóa sinh
thái truyền thống của tộc người Dao Quần Chẹt. Từ đó góp phần giúp các cán
bộ địa phương có những giải pháp thiết thực, hợp lý nhằm bảo lưu các giá trị
văn hóa sinh thái truyền thống đang dần mai một.
Nhiệm vụ của đề tài:
Để thực hiện các mục tiêu trên, đề tài cần thực hiện những nhiệm vụ:
Nghiên cứu cơ sở lý thuyết về sinh thái học, văn hóa sinh thái của người
Dao Quần Chẹt ở Vườn Quốc gia Ba Vì, xã Ba Vì – huyện Ba Vì – Hà Nội
nói riêng và văn hóa sinh thái nói chung để đưa ra những nhận định về các giá
trị văn hóa sinh thái.
6. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài bước đầu chỉ ra những giá trị văn hóa sinh thái truyền thống của
người Dao Quần Chẹt tại Vườn quốc gia Ba Vì, xã Ba Vì – huyện – Ba
Vì – Hà Nội. Qua đó chỉ ra những nét đẹp cần lưu giữ, bảo tồn và phát huy
trong thời kỳ đổi mới đất nước trong văn hóa sinh thái của người Dao Quần
Chẹt nơi đây.
Đề tài cung cấp những thông tin chính xác làm tư liệu tham khảo để
các nhà nghiên cứu, các cán bộ văn hóa hay các cán bộ hoạch định chính
sách từ đó đưa ra những phương án bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa sinh
thái truyền thống của người Dao Quần Chẹt, gắn với việc phát triển bền
vững của người Dao Quần Chẹt tại khu vực Vườn quốc gia Ba Vì, xã Ba
Vì – huyện – Ba Vì – Hà Nội.
7. BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần Mục lục, Mở đầu và Tài liệu tham khảo đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về văn hóa sinh thái và khái quát về người Dao
Quần Chẹt tại Vườn quốc gia Ba Vì, xã ba Vì – huyện Ba Vì – Hà Nội
Chương 2: Giá trị văn hóa sinh thái truyền thống của người Dao Quần
Chẹt tại Vườn quốc gia Ba Vì, xã Ba Vì, huyện Ba Vì – Hà Nội
Chương 3: Một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn
hóa sinh thái truyền thống của người Dao Quần Chẹt tại Vườn quốc gia Ba Vì,
xã Ba Vì – huyện – Ba Vì – Hà Nội
14
VnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phí
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA SINH THÁI VÀ KHÁI QUÁT
VỀ NGƯỜI DAO QUẦN CHẸT TẠI VƯỜN QUỐC GIA BA VÌ,
XÃ BA VÌ, HUYỆN BA VÌ – HÀ NỘI
1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ VĂN HÓA SINH THÁI
1.1.1 Thuyết sinh thái văn hóa và khái niệm văn hóa sinh thá
Thuyết sinh thái văn hóa: (Cultural ecology)
người. Trong quá trình sinh tồn của mình, con người phụ thuộc rất nhiều vào
tự nhiên. Những thành tựu văn hóa đạt được từ việc thích nghi với môi trường
sống, con người hình thành nên những loại hình văn hóa như là những tập
hợp sắc thái văn hóa đặc trưng và tạo nên cốt lõi của nền văn hóa. Ngoài ra
cũng trong chính sự thích nghi với môi trường, con người đã hình thành nên
những hình thức sinh hoạt kinh tế, tôn giáo, tín ngưỡng, lễ hội… Con người
tồn tại bằng tri thức dân gian mà họ tích lũy được để lưu truyền từ đời này
sang đời khác. Tri thức dân gian của các tộc người ở Việt Nam hết sức đa
dạng và phong phú, phản ánh rõ nét đặc trưng văn hóa của cư dân vốn chịu
ảnh hưởng rất nhiều từ tự nhiên.
Sử dụng khung lý thuyết về Sinh thái học văn hóa của nhà nhân học Mỹ
Julian Steward để nghiên cứu về những giá trị văn hóa sinh thái của người
Dao Quần Chẹt tại khu vực Vườn Quốc gia Ba Vì đáp ứng được những yêu
cầu về lý luận và thực tiễn của đề tài, góp phần làm rõ hơn về văn hóa sinh
thái các tộc người ở Việt Nam.
Khái niệm văn hóa sinh thái:
Văn hóa sinh thái là một thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến trong đời
sống, nhưng để có thể hiểu “văn hóa sinh thái” là gì trước tiên chúng ta cần
phải hiểu rõ về “văn hóa” và “sinh thái”.
16
VnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phí
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều những định nghĩa, quan niệm khác
nhau về văn hóa. Mỗi một định nghĩa, quan niệm về văn hóa đó được các học
giả đưa ra khi xem xét văn hóa gắn liền với một lĩnh vực cụ thể, nhất định.
Chính vì vậy việc đưa ra một định nghĩa chung nhất, khái quát nhất về văn
hóa là vô cùng khó bởi lẽ văn hóa bao trùm mọi lĩnh vực trong đời sống. Dưới
góc độ triết học: “Văn hóa được xem là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh
thần do con người sáng tạo ra trong quá trình thực tiễn lịch sử - xã hội và
tiêu biểu cho trình độ đạt được trong lịch sử phát triển xã hội”.
Ở Việt Nam, trên cơ sở phân tích các định nghĩa về văn hóa, GS.Trần
cả hiện tại và tương lai. Nó được thể hiện thông qua trình độ nhận thức của
con người về môi trường tự nhiên, tình yêu sâu đậm cũng như qua những
hành vi của họ đối với tự nhiên trong hoạt động thực tiễn của chính bản thân
con người”. [14; tr.50]
Trước hết, văn hóa sinh thái được hiểu là những sản phẩm vật chất và
tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình tác động và cải biến tự
nhiên. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử phát triển của tự nhiên, con người
cũng giống như vô vàn các loài sinh vật khác trên trái đất mối tồn tại và phát
triển thì không thể không có mối liên hệ nào với tự nhiên. Những nhu cầu cơ
bản nhất của con người như được ăn, uống cũng cần có sự tác động đến tự
nhiên. Cùng với sự phát triển của con người, đã có giai đoạn con người quan
niệm rằng mình là bá chủ của muôn loài, là kẻ thống trị giới tự nhiên bằng
những hoạt động, những tác động vào môi trường tự nhiên một cách thái quá,
con người cho rằng tự nhiên phải khuất phục trước trí tuệ của con người.
Nhưng không, đó là một trong những quan niệm hết sức sai lầm của con
người trong mối quan hệ với tự nhiên. Sớm nhận thức được tầm quan trọng
18
VnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phí
của tự nhiên và sợi dây liên kết giữa con người và tự nhiên, những cư dân
phương Đông hiểu rằng con người không phải là bá chủ vạn vật, là kẻ thống
trị tự nhiên mà con người chỉ là một phần của tự nhiên mà thôi. Lịch sử Triết
học phương Đông đã cho thấy các học thuyết như: “Tam tài”, “Thiên – Nhân
hợp nhất”… chỉ ra mối quan hệ mật thiết giữa con người với môi trường tự
nhiên. Con người phụ thuộc vào thiên nhiên, khai thác và cải tạo tự nhiên theo
mục đích của cuộc sống và hướng tới một môi trường sống tốt đẹp hơn.
Như vậy, chính trong quá trình tác động vào tự nhiên, con người đã
không ngừng cải biến tự nhiên theo mục đích có lợi nhất cho mình. Qua đó
con người sáng tạo ra các giá trị vât chất và tinh thần khác nhau. Các giá trị
này một mặt đảm bảo sự sinh tồn và phát triển của con người, mặt khác thể
hiện sự hiểu biết và cách ứng xử của con người với môi trường tự nhiên. Văn
Mọi hoạt động khai thác tự nhiên đều phải có một điểm dừng, phải có một
giới hạn. Nếu vượt quá giới hạn là điều không thể chấp nhận, nó sẽ gây ra
những ảnh hưởng tiêu cực đến tự nhiên. Thông qua các giá trị văn hóa sinh
thái, con người điều chỉnh được các hành vi, sự tác động của mình vào tự
nhiên khiến cho những hoạt động đó không đi quá mức cho phép, đảm bảo
môi trường được bảo vệ. Tính nhân văn của văn hóa sinh thái được thể hiện
qua đó.
Tính dân tộc cũng là một đặc trưng của văn hóa sinh thái. Tính dân tộc
trong văn hóa sinh thái mang những bản sắc riêng của từng dân tộc được thể
hiện thông qua cách ứng xử của con người với tự nhiên, thông qua những giá
trị vật chất và tinh thần được hình thành và lưu giữ, trao truyền qua nhiều đời,
nhiều thế hệ. Mỗi một tộc người lại có những cách ứng xử với môi trượng tự
nhiên khác nhau, thể hiện trình độ nhận thức của tộc người đó trong việc khai
thác và tận dụng tự nhiên.
20
VnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phí
Tính trường tồn là đặc trưng thứ tư của văn hóa sinh thái. Những giá trị
văn hóa sinh thái được hình thành từ rất lâu, trải qua thử thách với thời gian,
những giá trị nào mang tính tốt đẹp, thực sự hữu ích với cuộc sống của con
người sẽ được lưu giữ và trao truyền qua nhiều thế hệ. Chính sự lưu giữ và
trao truyền qua nhiều thế hệ tạo nên sự ổn định tương đối của các giá trị văn
hóa sinh thái. Tính trường tồn của văn hóa sinh thái giúp tạo ra sự đan xen
giữa những giá trị truyền thống và hiện đại giúp cho con người kế thừa truyền
thống, từng bước cải tiến và sáng tạo ra những giá trị mới thích hợp với từng
thời đại.
1.1.3 Cấu trúc của văn hóa sinh thái
Văn hóa là một chỉnh thể phức tạp gồm đa dạng các thành tố. Tùy theo
việc phân chia theo những tiêu chí khác nhau mà có sự nhận diện về cấu trúc
của văn hóa theo các cách khác nhau. Văn hóa sinh thái cũng vậy, dưới các
góc độ khác nhau sẽ có các cấu trúc văn hóa sinh thái tương ứng.
thể hiện trong cơ cấu bữa ăn, kiến trúc ngôi nhà ở, phương thức sản xuất, các
tập quán sinh hoạt… cũng chính là những biểu hiện của các giá trị văn hóa
sinh thái.
Từ việc tìm hiểu cấu trúc văn hóa sinh thái dưới các góc độ khác nhau
cho thấy cấu trúc văn hóa sinh thái dưới góc độ hình thái giá trị phù hợp với
hướng tiếp cận của đề tài trong việc phân tích và đánh giá các giá trị văn hóa
sinh thái của người Dao Quần Chẹt ở xã Ba Vì, huyện Ba Vì – Hà Nội.
Văn hóa sinh thái vật thể bao gồm:
Kiến trúc: Khi thiết kế và xây dựng các công trình kiến trúc, con người
bao giờ cũng phải chú ý đến một số điểm cơ bản như: đặt hướng chính, hình
dáng tổng thể, thiết kế xung quanh, trang trí nội thất, kết cấu vật liệu sao
cho phù hợp với điều kiện địa lý, mặt bằng xây dựng, điều kiện về khí hậu,
ánh sáng, và còn phải tạo ra được sự tương xứng cân đối, hài hòa giữa các
công trình đó với cảnh quan xung quanh như một chỉnh thể thống nhất.
Những công trình này không những phải đúng, bền về nội dung mà còn phải
đẹp, hài hòa về hình thức. Các công trình kiến trúc là sản phẩm vật chất phản
22
VnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phí
ánh một cách rõ nét nhất giá trị văn hóa sinh thái của con người thông qua
việc thích nghi với môi trường tự nhiên. Con người tạo ra những công trình
kiến trúc là nơi ở, nơi trú ngụ tranh mưa nắng, những tác động của tự nhiên.
Đây vừa là cách thức con người tận dụng tự nhiên ở chỗ lấy các nguyên vật
liệu xây dựng từ thiên nhiên mà còn là cách ứng phó với những khó khăn,
thiên tai mà tự nhiên đem đến cho con người. Những kiến trúc do con người
tạo ra dần không chỉ để ở mà còn có nhiều chức năng khác nữa. Nhưng điều
quan trọng nhất để tạo ra một kiến trúc tốt đó là sự hòa hợp với thiên nhiên.
Trang phục: Có thể nói trang phục là một trong những hình thức biểu
hiện rõ nhất của văn hóa sinh thái. Các hình thức trang phục đã thể hiện được
sự hiểu biết về môi trường và khả năng vận dụng những điều kiện cụ thể của
môi trường vào công việc thiết kế trang phục của con người. Trang phục được
nhau lại có văn hóa ẩm thực khác nhau. Sở dĩ như vậy bởi họ chịu tác động,
ảnh hưởng của môi trường tự nhiên đến đời sống sinh hoạt của mình. Điều đó
chi phối cách thức chế biến các món ăn cũng như giới hạn các sản phẩm khai
thác từ thiên nhiên theo các khu vực nhất định. Điều này lý giải sự khác nhau
về khẩu vị của cư dân các vùng khác nhau, cũng giống như việc cư dân vùng
biển chủ yếu ăn hải sản, ăn cay và chua. Còn cư dân vùng núi chủ yếu ăn các
loài thực vật, động vật trong rừng…
Đồ dùng sinh hoạt: Công cụ lao động cũng là một nhân tố không thể
thiếu trong hoạt động cải tạo tự nhiên của con người, và trình độ của công cụ
lao động sẽ góp phần quyết định hiệu quả của hoạt động đó. Công cụ lao động
được tạo ra ngày càng hữu hiệu trong việc cải tạo, khai thác tự nhiên cho thấy
sự phát triển và tiến bộ của khoa học kỹ thuật. Nhưng không phải như vậy mà
con người lạm dụng khoa học vào khai thác tự nhiên một cách ồ ạt. Cần có sự
24
VnDoc - Tải tài liệu, văn bản pháp luật, biểu mẫu miễn phí
điều chỉnh sao cho hài hòa, vừa khai thác vừa bảo vệ và xây dựng lại hướng
tới sự phát triển bền vững.
Văn hóa sinh thái phi vật thể bao gồm:
Đạo đức sinh thái: Đạo đức sinh thái là những quan niệm, những cách
thức ứng xử của con người với môi trường tự nhiên, môi trường sống xung
quanh họ. Đạo đức sinh thái có vai trò đặc biệt quan trọng, nó điều chỉnh hành
vi của con người, xã hội loài người đối với tự nhiên. Mối quan hệ giữa con
người và tự nhiên là vô cùng mật thiết và sâu sắc, dựa trên cơ sở nền tảng là
nhu cầu và lợi ích. Đạo đức sinh thái của một tộc người, một nhóm xã hội trở
nên đúng đắn nếu như nó được hình thành xuất phát trên cơ sở đảm bảo lợi
ích của cả tự nhiên và con người. Việc lạm dụng tự nhiên phục vụ cho lợi ích
của con người là trái với đạo đức sinh thái, vi phạm đọa đức sinh thái.
Phong tục, tập quán sinh thái: Phong tục, tập quán, thói quen, lối sống
của một tộc người là thứ đã được hình thành từ rất lâu. Nó có thể được ghi
chép cụ thể hoặc không nhưng trong cộng đồng người mà nó tồn tại, tất cả
Người Việt quan niệm rằng mọi sự vật, hiện tượng đều có sự sống và linh hồn.
Khi những thiên tai như bão, lũ lụt, hạn hán ập đến làm cho mùa màng bị ảnh
hưởng mà con người vẫn chưa giải thích được các hiện tượng đó một cách
khoa học thì họ trở nên tôn thờ các hiện tượng tự nhiên. Họ tôn thờ mây, mưa,
sấm chớp… Nhưng xét về bản chất thì đây chính là việc con người không thể
đối đầu với tự nhiên. Các tín ngưỡng sùng bái tự nhiên được ra đời. Tín
ngưỡng và lễ hội là hai thành tố không thể tách rời, chúng thường song hành
cùng với nhau. Các tín ngưỡng, lễ hội có nội dung hướng về thiên nhiên thể
hiện sự tôn trọng của con người đối với tự nhiên, không những thế nó còn thể
hiện tính nhân văn sâu sắc.