MỞ ĐẦU
Văn hóa là một thực thể sống động, có sự vận động trong không gian và thời
gian . Nhìn theo chiều thời gian, văn hóa Việt Nam là một diễn trình lịch sử có
nhiều quy luật phát triển của nó. Nhìn trong không gian, văn hóa Việt Nam có sự
vận động qua các vùng – xứ - miền khác nhau.
Trải dài từ Bắc vào Nam với dáng hình lưỡi gươm mở nước, Việt Nam bao
gồm nhiều vùng sinh thái khác nhau. Năm mươi tư tộc người cùng chung sống hòa
hợp, đoàn kết và thân ái, điều đó khảng định Việt Nam là một quốc gia đa tộc
người. Điều kiện tự nhiên, xã hội, lịch sử của các vùng có những nét tương đồng,
có những nét khác biệt.
Ngày nay với sự phát triển của đời sống kinh tế xã hội, quá trình giao lưu và
hội nhập của các tộc người trên cùng một quốc gia cũng như trên thế giới diễn ra
ngày càng sôi động hơn. Bên cạnh vấn đề hội nhập làm giàu thêm bản sắc văn hóa
dân tộc mình thì nguy cơ mất dần bản sắc văn hóa đặc trưng, nguy cơ bị “hòa tan”
nền văn hóa là điều đáng quan tâm hơn hết .
Bản sắc dân tộc là cái “cốt”, cái tinh túy bên trong rất đặc trưng của nền văn
hóa dân tộc. Nó phân biệt, không nhầm lẫn văn hóa của dân tộc này với các dân tộc
khác. Nó là “căn cước” của một dân tộc. Mỗi dân tộc đều có nền văn hóa riêng có
đặc trưng riêng. Những cái riêng ấy sẽ làm phong phú thêm vốn văn hóa của quốc
gia. Xuất phát từ nhu cầu tìm hiểu và thẩm nhận giá trị văn hóa các tộc người, xem
xem sự hấp dẫn nằm ở đâu, cái phong phú ấy như thế nào là một trong những
nguyên nhân khiến cho du lịch ra đời.
Hoạt động du lịch mang trong mình nhiều trọng trách quan trọng, góp phần
bảo tồn và thúc đẩy nền văn hóa phát triển. Du lịch đem lại nguồn lợi nhuận kinh
tế lớn cho Quốc Gia, đem lại việc làm cho người dân địa phương. Tuy nhiên du
lịch đòi hỏi phải phát triển theo hướng bền vững, theo quy hoạch, kế hoạch, bảo
đảm hài hòa giữa kinh tế, xã hội và môi trường.
1
1. Lý do chọn đề tài:
Ngành du lịch Việt Nam hiện nay đang trong quá trình phát triển nên việc
khai thác vốn văn hóa dân tộc vào phục vụ du lịch là nhu cầu tất yếu khách quan.
theo hướng bền vững, hạn chế sự tác động tiêu cực từ hoạt động du lịch đối với giá
trị văn hóa, cảnh quan, môi trường tự nhiên.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu: Văn hóa vật chất của người Dao Quần Trắng tại Hàm Yên.
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài giới hạn trong phạm vi xã Yên Phú - huyện Hàm
Yên – Tuyên quang.
Thời gian nghiên cứu: Thời gian nghiên cứu và hoàn thành khóa luận từ ngày
1/3 – 2/5/2013.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp tham khảo tài liệu: nghiên cứu và phân tích những thông tin từ
sách, báo, tạp chí, luận văn, internet và các tài liệu có liên quan.
Phương pháp khảo sát thực địa: Đây là phương pháp nghiên cứu truyền thống
đạt hiệu quả cao trong việc thu thập trực tiếp những số liệu, thông tin trên địa bàn
nghiên cứu. Đây là phương pháp hầu như kháo luận nào cũng cần đến vì qua
phương pháp này ta mới tận mắt nhìn thấy được các hoạt động diễn ra tại điểm
khảo sát.
Phương pháp kết hợp giữa lí thuyết và thực hành đã được học trên giảng đường
3
5. Đóng góp của khóa luận.
Do thời gian và khả năng nghiên cứu còn hạn chế nên Khóa luận không tránh
khỏi những thiếu sót. Tuy nhiên với niềm say mê, vận dụng tối đa khả năng hiểu
biết của mình em hi vọng sẽ giúp cho những ai quan tâm đến văn hóa các dân tộc
thiểu số có thêm những hiểu biết mới. Kết quả nghiên cứu của kháo luận bao gồm
nhiều thông tin, những số liệu xác thực có giá trị như một tài liệu để tham khảo.
6. Kết cấu của Khóa luận .
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục nội dung chính của đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về huyện Hàm Yên – Tuyên Quang và văn hóa
vật chất của người Dao Quần Trắng tại Hàm Yên.
Chương 2: Thực trạng khai thác giá trị văn hóa vật chất của người Dao Quần
trắng vào phục vụ du lịch tại Hàm Yên – Tuyên Quang.
quyền địa phương và cộng đồng dân cư trong quá trình thu hút và đón tiếp khách”.
1.1.2. Khái niệm văn hóa vật chất.
Theo quan điểm của nhiều nhà dân tộc học trong và ngoài nước trong việc
chia văn hóa thành hai thành tố chính là văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần.
Theo đó nội hàm của văn hóa vật chất rất rộng bao gồm tất cả những gì do con
người sáng tạo ra dưới dạng vật thể trong một thời điểm cụ thể nào đó của lịch sử.
1.2. Khái quát chung về tỉnh Tuyên Quang.
Tuyên Quang là tỉnh miền núi phía Bắc có tọa độ địa lý từ 21
o
29’ ÷ 22
o
42’ vĩ
độ Bắc và 104
o
50’ ÷ 105
o
36’ kinh độ Đông.
- Phía Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Hà Giang.
- Phía Đông giáp tỉnh Bắc Kạn, Thái Nguyên.
- Phía Nam giáp tỉnh Phú Thọ.
- Phía Đông Nam giáp tỉnh Vĩnh Phúc.
- Phía Tây giáp tỉnh Yên Bái.
Tổng diện tích đất tự nhiên là 586.732,71 ha.
Về đơn vị hành chính: tỉnh có 06 huyện và 01 thành phố với 129 xã, 07 phường
và 05 thị trấn. Và Hàm Yên là một trong những huyện của tỉnh Tuyên Quang.
1.2.1.Vị trí địa lí, lịch sử hình thành và phát triển của huyện Hàm Yên.
a.Vị trí địa lý:
Huyện nằm ở phía tây tỉnh Tuyên Quang, phía bắc giáp huyện Bắc Quang (tỉnh Hà
Giang), phía nam giáp huyện Yên Sơn, phía đông giáp hai huyện Chiêm Hóa, Lâm Bình,
và phía tây giáp huyện Yên Bình, Lục Yên (tỉnh Yên Bái).
trấn Tân Yên là trung tâm kinh tế, chính trị của huyện, dân cư tập trung đông.
Với 8 km bám đường Quốc lộ 2, cư dân nơi đây đã tận dụng lợi thế đó để đầu
tư phát triển nhiều loại hình dịch vụ như ăn uống, nhà nghỉ, khách sạn, sản
xuất và tiêu thụ sản phẩm thủ công
7
Hàm Yên hiện có nhiều điểm du lịch hấp dẫn như: Động Tiên, Thác Lăn, đền
Thác Cái (xã Yên Phú); Hồ Khởn (xã Thái Sơn), đền Bắc Mục, đình Thác Cấm (thị
trấn Tân Yên), rừng đặc dụng Cham Chu (xã Minh Hương).
Nhắc đến Hàm Yên là nhắc đến quê hương của Cam sành, của Vịt suối Minh
Hương. Vì vậy, xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm này là một trong những
việc đã và đang được huyện tích cực triển khai thực hiện. Cùng với việc tổ chức lễ
đón nhận thương hiệu “Cam sành Hàm Yên” (2007), vừa qua Cam sành Hàm Yên
đã vinh dự được đứng trong top 50 đặc sản trái cây nổi tiếng, giá trị bậc nhất Việt
Nam. Hiện nay, diện tích cam toàn huyện lên đến gần 2.500 ha, sản lượng cam
hàng năm đạt gần 30 nghìn tấn quả. Vụ cam năm 2012 cam sành Hàm Yên đã có
mặt ở một số siêu thị lớn tại thủ đô Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và hầu hết các
chợ đầu mối của các tỉnh miền Bắc, miền Trung và một số tỉnh miền Nam. Mặc dù
sản lượng cam bán ra chưa nhiều, song đây là điểm nhấn cho sản phẩm cam sành
Hàm Yên tiếp tục chinh phục thị trường trong những năm tiếp theo. Vịt suối
Minh Hương được du khách gần xa biết đến, tìm mua. Huyện khuyến khích nông
dân có điều kiện chăn nuôi vịt quy mô lớn theo hướng sản xuất hàng hoá tạo ra
nguồn sản phẩm thịt, trứng vịt chất lượng tốt để cung cấp ra thị trường, tạo thêm
việc làm, tăng thu nhập, góp phần xoá đói giảm nghèo cho nông dân. Quy hoạch
vùng chăn nuôi vịt tiến tới xây dựng thương hiệu “Vịt Minh Hương”, đưa đàn vịt
toàn xã có hơn 20 nghìn con, trong đó duy trì nuôi trên 5.000 con vịt bầu đẻ trứng
và 15 nghìn con vịt thương phẩm, đồng thời mở rộng chăn nuôi vịt bầu tại 2 xã
Tân Thành và Phù Lưu.
Đặc biệt sau gần nửa thế kỷ, Hội chọi trâu Hàm Yên lại được khôi phục trong
những ngày đầu xuân (mồng 10 và11 tháng Giêng - âm lịch) thu hút hàng vạn du
khách thập phương đến tham gia theo dõi và cổ vũ.
9
* Nông nghiệp:
Do sống ở vùng thấp nên người Dao Quần Trắng thường sống trong những thung
lũng hẹp hay ven các đường quốc lộ, bên cạnh người Tày, Nùng hoặc người Việt.
Ruộng nước và ruộng bậc thang là loại hình canh tác chính ở vùng này, ngoài
ra còn có nương bằng hay nương định canh. Cách thức làm ruộng của người Dao
cũng giống như các dân tộc khác ở xung quanh họ. Nông cụ có cày chìa vòi (nay
đã có cải tiến), bừa răng gỗ hay răng sắt, dung sức kéo của trâu, bò. Đi đôi với loại
hình canh tác này còn có hệ thống thủy lợi như: mương phai, đập, cọn…
Người ta bắt đầu phát rẫy từ tháng riêng âm lịch cho tới tháng tư. Rừng già,
rậm rạp có nhiều cây to và gần nguồn nước là những nơi làm rấy tốt nhất, tuy lúc
ngả cây có vất vả nhưng đất ở đây vốn có nhiều mùn lại có thêm tro nên rất tốt.
Dụng cụ để phát nương không ngoài con dao tư (4 vổ). Rẫy phát rồi để độ hai mươi
đến ba mươi ngày mới đốt, nếu đốt quá sớm cây cối còn tươi không cháy hết sẽ
được ít tro, tốn nhiều công dọn nương và về sau rẫy có nhiều cỏ. Đốt xong khi nào
tro than đã nguội nhưng cây, cành chưa cháy hết được thu dọn chất thành đống để
đốt tiếp hoặc được bỏ ra rìa nương. Sau đó, tro, than được san đều trên mặt nương
và bắt đầu chọc lỗ gieo hạt.khi reo hạt người ta phân ra thành từng cặp: một nam,
một nữ, người Nam đi trước dung gậy chọc thành từng hàng, mỗi lỗ cách nhau
khoảng 30 – 40 cm (nhưng còn tùy từng năm và chất đất của đám rẫy tốt hay xấu mà
khoảng cách này có gia giảm chút ít), người Nữ theo sau, ngang hông đeo một cái
giỏ đựng được khoảng 2-3kg thóc, lần lượt bỏ vào mỗi lỗ từ 15 – 20 hạt thóc, rồi lấy
chân gạt đất vùi kín. Ngoài cách tra lỗ này, ngày nay người ta còn sử dụng rộng rãi
phương pháp vãi hạt. Trước khi vãi hạt, đất cần được chuẩn bị chu đáo hơn rẫy tra
lỗ. Lối trồng tỉa này có nhiều ưu điểm nhưng theo đó cũng có nhiều nhược điểm
nhất định. Nương ít cỏ, đất xốp giữu được ẩm lâu,lúa mọc đều, phát triển nhanh và
đều cây. Nhưng vì đất xốp nên mới vãi hạt mà gặp mà mưa to sẽ làm cho đất vãi hạt
giống bị tròi, đầu nương lúa mọc thưa, cuối nương hoặc ở chỗ nào đất trũng lúa lại
10
mọc quá dày, ngoài ra không thể làm cỏ bằng cào mà phải làm cỏ bằng tay, mỗi klhi
chàm để nhuộm người ta hòa cao chàm vào nước đun với ngải có thêm một ít nước
tro và rượu, khuấy đều dung dịch này khi nào thấy màu bắt vào tay là đã
nhuộm được. Vải ngâm trong nước chàm khoảng ba giờ thì vớt ra, vắt bớt
nước, phơi nơi ít ánh sang gay gắt, làm nhiều lần như vậy khi nào thấy màu vải
vừa ý người dùng thì thôi.
Khâu vá thêu thùa cũng là một công việc riêng của phụ nữ, các em gái mới
chín, mười tuổi đã phải tập làm công việc này, riêng thêu phải tập luyện nhiều mới
thành thạo, mới có khả năng thêu được những bộ quần áo cưới đẹp.
Đan lát thường là công việc của đàn ông và cũng được tiến hành vào
những lúc rảnh rỗi. Các đồ đựng đan bằng nan (tre, nứa, giang, mây) đều do
người Dao tự làm lấy.
Nghề làm đồ trang sức bằng đồng hay bằng bạc cũng đã có từ lâu trong người
Dao và cũng có ở Dao quần trắng, xong là nghề gia truyền nên ít người biết, người
thợ bạc có thể làm được vòng cổ, vòng tay, vòng chân, khuyên tai, nhẫn, xà tích,
các loại cúc và các đồ trang sức khác đính trên quần áo. Đồ trang sức thường được
chạm nổi hoặc chạm chìm với nhiều mô-tip rất khéo léo.
Nghề rèn cũng có từ lâu nhưng không phổ biến ở người Dao Quần trắng.
Ngoài ra còn có nghề làm giấy, nguyên liệu chính để làm giấy của người Dao quần
trắng là rơm rạ, vỏ cây dướng, cây dó chuột, các loại tre nứa…Giấy có ưu điểm là
mỏng, mịn, tương đối trắng, ăn mực, không nhòe và giữ được lâu. Cho đến nay
người Dao nói chung và Dao quần trắng nói riêng còn giữ được những cuốn sách
cúng, sách hát, gia phả đã ghi từ rất lâu là nhờ có loại giấy này. Giấy còn dùng làm
pháo và vàng mã.
* Săn Bắn:
Săn bắn không chỉ là một nguồn cung cấp thêm thức ăn, cải thiện bữa ăn hàng
ngày mà còn là biện pháp bảo vệ mùa màng rất có hiệu quả, đồng thời còn là một
nguồn giả trí vô cùng hứng thú đối với người Dao Quần trắng.
12
Vũ khí săn bắn có súng hỏa mai, sung kíp, nỏ tên thường, tên thuốc độc, nay
còn có súng săn hiện đại.
* Cưới xin: Trai gái muốn lấy được nhau phải so tuổi, bói chân gà xem có
hợp nhau không. Có tục chăng dây, hát đối đáp giữa nhà trai và nhà gái trước khi
vào nhà, hát trong đám cưới. Lúc đón dâu, cô dâu được cõng ra khỏi nhà gái và
bước qua cái kéo mà thầy cúng đã làm phép mới được vào nhà trai.
* Ma chay: Thày tào có vị trí quan trọng trong việc ma và làm chay. Nhà có
người chết con cái đến nhà thầy mời về chủ trì các nghi lễ, tìm đất đào huyệt.
Người ta kiêng khâm liệm người chết vào giờ sinh của những người trong gia đình.
Người chết được liệm vào quan tài để trong nhà hay chỉ bó chiếu ra đến huyệt rồi
mới cho vào quan tài. Mộ được đắp đất, xếp đá ở chân mộ. ở một số nơi có tục hoả
táng cho những người chết từ 12 tuổi trở lên.
Lễ làm chay cho người chết diễn ra sau nhiều năm, thường được kết hợp với
lễ cấp sắc cho một người đàn ông nào đó đang sống trong gia đình. Lễ tổ chức ba
ngày, ngày đầu gọi là lễ phá ngục, giải thoát hồn cho người chết, ngày thứ hai gọi
là lễ tắm hương hoa cho người chết trước khi đưa hồn về bàn thờ tổ tiên trong nhà,
ngày thứ ba lễ cấp sắc. Người chết được cúng đưa hồn về quê cũ ở Dương Châu.
* Nhà mới: Muốn làm nhà phải xem tuổi những người trong gia đình, nhất là
tuổi chủ gia đình. Nghi lễ chọn đất được coi là quan trọng. Buổi tối, người ta đào
một hố to bằng miệng bát, xếp một số hạt gạo tượng trưng cho người, trâu bò, tiền
bạc, thóc lúa, tài sản rồi úp bát lên. Dựa vào mộng báo đêm đó mà biết điềm xấu
hay tốt. Sáng hôm sau ra xem hỗ, các hạt gạo vẫn giữa nguyên vị trí là có thể làm
nhà được.
* Thờ cúng: Người Dao vừa tin theo các tín ngưỡng nguyên thuỷ, các nghi lễ
nông nghiệp vừa chịu ảnh hưởng sâu sắc của Khổng giáo, Phật giáo và nhất là Ðạo
giáo. Bàn vương được coi là thuỷ tổ của người Dao nên được cúng chung với tổ
14
tiên từng gia đình. Theo truyền thống tất cả đàn ông đã đến tuổi trưởng thành đều
phải qua lễ cấp sắc. một nghi lễ vừa mang tính chất của Ðạo giáo, vừa mang những
vết của lễ thành đinh xa xưa.
* Lịch: Người Dao Quần Trắng quen dùng âm lịch để tính thời gian sản xuất
và sinh hoạt.
Đối với săn bắn khi bắt đầu làm sung người ta cũng phải chọ ngày tốt hay đặc
sắc. Săn được thú phải cúng thần rừng, thổ công, ma sung và thần săn bắn.
Dao quần trắng cũng thờ cúng tổ tiên như nhiều dân tộc khác ở nước ta. Mà tổ
tiên được thờ riêng ở tại gia đình hay tại nhà tộc trưởng. Tổ tiên thường được thờ
tới chín đời, nhưng trong việc thờ cúng hàng ngày người ta chỉ cần khấn đến ông
tổ ba đời. Bàn thờ tổ tiên được coi là nơi tôn nghiêm nhất trong nhà.
Thờ cúng Bàn Vương (chẩu đàng) cũng thuộc tục thờ cúng tổ tiên, chỉ khác
Bàn Vương không phải là tổ tiên gần của một vài gia đình hay một vài dòng họ mà
Bàn Vương được quan niệm là thủy tổ của người Dao.
•Lễ Cấp Sắc của người Dao Quần Trắng:
Cũng như người Dao đỏ thì lễ cấp sắc cũng là một tục lệ rất phổ biến ở Dao
quần trắng, tất cả những người đàn ông đều phải qua lễ này. Nếu lúc sống chưa
được cấp săc sau khi chết con cháu cũng phải làm, cấp sắc là điều bắt buộc, không
được cấp sắc thì cũng không được làm thầy cúng, có cấp sắc mới được các thần
thánh công nhận và được cấp âm binh. Người được cấp sắc sau khi chết mới được
về với tổ tiên ở Dương Châu và có cấp sắc mới được nhận tên âm, mới có quyền
thờ cúng tổ tiên, mới được xã hội coi là người lớn, nếu không già vẫn bị coi là
trẻ nhỏ và sau khi chết hồn chỉ được về động Đào Hoa. Chính vì quan niệm
như vậy nên tốm kém bao nhiêu gia đình nào có con trai đến tuổi (từ 10 tuổi
trở lên) đều phải tổ chức lễ này
16
•Phong tục đón tết của người Dao Quần trắng:
Năm nào cũng vậy, từ đầu năm gia đình người Dao quần trắng trong xã đã
phải chuẩn bị một con lợn từ 50 kg trở lên. Lợn phải do chính gia đình nuôi chứ
không được mua ở chợ hay nơi khác bởi nếu vậy sẽ không linh ứng và năm đó gia
đình không gặp may mắn. Giờ người Dao quần trắng đã biết chăn nuôi theo hướng
hàng hoá nên chuẩn bị lợn, gà, lá bánh, lá dong, giò chả cho ngày tết cũng không
còn khó khăn như trước.
Bắt đầu từ ngày 28 tết nhà nào cũng phải dọn dẹp, trang hoàng nhà cửa, chuẩn
bị đầy đủ mọi vật dụng như: tiền, vàng, hoa quả, bánh kẹo giống người Kinh,
•Lễ Đám chay của người Dao Quần trắng:
Lễ Đám chay, nét văn hóa độc đáo vẫn được người Dao Quần trắng, ở xã
Thái Hòa (Hàm Yên) duy trì như một hình thức để giáo dục thế hệ sau về truyền
thống cội nguồn của dân tộc.
Lễ Đám chay thường được tổ chức vào cuối năm hoặc đầu năm mới. Ông Chu
Văn Kiên, ở thôn Cây Vải, xã Thái Hòa cho biết: Lễ Đám chay của người Dao
Quần trắng mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc. Bà con cho rằng, một người khi sang
thế giới bên kia làm cho người sống bối rối mà không lo được đám hiếu chu toàn.
Để bù đắp những thiếu sót và bày tỏ sự kính trọng với người đã khuất, gia đình
người quá cố làm lễ gọi là lễ Đám chay (thường được tổ chức cho ông bà, cha mẹ
khi đã khuất núi). Lễ Đám chay được coi là “cầu nối” để người mới mất nhập tụ
với tổ tiên. Bà con quan niệm rằng, cái chết chỉ là sự mất đi về thể xác còn linh hồn
thì còn mãi. Lễ Đám chay là dịp để người sống nhắc lại những đức tính tốt của
người đã mất cho con cháu học tập và noi theo.
Tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh của mỗi gia đình, có thể 2-3 tháng, thậm
chí là 2-3 năm sau khi người thân mất thì tổ chức lễ Đám chay. Trong lễ Đám chay
18
có trống cái, trống con, thanh la, sớ (giấy viết chữ nho về tiểu sử của người đã
khuất) để hành lễ cúng tế linh hồn cho người đã khuất. Con cháu, anh em họ mạc
cùng nhau đóng góp lễ vật để dâng tế. Lễ vật chỉ là cân gạo nếp, con gà, chai
rượu quan trọng là lòng thành của con cháu đối với ông bà, cha mẹ. Lễ vật được
chuẩn bị chu đáo, gia chủ mời thầy tạo về hành lễ. Thầy tạo phải là người có tuổi,
kiến thức uyên thâm và có uy tín trong cộng đồng.
Lễ Đám chay được cử hành dưới sự chứng kiến của con cháu, anh em họ tộc.
Một điều đặc sắc nữa là tại lễ Đám chay sẽ công bố năm tới có bao nhiêu con, cháu
trong gia đình, dòng họ sẽ được cấp sắc. Do đó, không chỉ có người lớn tuổi quan
tâm đến việc làm lễ Đám chay mà cả thế hệ trẻ cũng rất hào hứng để biết mình đã
được trưởng thành hay chưa.
Ngày nay, thực hiện nếp sống văn minh, lễ Đám chay được làm đơn giản,
thời gian được rút ngắn nhưng vẫn thể hiện được sự chu đáo của người sống
(chân cột chôn thẳng xuống đất), một quá giang, hai bộ kèo đơn. Đầu quá giang
gác trên ngoãm, đầu kèo ráp vào đầu quá giang và chúng được buộc lại với nhau
bằng dây rừng chắc chắn. Hai đòn tay cái gác trên đầu quá giang thường phải làm
bằng gỗ tốt và dài xuốt các gian.
Ngoài kiểu vì kèo có hai hoặc ba cột cũng có kiểu vì bốn hoặc năm cột làm
theo kiểu vì nhà người Tày hay người Việt.
Đối với người Dao Quần trắng thì loại hình Nhà Sàn là phổ biến nhất. Vì kèo
theo kiểu vì nhà người Việt hoặc kiểu vì kèo cũng giống như kiểu trên nhưng có
thêm một dây néo chỏm kèo với quá giang hay đặt trên quá giang.
Xin được giới thiệu một ngôi nhà của người Dao Quần Trắng ở Hàm Yên:
Nhà hai gian hai chái, mái lợp bằng lá cọ (lá được cặp thành từng phên như phên
cỏ tranh). Bộ sườn làm theo kiểu nhà người Việt.
Thang đặt ở đầu hồi bên trái, gần chân thang có một máng nước và một cái
duộc (gáo nhỏ) để mọi người rửa chân trước khi lên nhà. Qua thang lên sàn để
nước. Từ sàn này qua cửa chính thì vào trái thứ nhất. Chái này gian thứ nhất và
gian thứ hai để thông nhau, chia thành ba hành lang chạy dọc nhà. Mặt sàn của
hành lang phía trước được lát bằng gỗ và cao hơn hành lang giữa khoảng 20cm.
Hành lang ở giữa sàn lát bằng tre đập dập thành từng phá để mỗi kho quét nhà , rác
rưởi sẽ lọt qua kẽ sàn.
Hành lang phía trước là nơi ngủ của con trai và khách nam. Đầu cùng của hành
lang này giáp với đố ngăn với chái bên trái là nơi đặt bàn thờ. Hành lang sau, ở góc
giáp sàn để nước là nơi để thóc và cối xay. Hành lang giữa, thuộc về gian thứ nhất
có bếp khách, cạnh bếp này thuộc về gian thứ hai là nơi ngủ của ông chủ nhà.
21
Trong chái bên trái, phía trước là nơi ngủ của bà chủ nhà và các con nhỏ, ở
giữa là bếp, giáp vách hậu có chạn bát. Qua chái này đến một sàn nứa hẹp, nối liền
nhà chính với nhà phụ.
Nhà phụ chỉ có hai gian. Gầm sàn nhốt trâu bò, trên sàn có kho thóc và một
khung cửi. Trước nhà này có một sàn lộ thiên dùng làm sân phơi.
2.1.3. Trang phục, trang sức:
Khi cắt quần áo cho ai, người ta không dùng thước đo mà ướm vải trực tiếp
lên người đó để biết ngắn dài, rộng hẹp bao nhiêu rồi tính số vải cần thiết. Sau khi
cắt xong mảnh vải nào có hoa văn trang trí thì thêu. Công đoạn cuối cùng là khâu
các mảnh vải lại với nhau thành áo hoặc quần
• Bộ nữ phục:
Bộ nữ phục của Dao Quần trắng cũng như Dao Họ gồm có: Khăn đội đầu, áo
dài, yếm, dây lưng, quần, xà cạp.
a.Khăn đội đầu:
Khăn đội đầu của phị nữ Dao Quần trắng là một khăn vuông vải trắng
(40cmx40cm) được thêu rất nhiều họa tiết trang trí. Mép khăn được viền bằng vải
trắng và vải đỏ từng đoạn ngắn xen nhau. Chính giữa khăn thêu một ngôi sao tám
cánh. Từ ngôi sao này có các tia ra bốn góc khăn liên kết với bốn ngôi sao khác
có kích thước nhỏ hơn. Kẹp giữa những sao này là những sao nhỏ hơn. Các ngôi
sao đều thêu bằng chỉ đỏ và vàng. Đỉnh một góc khăn đính một dải buộc dệt
bằng chỉ đen và đỏ.
Phụ nữ Dao Quần trắng để tóc dài, vấn khăn ngang như phụ nữ Tày và Việt ở
nông thôn trước đây. Khi đội khăn được gấp phần ở giữa theo đường chéo làm cho
23
khăn hẹp bớt rồi đội phủ ra ngoài vành khăn ngang, một góc khăn ở phía trước
chán, một khăn ở phía sau gáy, dây buộc khăn quấn quanh đầu đè lên hai góc nhọn
này, còn hai góc kia thả xuống hai bên tai . Đó là cách đội khăn thứ nhất, còn cách
thứ hai cũng tương tự chỉ khác là góc phía trước chán, mỏ nhọn của nó được gài
vào bên trong vòng dây quấn quanh đầu.
b.Áo dài:
Áo dài của phụ nữ Dao Quần trắng màu chàm, tay dài, khoét nách, cổ thìa.
Nẹp cổ nhỏ được thêu hai đường song song bằng chỉ đỏ, nẹp hai thân trước từ chân
cổ áo xuống tới gấu viền bằng vải trắng và đỏ, hai bên đối nhau. Cửa tay áo, nẹp tà
và gấu áo thêu bằng chỉ trắng. Áo của phụ nữ Dao Quần trắng thêu rất ít so với áo
của một số nhóm Dao khác. Ở thân áo chỉ điểm xuyết một vài họa tiết nơi ngang
thân và góc tà, chủ yếu là các hình sao tám cánh. Ngoài ra còn một đường thêu
các nhóm Dao khác.
• Trang phục trong lễ cưới:
Quần áo của cô dâu Dao Quần trắng về kiểu cách không khác gì quần áo
thường ngày. Trong ngày làm lễ cưới cô dâu phải mặc quần trắng và bên ngoài
quần mặc thêm một cái váy (và chiếc quần trắng chỉ được dùng khi các cô dâu về
nhà chồng . Đây cũng là đặc điểm dẫn tới tên gọi của nhóm này). Ngoài ra cô dâu
còn đội một cái mũ mà ngày thường không ai dùng, cổ quấn những dải vải dài màu
đỏ và trắng, tay cầm một cái khăn thêu.
Cô dâu Dao Họ ăn mặc rất đơn giản không khác gì ngày thường.
Mũ của cô dâu Dao Quần Trắng trông giống như một cái bồ đài. Xương mũ
làm bằng xơ mướp, bên ngoài lớp vải đen. Đến nay có mũ ngoài lớp vải đen còn
được phủ một lớp vải màn nhuộm màu đỏ. Sống mũ võng xuống nên hai chỏm mũ
giống như hai cái sừng. Mỗi chỏm mũ đính một chùm chỉ đỏ và vàng. Hai bên
25