ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
– – – – – –
TRẦN THỊ HUYỀN
KHAI THÁC CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỦA NGHỆ THUẬT
CA TRÙ Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ VIỆT NAM PHỤC
VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH
Chuyên ngành : Du lịch
(Chương trình đào tạo thí điểm)
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : PGS. TS. NGUYỄN PHẠM HÙNG
Hà Nội, 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
– – – – – –
TRẦN THỊ HUYỀN
KHAI THÁC CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỦA NGHỆ
THUẬT CA TRÙ Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ
VIỆT NAM PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH
1.3.3 Tại Hải Phòng 30
1.3.4 Tại Thái Bình 32
1.3.5 Tại Nam Định 33
1.3.5 Tại Bắc Ninh 34
1.4 Các giá trị của nghệ thuật Ca trù 35
1.4.1 Giá trị văn học (Lời thơ) 35
1.4.2 Giá trị âm nhạc 39
1.4.3 Giá trị văn hoá 47
Chương 2: THỰC TRẠNG KHAI THÁC NGHỆ THUẬT CA TRÙ
TRONG KINH DOANH DU LỊCH 51
2.1 Di sản văn hoá Ca trù và việc khai thác di sản văn hoá Ca trù trong du 2
lịch 51
2.1.1 Quá trình Ca trù trở thành di sản văn hoá thế giới 51
2.1.2 Di sản văn hoá Ca trù - một sản phẩm du lịch độc đáo, đậm đà bản
sắc dân tộc 54
2.1.3 Triển vọng thu hút khách của nghệ thuật Ca trù 57
2.2 Những vấn đề đặt ra trong việc khai thác nghệ thuật ca trù phát triển
du lịch 60
2.2.1 Tính tất yếu của việc khai thác nghệ thuật ca trù phát triển du lịch 60
2.2.2 Những bài học kinh nghiệm trong nước và quốc tế 61
2.2.3 Những vấn đề cần được nghiên cứu khi khai thác nghệ thuật ca trù
trong du lịch 64
2.3 Thực trạng khai thác kinh doanh du lịch với nghệ thuật ca trù 65
2.3.1 Công tác tổ chức quản lý 65
2.3.1.1 Nhà nước – Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch 65
2.3.1.2Doanh nghiệp 67
2.3.1.3 Địa phương 68
4
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày 1 tháng 10 năm 2009, tại Abu Dhab – thủ đô của các tiểu vương
quốc Ả Rập thống nhất, Ca trù đã trở thành di sản thứ tư của Việt Nam được
công nhận, xếp vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ
khẩn cấp. Đây là một tin vui với những người yêu ca trù bởi giờ đây nghệ
thuật ca trù không chỉ được biết tới, được bảo tồn mà còn được khai thác
phục vụ cho đời sống văn hóa tinh thần của người dân.
Những năm gần đây, du lịch Việt Nam đã có bước phát triển mạnh mẽ
và đang vươn lên thành ngành kinh tế mũi nhọn với tốc độ tăng trưởng cao.
nghệ thuật ca trù cho khai thác kinh doanh du lịch nói riêng. Tôi nhận thấy
cũng có rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tới vấn đề này:
Trong các thập kỷ 20,30,40 của thế kỷ XX đã có nhiều tập sách, báo của
các tác giả Phan Văn Duyệt, Nguyễn Mạnh Hồng, Nguyễn Xuân Khoát,
Nguyễn Văn Ngọc, Phạm Quỳnh, Nguyễn Đôn Phục,… viết về ca trù. Các
tác giả đều đề cập tới nghệ thuật ca trù là một nghệ thuật dân gian đang chịu
sự cạnh tranh mạnh mẽ của các nghệ thuật Âu tây hiện đại khác, và họ cũng
coi đây như một hình thức giải trí của tầng lớp nhà nho, nhà văn lúc bấy giờ.
Về sau, phải kể đến Việt Nam ca trù biên khảo của Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ
Trọng Huề in năm 1962 tại Sài Gòn. Đây là một trong những cuốn sách
nghiên cứu khá hoàn chỉnh về lịch sử ra đời, phát triển của nghệ thuật ca trù.
Bên cạnh đó tác giả cũng đã sưu tầm được rất nhiều tác phẩm trong biểu
diễn ca trù.
Năm 1980, Sở VHTT Hà Nội tổ chức biên soạn tập sách Hát cửa đình
Lỗ Khê, giới thiệu về một làng có truyền thống ca trù của thủ đô và đặc biệt
là việc nghiên cứu về lối hát cửa đình tại một làng có truyền thống về hát ca
trù ở Bắc Bộ.
Năm 1987, có cuốn sách Tuyển tập thơ ca trù của tác giả Ngô Linh
Ngọc và Ngô Văn Phú. 6
Năm 2000, được sự tài trợ của Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam công
trình Góp phần tìm hiểu lịch sử ca trù của Nguyễn Xuân Diện đã được in tại
Nxb Khoa học xã hội và được công bố với công chúng.
Năm 2000, tại Viện Văn học, Nguyễn Đức Mậu bảo vệ thành công luận
án tiến sĩ ngữ văn với đề tài Thể loại hát nói trong sự vận động của lịch sử
văn học.
Năm 2002, Giang Thu – Vũ Thiệu Loan xuất bản sách Tìm hiểu ca trù
Hải Phòng; Lê Huy Trâm xuất bản sách Khảo sát Ca công ở Thanh Hóa.
Nghệ thuật ca trù là một di sản văn hóa quý báu, mang đậm bản sắc dân
tộc. Vì vậy, khi nghiên cứu không ngoài mục đích tìm hiểu cái hay, cái đẹp,
cái độc đáo của nghệ thuật ca trù. Mặt khác việc nghiên cứu nghệ thuật ca
trù trong khai thác hoạt động kinh doanh du lịch nhằm tìm ra những phương
thức khai thác và những giải pháp giữ gìn, phát huy loại hình nghệ thuật này
trong cuộc sống. Và cũng từ đó, làm đa dạng hóa sản phẩm du lịch, góp
phần thu lợi nhuận, thúc đẩy ngành du lịch phát triển.
Với mục đích nghiên cứu trên, nội dung nghiên cứu của đề tài tập trung
tìm hiểu về giá trị văn hoá của nghệ thuật ca trù và thực trạng khai thác các
giá trị văn hoá của nghệ thuật ca trù vào hoạt động kinh doanh du lịch hiện
nay, từ đó nhằm đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác sản
phẩm du lịch của nghệ thuật ca trù.
Ngoài ra tôi cũng mong muốn đưa ra những đánh giá ban đầu về sự phát
triển của sản phẩm du lịch dựa trên nghệ thuật ca trù trong phát triển du lịch
nói chung.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng mà luận văn nghiên cứu tập trung chủ yếu là loại hình hát ca
trù thính phòng phục vụ nơi ca quán, chứ không bao gồm hát cửa đình hay
hát trong cung đình xưa. Ngoài ra đối tượng nghiên cứu chính là sản phẩm
du lịch do nghệ thuật ca trù tạo ra cũng như các yếu tố khác liên quan khác
đến việc khai thác nghệ thuật ca trù cũng như du khách, cơ sở vật chất, tổ
chức quản lý, quảng bá. 8
Tuy nhiên do điều kiện thực tế và khả năng của bản thân có hạn nên
trong quá trình nghiên cứu, tôi tập trung nghiên cứu về nghệ thuật ca trù
đang được khai thác hoạt động kinh doanh du lịch trên địa bàn Hà Nội. Còn
nghệ thuật ca trù tại một số tỉnh thành khác thuộc Đồng bằng sông Hồng, tôi
chỉ xin giới thiệu như một tài nguyên du lịch tiềm năng.
tham khảo. Kết cấu 3 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan về nghệ thuật ca trù
Chương 2: Thực trạng khai thác nghệ thuật ca trù trong kinh doanh du lịch
Chương 3: Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả khai thác nghệ
thuật ca trù trong kinh doanh du lịch
7. Đóng góp của đề tài
Mặc dù trong nghiên cứu còn nhiều hạn chế, chưa đạt được các kết quả
như mong muốn nhưng sau khi hoàn thành đề tài, tôi xin đóng góp một số ý
kiến nhỏ cho việc phát triển hoạt động kinh doanh du lịch dựa trên nghệ
thuật ca trù:
- Tìm hiểu tình hình thực tế của hoạt động khai thác kinh doanh du lịch dựa
vào nghệ thuật ca trù. Từ đó đưa ra những đánh giá về việc khai thác sản
phẩm du lịch dựa trên nghệ thuật ca trù.
- Đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả khai thác kinh doanh du
lịch dựa vào nghệ thuật ca trù.
- Cung cấp một phần tài liệu cho việc nghiên cứu về nghệ thuật ca trù giúp
thế hệ trẻ thêm yêu mến, trân trọng, giữ gìn vốn cổ của dân tộc. 10
PHẦN NỘI DUNG
Khái niệm Ca trù sớm nhất hiện biết là thế kỷ 16 trong bài “Đại nghĩ bát
giáp thưởng đào giải văn” của Lê Đức Mao.
Cũng như khái niệm Ca trù, hát Ả đào là tên gọi chung của cùng một nội
dung. Theo các thư tịch cổ hiện biết thì thời điểm xuất hiện hát Ả đào sớm
nhất so với các khái niệm Ca trù, cô đầu,… Việt sử tiêu án của Ngô Thời Sĩ
nói rằng: “thời Lý Thái Tổ (1010 - 1028) có người ca nhi tên là Đào Thị tài
giỏi, hát hay được vua ban thưởng, từ đó về sau những người đi hát được gọi
là đào nương (tức ả đào)”, nhưng trong Công dư tiệp ký của Vũ Phương Đề
lại nói: “vào một thời điểm muộn hơn, cuối nhà Hồ (1400 - 1407) một ca nhi
họ Đào (cũng là họ Đào), ở làng Đào Đặng, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên,
giết được nhiều giặc Minh, về sau dân làng ở đây lập đền thờ, gọi thôn của
nàng là thôn Ả đào, và cũng từ đó ca nhi được gọi là ả đào”. Tuy nói khác
nhau về thời gian xuất hiện khái niệm Ả đào mấy thế kỷ nhưng đều nói đến
một lý do giống nhau là có một ca nhi họ Đào được ái mộ. Thông tin về sự
xuất hiện khái niệm được biết như thế nhưng các điệu hát thời đó như thế
nào thì cũng chưa có tư liệu nào cung cấp cho chúng ta kể cả sự hiện diện
dưới hình thức dấu hiệu ở một vài tư liệu hiện có. Thành tựu nghiên cứu cho
đến nay vẫn chưa có cách giải thích khác về khái niệm Ả đào.
Tên gọi hát Cửa đình (hát Đình môn) dùng để chỉ cuộc hát được tổ chức
tại đình làng hàng năm, vào ngày hội tế thần, tế thành hoàng làng. Luật lệ
hát rất chặt chẽ, nghiêm khắc, nghi lễ hát linh thiêng trọng thể. Các bài hát
Cửa đình bao gồm giáo trống, giáo hương, dâng hương, thét nhạc, hát
giai,… với đặc điểm là uy nghi, nghiêm kính, thiêng liêng.
Còn hát Cửa quyền xưa nay được hiểu là hát trong cung vua, trong nhà
quan hay những gia đình giàu có, quyền uy,… nghĩa là nơi hát, địa điểm hát
góp phần tạo nên lối hát. Hát Cửa quyền theo nhiều sách thì ngày xưa có
quan chuyên trách, có các quy định phép tắc, sau đó bỏ dần và pha lẫn với
hát ngoài giáo phường.
mỗi khác. 1
Việt Nam ca trù biên khảo, Đỗ Bằng Đoàn – Đỗ Trọng Huề, Sài Gòn 1962, trang 48 13
Bản thần phả “Sự tích tổ sư giáo phường” soạn năm 1476 ở làng Lỗ Khê
(Đông Anh, Hà Nội) tổ ca trù là ông Đinh Dự và bà Đường Hoa, con ông
Đinh Lễ, ở thời Lê Thái Tổ, quê gốc ở Thanh Hóa. Đinh Lễ do đi đánh giặc
nên đóng quân ở Lỗ Khê, và ở đây, Đinh Dự đã gặp tiên nữ Đường Hoa rồi
nên duyên vợ chồng. Hai ông bà đã mở giáo phường truyền nghề hát Ả đào
khắp vùng. Mãn hạn trần, Đường Hoa về trời, và Đinh Dự cũng hóa ngày 13
tháng 11. Sau khi họ mất, vua phong cho chồng là Thanh Xà đại vương, vợ
là Mãn Hoa công chúa, cho lập đền thờ ngay cạnh đền Lỗ Khê. Hàng năm
vào ngày hóa của họ, dân làng tổ chức cúng tế rất linh đình.
Trong bài viết Ca trù qua một số truyền thuyết, tác giả Trần Thị An dẫn
ý kiến của cụ Chu Hà cho biết: tại các huyện Thiệu Yên, Thọ Xuân, Quảng
Xương ở Thanh Hóa có những dòng ca công phát triển đã thờ chung một vị
tổ sư tên là Phong Quân. Ông này vốn là một hàn sĩ tiều phu, nhờ hát hay
đàn ngọt đã chinh phục được trái tim công chúa khiến nàng bỏ cả cung đình
đi theo tiếng gọi của nghệ thuật. Về sau họ trở thành vợ chồng và trở thành
nghệ sĩ dân gian, truyền nghề đàn hát và được lập đền thờ ở xã Ngọc Trung.
Nay đền không còn, chỉ còn dấu tích gọi là Dải Đàn và Túi Sênh
2
.
Sự tích tổ cô đầu ở làng Cổ Đạm, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh là sự
tích được kể chi tiết nhất. Truyền thuyết này có một số chỗ giống và khác
với bản phả ở Lỗ Khê. Truyền thuyết kể rằng: Vào đời nhà Lê, Đinh Lễ, tự
của Đinh Lễ ở Cổ Đạm? Tuy nhiên điều này chưa có đủ cứ liệu để chứng
minh.
Như vậy, xung quanh các truyền thuyết về tổ ca trù thì ở các làng tổ
nghề thường gồm hai người (một nam, một nữ). Người đàn ông thường
được gọi bằng cái tên không giống nhau, khi thì Đinh Lễ (Cổ Đạm), khi thì
Đinh Dự (Lỗ Khê), lúc lại là Đinh Triết (Đan Phượng),… Các nhà nghiên
cứu cũng quan sát thấy ở đâu có ả đào thì thường liên quan đến họ Đinh, đã
đặt ra nghi vấn nhưng chưa thiết lập giải đáp. Nhưng các truyền thuyết, hầu
hết đều thống nhất rằng vùng đất Thanh Nghệ là miền quê phát tích. Mặc dù
chưa thể đưa ra được kết luận về sự hình thành và phát triển của thể loại qua
những truyền thuyết, song đây cũng là một cứ liệu có ý nghĩa nhất định
trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu về nguồn gốc ca trù trong đời sống tâm
thức dân gian và trong đời sống sinh hoạt dân gian.
15
1.2.2 Lược sử phát triển của nghệ thuật ca trù
Ở nước ta, từ thời Tiền Lê về trước không có sử sách nào ghi chép về
vấn đề ca vũ, nhưng từ thời Lý trở đi, có ghi chép đầy đủ với những quy
định trong việc tổ chức biên chế rất nghiêm ngặt (các sách chính sử và dã sử
có ghi chép rõ ràng). Theo ý kiến của tác giả Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng
Huề trong Việt Nam ca trù biên khảo thì “Lối hát ả đào có từ thời Lý”
3
và
“Ca trù bắt nguồn từ lối ca vũ”
4
cụ thể là ban Nữ nhạc trong cung vua. Khi
xưa khi có yến tiệc, vua chúa dùng Nữ nhạc múa hát góp vui. Trong khi đó
ngoài dân gian vào dịp đình đám, hội hè người ta cũng tìm ca nhi đến hát để
cửa quyền, giọng hát uyển chuyển, dịu dàng, thanh nhã hơn giọng hát ở
chốn giáo phường. Nhưng âm luật không khác mấy”. Và từ năm 1578 “tục
nhạc ở chốn giáo phường mới thịnh hành, tế giao miếu và lễ triều hạ, hay
chốn dân gian tế thần cũng dùng nhạc ấy…”.
So sánh âm luật đời Hồng Đức với lối ca trù ngày nay, ta thấy có 5 lối
lưu truyền lại là: Cung bắc, Đại thực, hát tầng (Xướng tầng), thiết nhạc, hà
nam (cơ sở đặt ra điệu Hát nói sau này). Thực tế cho thấy vào thời vua Lê,
chúa Trịnh, hát ca trù đã phát triển rất sâu rộng từ chốn cung đình ra ngoài
dân gian. Nhiều bậc vua chúa lấy vợ là ả đào, ví như vua Lê Thánh Tông đã
sách lập một người trong ban nữ nhạc múa hát làm Trường lạc hoàng hậu.
Đời vua Lê Thần Tông, chúa Trịnh Tráng lập nàng Phùng Ngọc Đài là ả đào
làm vương phi. Đời vua Dụ Tông, chúa Trịnh Cương phong nàng Nguyễn
Thị Huệ là ả đào làm Ngọc kiều phu nhân và làm nữ quan trông coi ban nữ
nhạc. Đặc biệt, dưới đời Lê có Đinh Lễ (Cổ Đạm, Hà Tĩnh), lấy gỗ ngô đồng
chế ra đàn đáy, rồi cùng vợ là Bạch Hoa đặt ra nhiều khúc hát mới, dạy bọn
đệ tử hát đời sau tôn làm tổ cô đầu. Ngoài ra, còn có một số sự kiện có liên
quan đến ca trù: Lê Dụ Tông rất sành ca trù đã đặt ra điệu Ngâm vọng trữ
tình; chúa Trịnh đã dâng mừng vua Lê khúc Đại thực (sau đổi là Đại thạch);
chúa Trịnh Sâm đã chế ra điệu Thổng,… Cũng dưới đời Lê ca trù được biết
đến với các tên gọi: hát cửa quyền, hát cửa đình, hát nhà tơ, hát nhà trò, hát
ả đào.
Từ hình thức sinh hoạt văn hóa tổng thể thời Lê gồm ca, múa, nhạc thì
đến đầu thời Nguyễn, ca trù chuyển thành lối hát thính phòng, phần múa bị
tước bỏ, phần ca nhạc được nâng cao. Về sau ca trù thính phòng ngày càng
được ưa chuộng và trở thành thú chơi tao nhã của giới ca sĩ kinh thành. Đặc
biệt dưới thời Minh Mạng (1820 - 1840), Thiệu Trị (1841 - 1847), thể loại
hát nói ra đời với sự đóng góp lớn của Nguyễn Công Trứ trong việc đưa ca