Khai thác các giá trị văn hóa của nghệ thuật múa rối nước ở vùng đồng bằng bắc bộ việt nam phục vụ phát triển du lịch - Pdf 96


1
Khai thác các giá trị văn hóa của nghệ thuật
múa rối nước ở vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt
Nam phục vụ phát triển Du lịch

Trần Thị Minh

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; Khoa Du lịch
Chuyên ngành: Du li
̣
ch; Mã số: Chương trình đào tạo thí điểm
Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Phạm Hùng
Năm bảo vệ: 2012

Abstract. Tổng quan về Múa rối nước ở đồng bằng Bắc Bộ và vai trò của Múa rối nước
trong du lịch. Thực trạng khai thác Múa rối nước trong du lịch như: công tác tổ chức -
quản lý; cơ sở vật chất – kỹ thuật; nhân lực; xây dựng múa rối nước thành sản phẩm
phục vụ phát triển du lịch; hoạt động tuyên truyền, quảng bá và thu hút khách du lịch.
Một số giải pháp khai thác Múa rối nước trong phát triển du lịch.

Keywords. Du lịch; Múa rối nước; Giá trị văn hóa; Đồng bằng Bắc Bộ; Nghệ thuật múa
rối

Content.

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Cùng với xu hướng gia tăng nhu cầu du lịch trên thế giới, những năm gần đây,
ngành Du lịch Việt Nam ngày càng có vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển
kinh tế, xã hội của đất nước. Chính vì vậy, sự quan tâm đầu tư các nguồn lực phát triển

Lê Văn Ngọ (2004)
Ngoài ra còn có các nghiên cứu cụ thể về mối quan hệ giữa múa rối và du lịch
xoay quanh các đề tài về nhà hát múa rối nước Thăng Long, Nhà hát múa rối Việt Nam,
Bảo tàng Dân tộc học
Như vậy, đề tài tổng hợp về nghệ thuật múa rối nước dưới góc độ khai thác vào
hoạt động du lịch trên phạm vị đồng bằng Bắc Bộ chưa có nghiên cứu cụ thể. Đề tài
“khai thác các giá trị văn hóa của nghệ thuật múa rối nước ở vùng đồng bằng Bắc Bộ
Việt Nam phục vụ phát triển Du lịch” là đề tài mới, chưa có nghiên cứu tiền nhiệm.
3. Mục đích và nội dung nghiên cứu
Mục đích:
- Tìm hiểu nghệ thuật múa rối nước ở vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam
- Nắm bắt được thực trạng khai thác các giá trị văn hóa của nghệ thuật múa rối
nước, đặc biệt trong Du lịch.
- Dựa trên thành tựu và thực trạng, phân tích kiến giải, đề xuất giải pháp nhằm
nâng cao khả năng bảo tồn, phát huy nghệ thuật múa rối nước, khai thác phục vụ phát
triển du lịch.
Nội dung:
- Tập trung tìm hiểu nghệ thuật múa rối nước, các giá trị văn hóa của nghệ thuật
múa rối nước ở vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam, vận dụng khai thác trong Du lịch.

3

4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là toàn bộ hoạt động múa rối nước trên địa bàn
các tỉnh thành đồng bằng Bắc Bộ, trong đó việc khai thác các giá trị, đặc biệt là giá trị
văn hóa – nghệ thuật múa rối nước phục vụ hoạt động phát triển du lịch.
Phạm vi nghiên cứu
Do tính phong phú của đề tài, sự giới hạn về không gian, thời gian và năng lực cá
nhân, tác giả nghiên cứu việc khai thác nghệ thuật múa rối nước trong phạm vi vùng đồng

Chƣơng 1
TỔNG QUAN VỀ NGHỆ THUẬT MÚA RỐI NƢỚC.
TÀI NGUYÊN DU LỊCH MÚA RỐI NƢỚC

1.1. Tổng quan nghệ thuật múa rối
1.1.1. Khái niệm múa rối
Một số số nhận định cơ bản về nghệ thuật rối:
- Bắt nguồn từ những trò chơi ngẫu nhiên, tự phát đến có chủ định, truyền cảm
- Con rối là nhân vật chính, nhưng phụ thuộc sự phối hợp giữa nghệ thuật điêu
khắc, kỹ thuật lắp ráp, bài trí sân khấu và nghệ thuật điều khiển con rối.
- Có khả năng tập trung, quy tụ niều loại hình nghệ thuật (điêu khắc, hội họa,
chèo, tuồng, ca trù, quan họ )
- Phụ thuộc chủ yếu vào tài điều khiển của diễn viên điều khiển con rối.
Tô Sanh: “Múa rối: loại hình nghệ thuật sân khấu có khả năng truyền cảm một
cách cao độ; sự phối hợp giữa kỹ thuật và nghệ thuật tạo hình, kỹ thuật và điều khiển,
con rối là phương tiện chủ yếu. Nó có khả năng tập trung nhiều hình thức nghệ thuật
sân khấu khác; Phục vụ mọi tầng lớp Múa rối có rất nhiều loại. Nhân vật rối là trung
tâm. Người diễn viên điều khiển được che giấu kín. Sân khấu cần phù hợp với kích
thước của cả người và rối. Múa rối chủ yếu dùng tài năng của người diễn viên điều
khiển con rối.[57, Tr.32]
1.1.2. Các loại hình múa rối trên thế giới
Múa rối bao gồm múa rối cạn và múa rối nước. Các loại hình múa rối bao gồm:
+ Rối tay
+ Rối
+ Rối dẹt
+ Rối bóng: Rối bóng bàn tay và rối bóng bìa, rối da.
+ Rối cao su xốp
+ Rối đặt trên đầu
+ Rối đeo lưng
+ Rối sân khấu đen

hộ.
Ðến nay, chưa khẳng định rằng múa rối nước của ta hay là thủy khối lổi của
Trung Quốc có trước. Nhưng múa rối nước không phải gốc ở Trung Quốc. Đối với thế
giới, múa rối nước Việt Nam là một đóng góp độc đáo và đầy sáng tạo. Với nghệ thuật
múa rối nước, Việt Nam đã có vị trí xứng đáng của mình trong lịch sử sân khấu nghệ
thuật của thế giới.
1.2.2. Khái niệm múa rối nước
Múa rối nước là một loại hình nghệ thuật sân khấu múa rối, mà chỗ diễn con rối
là ở mặt nước (ao, hồ hay bể rộng). Buồng trò của người biểu diễn là một cái nhà được
cất giữa ao, hồ hoặc sát một mé hồ. Người điều khiển ngâm mình dưới nước, nấp sau
tấm mành mành điều khiển con rối (thông thường được làm bằng gỗ hoặc chất liệu
không thấm nước) bằng cách khua sào có dính con rối ở dây và đầu sào. Nước che kín
các loại que, dây, máy. Có nhiều loại rối nước: rối ao, rối bể, rối nước kết hợp với rối
cạn v.v…Sân khấu hoặc nhà hát cố định của múa rối nước truyền thống là hệ thống nhà
hai tầng tám mái xây bằng gạch, có từ lâu đời. Múa rối nước là một bộ môn nghệ thuật
lỳ lạ chỉ thấy ở Việt Nam.[57, Tr.37]

6
1.2.3. Quá trình phát triển của nghệ thuật múa rối nước Việt Nam
Theo Tô Sanh, quá trình phát triển của nghệ thuật múa rối nước dân tộc trải qua
6 thời kỳ:
- Thời kỳ thứ nhất: một trò chơi của nhân dân lao động, thợ thủ công, nông dân,
không phổ biến rộng. Phạm vi một vài gia đình, dòng họ, địa phương. Xuất hiện trước
thời Lý.
- Thời kỳ thứ hai: Hình thành một nhóm người chơi rối của nhân dân lao động,
tiến lên xuất hiện gánh rối, phường rối, bắt đầu xuất hiện ở địa phương đông người xem,
lan rộng ra các vùng lân cận. Có thể có trước thời Lý, nhưng phát triển cực thịnh nhất
vào thời này rồi theo từng giai đoạn.
- Thời kỳ thứ ba: Có nhiều cơ sở múa rối. Có sự giao lưu, thi đấu, học hỏi, ảnh
hưởng lẫn nhau giữa các phường, gánh rối. Nội dung chủ yếu phản ánh cuộc sống lao

Sân khấu hiện đại (trong các trung tâm biểu diễn rối, phường, hội…)
Đối với sân khấu múa rối thùng hoặc múa rối bể, thì việc bố trí và khoảng cách
sẽ khác. Nhìn chung mức độ thuận lợi của buổi biểu diến và quy mô khán giả không
được như biểu diễn tại thủy đình truyền thống.
1.2.4.6. Âm nhạc trong nghệ thuật múa rối nước
- Nhạc cụ
- Giai điệu, lời thoại
1.2.4.7. Trang phục
1.3. Đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam
1.3.1. Đặc điểm môi trường tự nhiên
Đồng bằng Bắc Bộ mang đầy đủ những tính chất và đặc điểm về môi trường tự
nhiên của Việt Nam. Những đặc điểm riêng biệt: địa hình chủ yếu là đồng bằng, khí hậu
nhiệt đới gió mùa, lượng mưa trung bình hàng năm lớn, độ ẩm cao. Một năm có bốn
mùa rõ rệt. Cùng với mạng lưới sông ngòi dày đặc, đặc biệt là hệ thống các sông lớn
như sông Hồng, sông Thái Bình với lượng phù sa bồi tụ lâu đời, đã tạo nên một nền
văn minh sông Hồng, Đông Sơn rực rỡ.
1.3.2. Đặc điểm môi trường xã hội
Đồng bằng Bắc Bộ từ lâu đã là địa bàn cư trú của cư dân người Việt cổ. Do đó,
khu vực này đã có lịch sử phát triển lâu đời. Dân cư đông đúc, có trình độ học vấn, có
kinh nghiệm làm ăn.
Vùng là trung tâm chính trị, văn hóa của cả nước. Trung tâm giao lưu dịch vụ,
thương mại và du lịch của các tỉnh phía Bắc, trung tâm giao thông, giao thoa văn hóa,
kinh tế quan trọng cả trong nước và nước ngoài.
Như vậy, với lợi thế lịch sử hình thành và phát triển lâu đời, dân cư đông đúc,
nền văn hóa có cơ hội bồi tụ bên bờ sông Hồng, lượng di tích lịch sử và truyền thống
văn hóa dày đặc, đậm nét. Đồng bằng sông Hồng là quê hương của nhiều loại hình nghệ
thuật dân gian cổ truyền, trong đó nghệ thuật múa rối nước.
1.4. Nghệ thuật múa rối nƣớc ở vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam
1.4.1. Sân khấu múa rối truyền thống
Hiện nay, Việt Nam có 14 phường rối nước dân gian, các phường rối nước dân

địa danh đẹp và hấp dẫn, những món ăn ngon, tiêu biểu, những cơ sở vật chất – kỹ thuật
có tiêu chuẩn, chọn lọc, dịch vụ được trau chuốt, và đặc biệt là những nét văn hóa độc
đáo, chỉ riêng có ở Việt Nam là những tiêu chí quyết định mang du khách đến với Việt
Nam. Vì vậy múa rối nước là một trong số những yếu tố thúc đẩy nhu cầu du lịch.
1.5.2. Những vấn đề đặt ra trong khai thác nghệ thuật múa rối nước phục vụ
phát triển du lịch
Căn cứ vào tính tất yếu của việc khai thác nghệ thuật múa rối nước, những kinh
nghiệm khai thác nghệ thuật truyền thống phục vụ phát triển du lịch, chúng tôi thấy rằng
có 06 vấn đề nổi trội dưới đây cần nghiên cứu:
1. Vấn đề tổ chức quản lý
2. Vấn đề cơ sở vật chất – kỹ thuật
3. Vấn đề nhân lực
4. Vấn đề sản phẩm

9
5. Vấn đề tuyên truyền, quảng bá và thu hút du khách
6. Vấn đề về bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật múa rối nước
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1
Được coi là độc đáo của riêng Việt Nam, rối nước hứa hẹn đem lại cho du khách
trong nước và quốc tế những cảm nhận rieng biệt, sinh động. Để làm được điều đó, thì
việc tổ chức quản lý, xây dựng hệ thống cơ sở vật chất - kỹ thuật; đào tạo nguồn nhân
lực có đủ trình độ và tâm huyết; các giả pháp tuyên truyền, quảng bá và thu hút khách,
cùng với việc bảo tồn và phát huy giá trị đặc sắc của rối nước cần có những bước đi cụ
thể.

Chƣơng 2
THỰC TRẠNG KHAI THÁC CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA
CỦA NGHỆ THUẬT MÚA RỐI NƢỚC Ở VÙNG
ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ TRONG DU LỊCH


dân gian và các đơn vị rối chuyên nghiệp và bán chuyên nghiệp trên toàn lãnh thổ Việt
Nam.
Nhiệm vụ: quy tụ và thiết lập các mối quan hệ về nghề nghiệp và kinh nghiệm
giữa các nhà hát, phường rối; động viên các nghệ sĩ sáng tạo những tác phẩm có chất
lượng cao; đào tạo, bồi dưỡng các tài năng trẻ, tăng cường tổ chức giao lưu, học hỏi
kinh nghiệm, mở rộng thị trường múa rối trên quốc tế, tư vấn, trình Hội nghệ sỹ sân
khấu và Cục nghệ thuật biểu diễn tổ chức các kỳ liên hoan múa rối và các đợt lưu diễn ở
nước ngoài, và mời các đoàn múa rối nước ngoài đến biểu diễn tại Việt Nam.
Cả nước hiện có 4 nhà hát chuyên nghiệp với 196 nghệ sĩ, diễn viên, hai đoàn múa
rối bán chuyên nghiệp, 03 đoàn rối cạn cổ truyền và 14 phường rối nước cổ truyền với trên
300 nghệ sĩ, nghệ nhân và các đội múa rối tại các địa phương trên toàn quốc.
2.1.1.3. Các tổ chức phi chính phủ
Quỹ Việt Nam – Thụy Điển
Thuộc Chương trình Hợp tác Nghiên cứu Việt Nam – Thụy Điển giai đoạn 1-1-
2004 đến 31-12-2007, đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình. Với 10 triệu Curon
Thụy Điển (tương ứng với 1,5 triệu USD), Quỹ có mục đích hỗ trợ các ý tưởng, đề tài
nghiên cứu mới nảy sinh, có tính ứng dụng cao, đáp ứng nhu cầu thực tiễn của quá trình
phát triển, đặc biệt là các đề tài nghiên cứu liên ngành, liên quan tới các lĩnh vực công
nghệ sinh học, nông nghiệp và phát triển nông thôn, y tế, văn hóa, xã hội.
Cơ quan chủ quản: Bộ Khoa học và Công nghệ (MOST). Cơ quan thực hiện tại
Việt Nam: Văn phòng chương trình Hợp tác Nghiên cứu Việt Nam – Thụy Điển (PMU).
Thông tin liên hệ:
Văn phòng Chương trình Hợp tác Nghiên cứu Việt Nam – Thụy Điển
Phòng 390, Khách sạn Hoà Bình, 27 Lý Thường Kiệt, Hà Nội
Tel: 84-4-9362866 Fax: 84-4-9362867
Email:
Website:
Mục tiêu dự án

11

 Các hướng dẫn về quản lý hành chính và tài chính dự án, hướng dẫn thực hiện
Quĩ nghiên cứu của Chương trình.
 Một số hoạt động đào tạo như lớp học, hội thảo về các chủ đề liên quan đến quản
lý dự án và hoạt động điều phối, liên kết sẽ được PMU tổ chức cho các cán bộ có
liên quan của các dự án trong Chương trình.
Quỹ Ford
Quỹ Ford bắt đầu thực hiện tài trợ ở Việt Nam từ đầu những năm 1990, và được

12
cấp giấy phép thành lập văn phòng đại diện tại Hà Nội vào tháng 10/1996. Trong
những năm này quỹ đã phê duyệt hơn 625 tài trợ, với tổng số tiền là 84.5 triệu đô la,
cho các tổ chức và cá nhân ở Việt Nam, cũng như cho các cơ quan nước ngoài hoạt
động vì lợi ích của Việt Nam. Trong năm 2007, hoạt động tài trợ ở Việt Nam tổng cộng
là 10 triệu đô la.
Quỹ thực hiện tài trợ trong sáu lĩnh vực: Tài chính Phát triển; Giáo dục và Học
thuật; Môi trường và Phát triển; Hợp tác Quốc tế; Truyền thông, Văn hoá và Nghệ
thuật; và Tình dục và Sức khoẻ Sinh sản.
Sứ mệnh của Quỹ Ford:
- Tăng cường các giá trị dân chủ
- Giảm nghèo đói và bất công
- Phát triển hợp tác quốc tế và
- Thúc đẩy thành tựu của con người
Địa chỉ liên hệ
Quỹ Ford
320 East 43rd Street, New York, NY
10017 USA
www.fordfound.org
Quỹ Ford Việt Nam
Tầng 14, Toà nhà Pacific Place, 83B Lý Thường Kiệt
Hoàn Kiếm, Hà Nội, VIỆT NAM Tel. (+84) 4-946-1428

Nghệ sỹ
biểu diễn (16)
(16)
nghệ thuật, tài liệu hóa và bảo tồn các truyền thống đa dạng của Việt Nam, tái phát triển
ngành công nghiệp điện ảnh, khuyến khích nghệ sỹ thu hút sự chú ý của thế giới xung
quanh. 11.663.700 USD.
2.2.1.4. Cơ cấu tổ chức, quản lý các đơn vị múa rối
Sân khấu múa rối chuyên nghiệp: đơn vị kinh doanh có tư cách pháp nhân. Vì
vậy, tùy thuộc vào quy mô và tình hình hoạt động của mỗi đơn vị, có thể có sự khác biệt.
Song nhìn chung đều theo mô hình doanh nghiệp dưới sự quản lý của Nhà nước.
Cơ cấu tổ chức quản lý Nhà hát múa rối Việt Nam:
1. Giám đốc và các phó giám đốc
2. Các phòng chức năng và đoàn biểu diễn
3. Phòng hành chính - tổng hợp
4. Phòng tổ chức biểu diễn
5. Phòng nghệ thuật
6. Đoàn biểu diễn I
7. Đoàn biểu diễn II
8. Đoàn biểu diễn III
9. Đội nhạc
10. Tổ chức trực thuộc
11. Trung tâm thiết kế, trang trí, tạo hình
12. Ban quản lý rạp
2.1.4.2. Cơ cấu tổ chức sân khấu múa rối truyền thống
Mỗi phường rối có quan niệm và cách thức phân bổ nhân lực quản lý bộ máy tổ
chức phường, hội của mình khác nhau sao cho hiệu quả nhất. Nhưng nhìn chung, cơ cấu
tổ chức có mô hình gần giống với mô hình cơ cấu tổ chức – quản lý của phường rối
nước Đồng Ngư. Cụ thể như sau:
Nhà hát múa rối Việt Nam: 03 sân khấu biểu diễn. Thủy đình ngoài trời 360 chỗ
chuyên biểu diễn múa rối nước truyền thống. Rạp mới xây dựng, trong rạp có hai sân khấu:
Một chuyên biểu diễn Rối cạn tại tầng 2 với 280 chỗ, sân khấu tầng 1 với 230 chỗ, có thể
biểu diễn tất cả các loại hình nghệ thuật khác (Rối nước truyền thống, rối nước kết hợp rối
cạn và nghệ thuật đương đại).
2.2.1.3. Cơ sở vật chất – kỹ thuật tại các điểm Tham quan – Du lịch
Nhận thấy sự độc đáo và hấp dẫn du khách của nghệ thuật múa rối nước, hiện
nay tại một số điểm tham quan – du lịch có tổ chức khai thác hoạt động múa rối nước
trong du lịch. Điển hình có các đơn vị sau:
Bảo tàng dân tộc học. Bảo tàng dân tộc học không phải là đơn vị múa rối chuyên
nghiệp. Song đây là nơi trung gian giới thiệu đến du khách gần như nguyên gốc nghệ
thuật múa rối nước dân gian.
Quy mô và kết cấu của Bảo tàng: 2 khu vực chính. Một khu bao gồm nhà trưng
bày, văn phòng và cơ sở nghiên cứu, thư viện, hệ thống kho bảo quản, hệ thống các bộ
phận kỹ thuật, hội trường liên hoàn với nhau, tổng diện tích 2.480m
2
, trong đó 750
m
2
dùng làm kho bảo quản hiện vật. Khu thứ 2 là khu trưng bày ngoài trời, rộng khoảng
2 ha, bắt đầu xây dựng năm 1998 và hoàn thành công trình trưng bày cuối cùng trong
năm 2006. Không gian trưng bày ngoài trời của Bảo tàng DTHVN rộng khoảng 2 ha,
giới thiệu những phong cách kiến trúc đặc trưng của một số dân tộc ở Việt Nam. Hiện

15
nay Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam được cấp thêm hơn 1 ha đất, nâng diện tích
khuôn viên của Bảo tàng lên gần 4,4 ha. Tại phần đất mở rộng này, từ giữa năm
2007 bắt đầu xây dựng một tòa nhà 4 tầng, mang tên “nhà Cánh diều”, để giới thiệu
về văn hóa các dân tộc ngước ngoài, chủ yếu là các dân tộc ở Đông Nam Á. Đây sẽ
là khu trưng bày thứ 3 của Bảo tàng.

quan nghỉ dưỡng cuối tuần lý tưởng, có khả năng đón tiếp khoảng 1000 du khách/ngày.

16
Khu du lịch là nơi tập hợp tinh hoa của các làng nghề truyền thống Việt Nam
như dệt lụa Vạn Phúc, gỗ Đồng Kỵ, mộc mỹ nghệ Sơn Đồng, sản phẩm thêu Khoái Nội,
chạm bạc Đồng Xâm, ngoài ra còn có gốm Chăm, gốm Đồng Nai, thổ cẩm thêu Sa Pa,
đá quý Lục Ngạn…đặc biệt là gốm sứ Bát Tràng.
Ngoài các hoạt động tham quan, giải trí, khu du lịch có các chương trình biểu
diễn nghệ thuật: múa rối nước, hát chèo, hát quan họ, chầu văn, ca trù, do các nghệ nhân
làng ĐàoThục, Luy Lâu, Bắc Ninh thể hiện. Để làm được điều đó, khu du lịch đã đầu tư
một nhà thuỷ đình kiên cố để trình diễn múa rối nước.
Được biết, đã có một số công ty du lịch hợp tác khai thác và xây dựng tour thử
nghiệm tại Minh Hải, như OSC, APEC, Vinatour và bắt đầu có hiệu ứng tốt từ du
khách nước ngoài.
2.3. Thực trạng nhân lực
2.3.1. Thực trạng nhân lực sân khấu múa rối chuyên nghiệp
Nhìn chung, về cơ cấu nhân lực, trình độ sân khấu múa rối chuyên nghiệp có cách
phân bổ tương đối tương tương đồng nhau.
Nhà hát múa rối Thăng Long: Số lượng thành viên đoàn rối nước 20 người. hai
đoàn diễn với 70% diễn viên trình độ Đại học, 8 nhạc công, 5 kỹ thuật viên và các phòng ban
chức năng. Nhà Hát có nhà sáng tác, đạo diễn riêng, 5 NSƯT, 6 nghệ sỹ xuất sắc, nhiều diễn
viên tài năng trẻ. Ngoại ngữ chủ yếu bao gồm tiếng Anh, tiếng Pháp.
Nhà hát múa rối Việt Nam: Hiện nay có 97 thành viên trong biên chế, được đào tạo
bài bản, chuyên nghiệp, được tuyển dụng từ các trường, đặc biệt là trường Đại học sân khấu –
Điện ảnh, các khoa như kịch hát dân tộc, chèo, tuồng, cải lương, âm nhạc dân tộc Các nghệ
sỹ điều khiển con rối, được tuyển chọn từ những sinh viên có tố chất đào tạo lý thuyết tại
trường sân khấu điện ảnh, thực hành tại Nhà hát múa rối Việt Nam. Đội ngũ thuyết minh viên
biết ngoại ngữ chủ yếu là tiếng Anh, Pháp, tiếng Hàn Quốc, Trung Quốc
2.3.2. Thực trạng nhân lực sân khấu múa rối truyền thống
Số thành viên dao động trong khoảng từ 15 – 20 người. Phần đông là nam giới.

Tuy nhiên, các nghệ sỹ trẻ của lớp đào tạo đó không còn ai theo nghiệp múa rối,
các phường rối luôn mở cửa đón các thế hệ trẻ. Hiện nay việc tuyển chọn nhân sự để đào
tạo biểu diễn có thể lo liệu được. Song đối với đội ngũ nhạc công, nghệ sỹ tạo hình con
rối, ca nương thì đội ngũ kế tiếp hiện nay không có.
Phường rối Đào Thục
Số thành viên hiện tại của phường có 15 người. Trưởng phường hiện nay là ông
Nguyễn Văn Quảng. Trước đây, phường chỉ toàn nam giới, kể cả nhạc công và hát
xướng. Nhiều năm gần đây nữ giới cũng được tham gia và phường, nhưng chỉ chơi ở tổ
nhạc, riêng trò nước tuyệt nhiên không có nữ giới và con rể làng. Giữ bí mật vẫn được
lưu truyền từ đời này sang đời khác ở phường rối dân gian Đào Thục.
2.4. Thực trạng vấn đề sản phầm và hoạt động tuyên truyền quảng bá nghệ
thuật múa rối nƣớc
2.4.1. Vai trò của các đơn vị tổ chức quản lý trong việc tổ chức các hoạt động
tuyên truyền, quản bá múa rối nước
Các cơ quan quản lý tổ chức các hoạt động quảng bá, xúc tiến cho nghệ thuật
múa rối nước thông qua các liên hoan múa rối trong nước, tham dự liên hoan múa rối
quốc tế. Tiêu biểu:
Liên hoan múa rối dân gian quốc lần thứ nhất (tháng 06/2011)

18
Đơn vị chỉ đạo: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chỉ đạo Cục nghệ thuật biểu
diễn, phối hợp với Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Hải Dương, Hội Nghệ sỹ sân
khấu, Liên chi hội múa rối – UNIMA Việt Nam.
Mục đích, ý nghĩa
Giới thiệu các giá trị độc đáo của nghệ thuật múa rối dân gian ở các phường rối;
là ngày hội để các nghệ nhân có điều kiện gặp gỡ giao lưu, trao đổi, học tập kinh
nghiệm lẫn nhau.
Các nhà quản lý có dịp hiểu và quan tâm đến phương thức hoạt động và đời sống
của các nghệ nhân của các phường múa rối, từ đó định hướng để bảo tồn và phát triển
nghệ thuật múa rối dân gian,đáp ứng nhu cầu thưởng thức nghệ thuật ngày càng cao của

nghệ nhân, cán bộ công nhân viên của phường tham gia liên hoan.
- Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hải Dương lo kinh phí địa điểm biểu diễn,
kinh phí tuyên truyền quảng bá, âm thanh, ánh sáng, trang trí khánh tiết, lễ tân trong quá
trình diễn ra liên hoan.
Khen thưởng
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch giao cho cục Nghệ thuật biểu diễn sẽ có những
hình thức khen thưởng như sau:
- Tặng thưởng giải A, giải B cho các tiết mục, các cá nhân, đơn vị và nhóm các
nghệ nhân biểu diễn đạt các tiêu chí trong Quy chế chấm thi và khen thưởng. (Số lượng
giải thưởng không quá 40% tổng số diễn viên chính và phụ trong các tiết mục tham gia
liên hoan). Theo đó, giải nhất cá nhân, tiết mục từ 3 đến 5 triệu.
- Ngoài các giải thưởng chính thức, Ban tổ chức sẽ xem xét để trao một số giải
phụ khác như thiết kế con rối đẹp, vv…theo đề xuất của Ban giám khảo và được sự
đồng ý của Ban chỉ đạo. Các giải thưởng có giấy khen nhận kèm theo tiền thưởng của
Cục nghệ thuật biểu diễn.
Kết quả, thành tựu của Liên hoan
Kết thúc liên hoan Ban tổ chức đã trao 6 giải A, 7 giải B cho các tiết mục xuất
sắc và 2 giải tạo hình con rối xuất sắc.
03 Giải A - Giải chương trình xuất sắc: trao cho phường Thanh Hải, phường Bảo
Hà và Nhân Hòa. 6 giải A - Giải tiết mục xuất sắc cho các tiết mục: Rước ảnh Bác Hồ
(phường Bùi Thượng); Tuồng Sơn Hậu - trích đoạn chém Tá (phường Tế Tiêu); trò Thị
Mầu lên chùa (phường Đông Các); Múa hát văn (phường Nghĩa Trung); Rồng đốt lá đề,
ngựa chiến trên dàn sóc (phường Thanh Hải); Múa Tứ linh (phường Minh Tân). Giải
tạo hình con rối xuất sắc cho phường Nam Chấn (xã Hồng Quang, huyện Nam Trực) và
Đồng Ngư.
2.5. Thực trạng các giải pháp thị trƣờng và thu hút khách du lịch
2.5.1. Thực trạng các giải pháp thị trường và thu hút khách du lịch tại sân
khấu rối nước truyền thống
Cách quảng cáo của dân gian dựa vào uy tín và lời truyền tụng của người dân địa
phương, mà ngày nay kinh doanh hiện đại vẫn áp dụng: “ tiếng lành đồn gần, tiếng dữ

dưới 40 du khách, đủ quốc tịch. Đến nay, phường rối Đào Thục đã có bề dày gần 300
năm.
2.5.2. Thực trạng các giải pháp thị trường và thu hút khách du lịch đối với sân
khấu múa rối nước chuyên nghiệp
2.5.2.1.Nhà hát múa rối Việt Nam
Từ khi thành lập đã dựng được gần 100 vở diễn múa rối (vở ngắn và vở dài).
Bên cạnh đó, Nhà hát còn sưu tầm, nghiên cứu, phục hồi, nâng cao hàng chục trò múa
rối nước cổ truyền. Giúp đỡ về chuyên môn, vật chất cho các phường rối nước Nguyên
Xá, Đông Các (Thái Bình), Nam Chấn (Hà Nam), Hồng Phong (Hải Dương), Tế Tiêu
(Hà Tây)…Nhà hát còn giúp thành lập các đoàn múa rối ở các tỉnh như Đoàn Hải Phòng,
Đoàn Hà Nội, Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh, Đoàn Đắc Lắc…
Về biểu diễn: Nhà hát có mặt ở hầu hết các tỉnh, thành, huyện, thị xã,…trên
Toàn quốc, thực hiện hàng nghìn buổi biểu diễn, phục vụ hàng triệu lượt người xem.

21
Đặc biệt Nhà hát còn đến tận cơ sở để phục vụ các em nhỏ. Vào vùng sâu, vùng xa
phục vụ các bà con dân tộc.
Về đối ngoại: Từ năm 1979, Nhà hát mở rộng cánh cửa đối ngoại đã thực hiện trên
40 chuyến lưu diễn. Qua 27 nước khác nhau trên thế giới. Có nước Nhà hát đến biểu diễn 9
lần như Pháp. Dù biểu diễn ở bất cứ nước nào trên thế giới, nhà hát cũng được đón tiếp rất
nhiệt tình và chu đáo. Qua đó có thể khẳng định Múa rối chính là chiếc cầu nối văn hoá
Việt Nam gần với bạn bè Quốc tế.
2.5.2.2.Nhà hát múa rối Thăng Long
Nhà hát Múa rối Thăng Long tham gia các cuộc liên hoan trong nước và Quốc
tế, đoạt nhiều Huy chương vàng, huy chương bạc, cùng nhiều Bằng khen, Giấy khen do
Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch, UBND Thành phố Hà Nội tặng thưởng. Năm 2008
được tặng danh hiệu: "Lá cờ đầu của ngành Văn hoá", là nhà hát dẫn đầu doanh thu thực
hiện xã hội hoá nghệ thuật sớm nhất cả nước.
Nhà hát Múa rối Thăng Long đã kết hợp hài hoà các nhiệm vụ quản lý Nhà hát,
sáng tạo nghệ thuật đáp ứng tâm tư nguyện vọng chính đáng của nghệ sỹ, diễn viên tạo

Trống đồng và ở khu trưng bày ngoài trời, thay thế hệ thống chỉ dẫn của Bảo tàng. 2.
Thúc đẩy các công việc chuẩn bị cho việc tiến tới khai trương trưng bày Văn hoá Đông
Nam Á.
2. Chuẩn bị một số trưng bày chuyên đề năm 2011 và những năm sau. Tổ chức
các chương trình sinh hoạt văn hoá vào dịp đầu Xuân Tân Mão, tết Thiếu nhi và Trung
thu. Duy trì hoạt động trình diễn rối nước cuối tuần.
Dự định tu sửa xây dựng mới nhà thủy đình. Dự kiến được thiết kế bởi kiến trúc
sư Nguyễn Hoàng Giang, có tư vấn của nghệ sỹ, trưởng phường rối nước Đồng Ngư –
ông Nguyễn Thành Lai. Mô hình được lấy theo mẫu thủy đình tại chùa Thầy. Tổng kinh
phí dự kiến khoảng 1,6 tỷ đồng. Dự kiến hoàn thành và đưa vào hoạt động vào năm
2012.
2.6. Vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị của nghệ thuật múa rối nƣớc
Để bảo tồn được vốn quý dân tộc này cần phải có sự chung tay góp sức của các
cá nhân, tổ chức. Trong đó, vai trò đầu tiên phải kể đến là vai trò của các cơ quan quản
lý và cơ quan chuyên môn về văn hóa và bảo tồn di sản văn hóa.
2.6.1. Vấn để bảo tồn sân khấu múa rối truyền thống
Không thể phủ nhận rằng, việc bảo tồn chính đáng nhất, hiệu quả nhất chính là
bào tồn tại nơi phát sinh ra nghệ thuật này. Đó là không gian văn hóa làng xã mà các
phường rối nước được sinh ra. Tiêu biểu có thể phân tích phường rối Đồng Ngư.
Hiện nay, phường biểu diễn chủ yếu đông vào dịp lễ hội đầu năm. Thứ nhất là
phục vụ hội làng. Hội làng thôn Đồng Ngư vào rằm tháng ba và rằm tháng năm âm lịch.
Ngoài hầu hết người dân ở chính địa phương quê hương mình, hội còn thu hút sự tham
gia của du khách gần xa.
Bên cạnh đó, phường còn đi diễn phục vụ nhân dân các địa phương trong huyện,
trong tỉnh, ngoài tỉnh, chủ yếu vào các dịp lễ hội. Ngoài ra, một hoạt động thường xuyên
của phường là biểu diễn phục vụ khách Du lịch tại Bảo tàng dân tộc học. Theo thống kê
của Bảo tàng, từ những ngày đầu hoạt động múa rối nước được khôi phục, Đồng Ngư là
một trong số những thành viên đầu tiên và tham gia gần như đầy đủ lịch trình, thậm chí,
có những năm như 2010, 2011 phường biểu diễn tới ba lần/năm, có lần gần hai tháng.
Phường cũng đã có lịch biểu diễn dài này tại các khu du lịch sinh thái như Việt Phủ


3.1. Căn cứ đề xuất
3.1.1. Căn cứ lý thuyết
3.1.1.1. Định hướng phát triển Du lịch
Những năm gần đây, hàng loạt các chiến lược phát triển du lịch Việt Nam, và các
chương trình hành động quốc gia về Du lịch, các năm Du lịch quốc gia, festival Du lịch và
văn hóa đã cho thấy sự quan tâm của Đảng, Nhà nước về định hướng phát triển Du lịch.
3.1.1.2. Định hướng bảo tồn văn hóa dân gian
Nhà nước có chính sách và biện pháp duy trì, bảo tồn và thúc đẩy quan hệ hợp
tác với các nước, tổ chức, cá nhân trong nước và quốc tế về di sản văn hóa.

24
3.1.2. Căn cứ thực tiễn
3.1.2.1. Nghệ thuật múa rối nước và tiềm năng phát triển du lịch văn hóa
Từ chương 1 có thể thấy rằng nghệ thuật múa rối nước là di sản văn hóa độc đáo
của Việt Nam cần được bảo tồn, duy trì và phát triển mạnh mẽ hơn nữa. Đồng thời nghệ
thuật múa rối mang đầy đủ những đặc điểm của một tài nguyên du lịch đã, đang phối
hợp tốt tạo nên dấu ấn cho hoạt động du lịch.
3.1.2.2. Thực trạng khai thác hoạt động múa rối nước trong du lịch
Thập kỷ 90 là thời kỳ hoàng kim của múa rối đi xuất ngoại. Hiện nay, múa rối
vẫn đang được quan tâm và phát triển tương đối rộng rãi với một đội ngũ các đơn vị
biểu diễn nghệ thuật múa rối không chuyên và chuyên nghiệp tương đối hùng hậu, đóng
góp to lớn vào việc quảng bá hình ảnh Văn hóa, Du lịch Việt Nam
Qua phần thực trạng tại chương 2, hiện nay nghệ thuật múa rối đang phát triển
tương đối rộng rãi, có chỗ đứng nhất định trong công chúng. Tuy nhiên, việc một số địa
phương chưa có sự quan tâm xứng đáng, thường xuyên, quản lý chặt chẽ, các phường
rối hoạt động tự phát, manh mún gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm chỗ đứng, duy
trì hoạt động đều đặn và khôi phục vốn văn hóa cổ truyền. Chỉ một số ít các đơn vị rối
chuyên nghiệp có vị trí tốt, gần nguồn cung khách duy trì được hoạt động tương đối tốt
và thường xuyên.

việc tuyển chọn người có hoàn cảnh, tư chất phù hợp để theo nghiệp rối. Và cũng cần phải
có chi phí hợp lí đảm bảo phần nào công sức cho đội ngũ nhân lực này.
Đối với các đơn vị múa rối chuyên nghiệp, việc tổ chức đào tạo tuyển dụng chủ yếu
lấy từ nguồn cung là sinh viên tốt nghiệp các trường nghệ thuật, viện sân khấu điện ảnh,
chuyên môn về âm nhạc cổ truyền, kịch hát dân tộc…có thể đảm bảo nguồn cung. Đội ngũ
nhân lực múa rối hiện nay chưa có cơ sở lý luận và bộ môn riêng, được đào tạo theo hình
thức kết hợp lý thuyết tại các cơ sở đào tạo chính quy, thực hành tại các đơn vị có cơ sở vật
chất. Như vậy, việc thúc đẩy công tác hoàn thiện hệ thống đào tạo lý luận và thực tiến, tăng
cường giao lưu cọ xát học hỏi mở ra cơ hội lớn hơn cho nguồn nhân lực phục vụ múa rối
nước.
3.2.4. Nhóm giải pháp về sản phẩm
Hiện nay, nghệ thuật múa rối vẫn cần thiết có nhiều sản phẩm mới, theo hai hướng:
Tìm hiểu, khai thác lại một số vốn tích trò cổ đã bị mai một, gọt giũa kịch bản, lời
thoại, tích trò, và làm mới, nâng cao kỹ thuật điều khiển để làm cho một vở rối có chất
lượng hơn thiết nghĩ cũng cần thiết để phù hợp với tính chất lịch sử của thời đại. Cần
thiết phải có một đội ngũ nhân lực có chuyên môn vững vàng về văn hóa dân gian, để
vừa gìn giữ được vốn cổ truyền vừa thích ứng một cách hợp lý với thời đại.
Để trở thành một sản phẩm phục vụ du lịch, Múa rối nước cần được quan tâm
đầu tư hơn nữa. Theo ông Nguyễn Duy Biên – Cục trưởng cục Nghệ thuật biểu diễn
“không nên quá dàn trải, mà trước mắt nên xây dựng một số chương trình nghệ thuật
điểm với những tiết mục thực sự hấp dẫn, tiêu biểu cho nghệ thuật truyền thống dân tộc
để lồng ghép vào tour”. [69]. Nghĩa là, phải chọn lọc những gì mà du khách quốc tế
cảm thấy dễ hiểu, dễ đồng cảm và yêu thích. Tại sao bao nhiêu năm nay khách nước
ngoài lại thích rối nước đến vậy? Bởi vì, rối nước độc đáo, lại rất Việt Nam. Múa rối
nước không bị vướng rào cản ngôn ngữ. Múa rối nước có khả năng trực quan sinh động.
Du khách có thể hiểu gần như trọn vẹn nội dung, sắc thái của vở diễn rối nước. Như vậy
có thể coi là không có rào cản ngôn ngữ. Đây được xem như lợi thế nổi bật của nghệ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status