Khai thác các giá trị văn hóa nghệ thuật múa rối nước ở vùng Đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam phục vụ phát triển du lịch - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TRẦN THỊ MINH

KHAI THÁC CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỦA NGHỆ
THUẬT
MÚA RỐI NƯỚC Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ
VIỆT NAM
PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TRẦN THỊ MINH KHAI THÁC CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỦA NGHỆ THUẬT
MÚA RỐI NƯỚC Ở ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ VIỆT NAM
PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH


là di sản văn hóa thế giới. Song, hiện nay Múa rối nước là loại hình nghệ
thuật truyền thống được yêu mến không chỉ trong dân gian và còn phát triển ở
các sân khấu chuyên nghiệp.
Nếu các du khách quốc tế đã đến Việt Nam được hỏi: Bạn có được giới
thiệu loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống của Việt Nam không? Đó là
gì? Thì hầu hết các câu trả lời của du khách đã đến Hà Nội hoặc thành phố Hồ
Chí Minh là: Có, chúng tôi có được xem múa rối nước. Hiện nay Múa rối nước
đã được đưa vào các chương trình du lịch như một điểm tham quan điểm nhấn
tạo ấn tượng cho du khách khi đến Việt Nam. Điều này cho thấy sự cần thiết
nghiên cứu Múa rối nước trong phát triển du lịch.
Trong khi đó, ngành du lịch đang có xu hướng ngày càng tăng trưởng
cao, đóng góp về kinh tế và xã hội ngày càng lớn. Ví dụ: Năm 2010, khách du
lịch quốc tế đến Việt Nam tăng 34,8% so với cùng kỳ năm 2009. Tám tháng
đầu năm 2011, lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam tăng 18,4% so với
cùng kỳ năm 2010. Lượng khách du lịch từ tất cả các thị trường đều có mức 2
tăng trưởng so với cùng kỳ năm 2010, trong đó cao nhất là khách Campuchia
với 74,2%, tiếp theo là Trung Quốc 53,5%, Malaysia 18,7%. Số khách du lịch
nội địa ước đạt 23 triệu lượt. Thu nhập từ du lịch vào khoảng 85 ngàn tỷ đồng,
đạt 77,3% mức kế hoạch cho cả năm là 110 ngàn tỷ đồng. Như vậy, cùng với
xu hướng gia tăng nhu cầu du lịch, việc duy trì, phát triển nghệ thuật múa rối
nước phục vụ phát triển du lịch đang là vấn đề ngày càng được quan tâm.
Với điều kiện tự nhiên và văn hóa đặc thù, đồng bằng Bắc Bộ là quê
hương, cội nguồn của múa rối nước; là cảm hứng, đề tài của rất nhiều công
trình nghiên cứu về văn hóa và du lịch.
Đã có nhiều nghiên cứu tổng quát về văn hóa truyền thống, nghệ thuật
dân gian; nghiên cứu cụ thể về múa rối nước, các điểm tham quan, sân khấu
chuyên nghiệp, nghiên cứu du lịch văn hóa Song chưa có nghiên cứu trùng

vi đồng bằng Bắc Bộ phục vụ phát triển Du lịch chưa có nghiên cứu tiền
nhiệm. Chính vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài “khai thác các giá trị văn hóa của
nghệ thuật múa rối nước ở vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam phục vụ phát
triển Du lịch” và cam kết đây là đề tài mới chưa có nghiên cứu trùng lặp.
2. Mục đích và nội dung nghiên cứu
Tác giả thực hiện đề tài nhằm thấy được giá trị to lớn của rối nước
trong du lịch, từ đó góp phần bảo tồn, phát huy giá trị của múa rối nước, vận
dụng khai thác trong du lịch.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là toàn bộ hoạt động múa rối nước,
trong đó tập trung đi sâu vào một vài mẫu điển hình trên địa bàn các tỉnh
thành đồng bằng Bắc Bộ, trong đó việc khai thác các giá trị, đặc biệt là giá trị
văn hóa – nghệ thuật múa rối nước phục vụ hoạt động phát triển du lịch.
Phạm vi nghiên cứu
Đây là đề tài có phạm vi phân bổ rộng lớn. Trong khi đó thời gian và
năng lực cá nhân có giới hạn. Vì vậy, tác giả nghiên cứu việc khai thác nghệ
thuật múa rối nước trong phạm vi vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam, tập
trung phân tích vào các đơn vị tiêu biểu, đại diện khái quát cho tình hình
chung của nhóm trong đề tài. Theo tiêu chí: 4
+ Có hoạt động múa rối đang hoặc có khả năng tồn tại, hoạt động
thường xuyên,
+ Có khách du lịch đến tham quan hoặc đi biểu diễn phục vụ các mục
đích văn hóa xã hội, du lịch.
+ Có những nét độc đáo riêng, cơ sở vật chất đủ để duy trì và phát triển.
Theo đó, tác giả đề cập đến 14 phường rối nước dân gian; 04 phường
rối cạn, tiêu biểu là phường múa rối dân gian Đào Thục và Đồng Ngư; 02

- Chƣơng 1: Tổng quan về Múa rối nước ở đồng bằng Bắc Bộ và vai
trò của nó trong du lịch.
- Chƣơng 2: Thực trạng khai thác Múa rối nước trong du lịch
- Chƣơng 3: Một số giải pháp khai thác Múa rối nước trong phát triển
du lịch
6
Chƣơng 1
TỔNG QUAN VỀ MÚA RỐI NƢỚC Ở ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ
VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG DU LỊCH

1.1. Tổng quan nghệ thuật múa rối nƣớc ở đồng bằng Bắc Bộ
1.1.1.Đồng bằng Bắc Bộ - môi trường sản sinh ra múa rối nước
1.1.1.1. Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý, địa hình: Đồng bằng Bắc Bộ hay còn gọi là đồng bằng sông
Hồng trải rộng từ vĩ độ 21°34 Bắc (huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc) tới vùng
bãi bồi khoảng 19°5 Bắc (huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình), từ 105°17 Đông
(huyện Ba Vì, Hà Nội) đến 107°7 Đông (đảo Cát Bà, tỉnh Hải Phòng). Toàn
vùng có diện tích 15.000 km², chiếm 4,5% diện tích của cả nước.
Phía Bắc và Đông Bắc là vùng Đông Bắc, phía Tây và Tây Nam
là vùng Tây Bắc, phía đông là vịnh Bắc Bộ và phía nam vùng Bắc Trung Bộ.
Đồng bằng thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, từ các thềm phù sa cổ 10 -

vùng đồi Bắc Giang, Bắc Ninh, Phúc Yên, Nho Quan. Cửa sông Hồng lúc đó
ở Việt Trì. Chế độ biển kéo dài trên 170 triệu năm. Các trầm tích Neogen lắng
xuống làm cho vịnh biển thu hẹp lại. Lớp trầm tích này có nơi dày đến 3000
mét. Trên cùng là lớp phù sa Holocen dày từ 80 đến 100 mét ở trung tâm
vùng đồng bằng sông Hồng, và càng xa trung tâm thì càng mỏng dần.
Bên cạnh đó, đồng bằng Bắc Bộ có nhiều ô trũng tự nhiên, điển hình là
ô trũng Hà Nam Ninh, ô trũng Hải Hưng và ô trũng Nho Quan. Ngoài ra còn
có rất nhiều đầm lầy. Trầm tích và phù sa do các sông vận chuyển ra khỏi
lòng sông mỗi mùa lũ đã không lấp được các ô trũng và đầm lầy này do chúng
quá xa sông hoặc do bị đê điều nhân tạo ngăn cản. Việc các sông đổi dòng
cũng tạo ra những đầm lầy và ao hồ.
Nước và sinh vật: Ngoài đặc điểm chung hệ thống sông ngòi dày đặc,
vùng đồng bằng Bắc Bộ còn có hệ thống các sông lớn, lâu đời như sông
Hồng, sông Thái Bình, sông Đáy…bồi tụ nên phù sa màu mỡ, thuận lợi cho
phát triển nông nghiệp, thủ công nghiệp từ rất sớm. Bên cạnh đó, đồng bằng
Bắc bộ có hệ thống sinh vật phát triển phong phú về số lượng và chủng loại.
Đây là điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, thủ công nghiệp từ rất
sớm, hình thành nên nền văn hóa, văn minh nông nghiệp điển hình. 8
1.1.1.2. Điều kiện xã hội
Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên quy định điều kiện lịch sử - xã hội. Chủ
thuyết này hay còn gọi là Địa – văn hóa; Địa - lịch sử [69,tr.95].
Đặc điểm dân cư: Đồng bằng Bắc Bộ có số dân là 19.577.944 người
(thời điểm 1/4/2009), chiếm 22,82% dân số cả nước. Đa số dân số là người
Kinh, một bộ phận nhỏ thuộc Ba Vì (Hà Nội) và Nho Quan (Ninh Bình) có
thêm dân tộc Mường. Dân cư đông nên có lợi thế nguồn lao động dồi dào, có
nhiều kinh nghiệm và truyền thống trong sản xuất, chất lượng lao động cao,
tạo ra thị trường có sức mua lớn. Bên cạnh đó, đồng bằng Bắc Bộ có lịch sử

cơ bản về nghệ thuật rối như sau:
- Nghệ thuật múa rối bắt nguồn từ những trò chơi ngẫu nhiên và tự
phát đến những trò chơi có chủ định, có khả năng truyền cảm cao.
- Con rối là nhân vật chính, trung tâm để hoàn thành nhiệm vụ thể
hiện, diễn xuất nhưng phụ thuộc nhiều vào sự phối hợp giữa nghệ thuật điêu
khắc, kỹ thuật lắp ráp, bài trí sân khấu và nghệ thuật điều khiển con rối.
- Nghệ thuật múa rối nói chung có khả năng tập trung, quy tụ nhiều
loại hình nghệ thuật như điêu khắc, hội họa, các loại hình nghệ thuật sân khấu
như nghệ thuật chèo, tuồng, ca trù, quan họ trong nghệ thuật múa rối nước.
- Nghệ thuật múa rối phụ thuộc chủ yếu vào tài điều khiển của diễn
viên điều khiển con rối.
Nhà nghiên cứu rối nước Nguyễn Huy Hồng khái quát về nghệ thuật rối
như sau là một loại hình nghệ thuật truyền thống của hầu hết các dân tộc trên
thế giới, chuyên thể hiện nhân vật làm trò đóng kịch bằng các con nộm, con
giống hay diễn viên đội lốt, đeo mặt nạ, hóa trang…gọi chung là con rối, còn
mình phải che giấu kín.
Theo tác giả, khái niệm múa rối và múa rối nước của nhà nghiên cứu
Tô Sanh phản ánh tương đối đầy đủ mô tả tổng quát. Cụ thể như sau:
“Múa rối là một loại hình nghệ thuật sân khấu có khả năng truyền cảm một
cách cao độ, là sự phối hợp tài tình giữa kỹ thuật và nghệ thuật tạo hình với kỹ
thuật và nghệ thuật điều khiển, lấy con rối ra làm phương tiện chủ yếu để hoàn
thành nhiệm vụ thể hiện mọi mặt phong phú của trí tưởng tượng loài người của
hiện thực khách quan. Nó có khả năng tập trung hòa hợp nhiều hình thức nghệ 10
thuật, không gian và thời gian kể cả các loại hình nghệ thuật sân khấu khác. Nó
phục vụ mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thiếu nhi. Múa rối có rất nhiều loại.
Nhân vật rối là trung tâm. Người diễn viên điều khiển thường được che giấu kín.
Sân khấu của nó và bản thân của nó cần phù hợp với kích thước của cả người và

dụng ở các nước như: rượng đầu khổi lỗi của Trung quốc, Oa-yănggô-lách
(wayanggolek) của người Indoneisa. Nghệ thuật múa rối cạn của các đoàn
nghệ thuật múa rối Việt Nam hiện nay chủ yếu sử dụng loại hình rối này.
+ Rối dẹt: Loại rối được tạo hình bằng các loại vật liệu mỏng (giấy bìa,
sắt tây mỏng, da thuộc, gỗ mỏng…) theo hình dáng nhìn nghiêng hoặc nhìn
thẳng của nhân vật, có thể cử động trên một vài phần có thể của rối. Động tác
được thể hiện bằng dây giật có dây chun lò xo và que trực tiếp điều khiển.
+ Rối bóng: Rối bóng bàn tay: Dùng bàn tay uốn, xếp tạo nên những
hình bóng trên tường màu. Người ta có thể thêm quần áo, mũ cắt bằng giấy để
tạo hình sinh động.
+ Rối bóng bìa, rối da: Nguyên liệu được làm bằng bìa, da, tạo hình cắt
trổ, được biểu diến trên tấm màn sân khấu trắng bằng vải, người điều khiển gí
sát con rối vào tấm màn làm cho nó cử động, khán giả liên tưởng đến những
nội dung nhất định như xem phim hoạt họa. Loại hình rối này phổ biến tại
Trung Quốc, Indonesia, Ấn Độ.
+ Rối cao su xốp: Loại rối có đầu bằng chất cao su xốp, do bàn tay
người điều khiển lồng vào trong, cử động bàn tay tạo hình con rối. Loại hình
rối này thường dùng cho các nhân vật có tính chất hài hước châm biếm.
+ Rối đặt trên đầu: Loại rối có đầu đặt vững trên đầu diễn viên điều
khiển. Quần áo phải trùm lên người, phần áo (ngang tầm mắt diễn viên) làm
bằng tuyn để có thể nhìn xuyên suốt qua và thở dễ. Hai tay rối có thể là hai
tay diễn viên.
+ Rối đeo lưng: Trụ thân của rối đeo sau lưng diễn viên (giống như đeo
ba lô). Đầu diễn viên điều khiển đầu rối thông qua một bộ máy đơn giản trên
cơ sở chuyển động của phần cổ (giống bộ máy của rối que). Phần đầu của rối
có thể cúi, ngửa, quay trái, quay phải. Hai tay rối có thể sử dụng trực tiếp hai
bàn tay người diễn viên điều khiển. 12
13
Ngoài Trung Quốc có thấy nhắc đến múa rối nước thời Tống, không
thấy tồn tại múa rối nước ở quốc gia nào nữa, chỉ đề cập đến rối cạn.
Như vậy, có thể khẳng định rằng múa rối nước không phải gốc ở Trung
Quốc. Và đối với thế giới, múa rối nước Việt Nam là một đóng góp độc đáo
và đầy sáng tạo, được giữ và duy trì lâu đời nhất. Với nghệ thuật múa rối
nước, Việt Nam đã có vị trí xứng đáng của mình trong lịch sử sân khấu nghệ
thuật của thế giới.
Về lịch sử hình thành nghệ thuật múa rối nước ở Việt Nam, có một số
kết luận như sau:
- Nghệ thuật múa rối cổ truyền dân tộc xuất phát từ nghệ thuật tạo hình,
từ trò chơi của nhân dân lao động Việt Nam, nhất là thợ thủ công và nông
dân, mà ra. Thời kỳ này có từ trước thời Lý [60,Tr. 66]
- Nghệ thuật múa rối nước cổ truyền dân tộc hoạt động từng nhóm, từ
trong một gia đình, một dòng họ, vua chúa cung đình biết đến và thụ hưởng,
sử dụng từ trước thế kỷ XII, rồi phát triển mạnh nhất vào thời Lý – Trần. Có
thể coi đó là thời kỳ cực thịnh của múa rối dân tộc.
- Hình thức hoạt động, sinh hoạt: Nghệ thuật múa rối nước hoạt động
thành từng gánh, từng phường, từng đội, biểu diễn lưu động từ trước thế kỷ
thứ XVIII, đến ngày nay.
- Những thuyết cho rằng múa rối nước có từ thời Hồng Bàng, thời
Thượng cổ, tiền Lý Nam Đế, thời Đinh, đều không có căn cứ.
- Phủ Hoài Đức, lộ Sài Sơn (vùng chùa Thầy) là nơi có điều kiện hơn
cả để phát sinh ra nghệ thuật múa rối nước dân tộc. Trong dân gian nhiều đời
vẫn lưu truyền thiền sư Từ Đạo Hạnh chính là thủy tổ múa rối nước.
Từ Đạo Hạnh (1072-1116) tục gọi là đức thánh Láng, là một thiền sư
nổi tiếng Việt Nam thời nhà Lý. Cuộc đời ông được ghi lại dưới nhiều màu
sắc huyền thoại. Dân chúng lập đền thờ ông tại chùa Thiên Phúc (chùa Thầy

lao động, tiến lên xuất hiện gánh rối, phường rối, bắt đầu xuất hiện ở địa
phương đông người xem, trong xóm ngoài làng, lan rộng ra các vùng lân cận.
Có thể có trước thời Lý, nhưng phát triển cực thịnh vào thời này rồi phát triển
theo từng giai đoạn.
- Thời kỳ thứ ba: Phong trào lan rộng từ các vùng có nhiều cơ sở múa rối
nước hoạt động, tiến đến các địa phương xa hơn. Và lan rộng hầu như khắp 15
vùng đồng bằng Bắc Bộ. Đã có những sự gặp gỡ giữa các phường rối với nhau,
và đã có những cuộc thi đấu, học hỏi, từ đó ảnh hưởng lẫn nhau. Trải qua nhiều
cuộc xâm lược về tôn giáo, phong kiến, đế quốc, ngoại bang, nghệ thuật múa
rối nước có bị chế ngự. Tuy nhiên, nội dung tiết mục vẫn chủ yếu phản ánh
sinh hoạt đời sống nông thôn, với các tiết mục lệ thuộc về kỹ xảo. Trong thời
kỳ này, các phường rối ganh đua nhau, giấu nghề, giữ bí mật, tích cực sáng tạo
những trò hay, tiết mục lạ để đem lại vinh dự cho phường mình.
- Thời kỳ thứ tư: Mốc được đánh dấu từ sau cách mạng tháng Tám,
chính quyền thuộc về tay nhân dân. Toàn dân kháng chiến chống thực dân
Pháp, phường rối có nơi bị đình đốn, có nơi hoạt động được. Số còn hoạt
động được. Nhiều quân rối bị giặc đốt cháy, con rối mất, phường rối tan, một
số ít còn tồn tại. Tiết mục về lễ giáo phong kiến bị bãi bỏ dần, tiết mục lịch
sử, sản xuất và chiến đấu được tăng cường. Mục đích của rối nước chủ yếu
phục vụ công cuộc giải phóng dân tộc, gây dựng phong trào, phục sự tổ quốc,
phục vụ nhân dân, phục vụ kháng chiến, coi nhẹ về tính kinh tế.
- Thời kỳ thứ năm (1954 – 1975): Với các mốc lịch sử quan trọng:
+ Thời kỳ hòa bình lập lại trên miền Bắc Việt Nam (1954);
+ Thời kỳ phục hồi các phường rối nghiệp dư cổ truyền, chủ yếu phục
vụ đồng bào địa phương. Ngoài ra cũng có phường đi phục vụ đồng bào ở
tịnh lỵ và thủ đô;
+ Thời kỳ thành lập đoàn múa rối cạn Trung Ương (1956).

quan tâm và đầu tư duy trì, phát triển. Đặc biệt, sự ra đời của múa rối chuyên
nghiệp đánh dấu cho sự phát triển về quy mô, trình độ tổ chức, vừa học hỏi,
vừa đào tạo lại các phường rối nước nghiệp dư. Đây chính là nguồn lực cho
phát triển du lịch sau này.
- Thời kỳ thứ sáu (sau 1975): Thống nhất nước nhà, độc lập tự do. Múa
rối nước trở thành mục tiêu phát triển của đất nước nhằm duy trì, đào tạo và
phát triển phục vụ đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân.
+ Cuối năm 1973, lớp múa rối khóa I Trung Ương thi tốt nghiệp tại
xã Nguyên Xá (Đông Hưng, Thái Bình) với hai mươi trò cổ, tiến lên thành
lập đội thể nghiệm. 17
+ 29/06/1974: Ba đoàn nghệ thuật múa rối nước là phường Nam Chấn
(Nam Trực, Nam Định), Vĩnh Bảo (Hải Phòng), Nguyên Xá biểu diễn nhiều
tiết mục phục vụ hội nghị chuyên đề về múa rối dân tộc tại số 32 đường Tàu
bay (Ngã Tư Sở), nay thuộc vị trí Nhà hát múa rối Việt Nam.
+ Ngày 03, 04 và 29/10/1974, biểu diễn phối hợp giữa đoàn múa rối
Đông Các và đội nghiên cứu thể nghiệm múa rối nước đoàn múa rối Trung
Ương tổ chức biểu diễn tại Hà Nội có doanh thu. Các tiết mục múa rối nước có
Hề cầm quạt, Lân tranh cầu, Múa Tễu, Múa tứ linh Sơn Hậu, Cu Tý đánh Tây.
+ Cuối năm 1974: Đội thể nghiệm múa rối nước đoàn múa rối Trung
Ương biểu diễn múa rối bể phục vụ phái đoàn văn hóa Liên Xô và phái đoàn
ca múa nhân dân Lào. Ngoài ra còn phục vụ cho tổ báo Hình ảnh Việt Nam
vói các chuyên gia người nước ngoài. Múa rối nước được ca ngợi trên các
trang báo. [60, tr.67-70].
Từ sau năm 1975 đến nay, nước nhà được độc lập, đội thử nghiệm múa
rối nước đoàn múa rối Trung ương và các phường rối nước nghiệp dư có cơ hội
được đầu tư quan tâm, có những vở diễn phục vụ nhân dân địa phương và công
chúng. Tuy nhiên, vì hoàn cảnh đất nước mới hồi sinh sau chiến tranh, nền kinh

rối nếu không có sự can thiệp, điều khiển của con người thì không biểu cảm
được. Như vậy, cặp đôi rối – nghệ sỹ điều khiển rối chính là diễn viên múa rối.
Quy trình đầu tiên là việc lựa chọn chất liệu làm con rối. Chất liệu làm
con rối chủ yếu là từ gỗ sung, hoặc gỗ thừng mực. Đây là những loại gỗ nhẹ,
chịu được nước, độ bền tương đối tốt, thớ gỗ mịn và không có các vết sâu
đục, không có mấu và không dễ gãy. Phù hợp với yêu cầu tác nghiệp trên bề
mặt nước, đồng thời cũng là môi trường nâng đỡ con rối để vật liệu có thể nổi.
Vậy, chất liệu chủ yếu tạo nên con rối, bản thân nó đã mang tính lựa chọn,
sàng lọc qua thời gian trải nghiệm.
Múa rối nước có hệ thống nhân vật rối phong phú, gần với cuộc sống
sinh hoạt hàng ngày, lao động và tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp trồng lúa
nước. Các con rối được tạo hình theo mô típ và các quy ước dân gian mang đậm
nét văn hóa Việt Nam cổ truyền: Tính ước lệ, cách điệu, không đi vào chi tiết
hoặc không cần tuân theo tỷ lệ, kích thước thật như phương Tây. Các nhân vật 19
có thể có tỷ lệ giữa các bộ phận trên cơ thể không cân đối với nhau (các nhân
vật thường có đầu, mặt to hơn tỷ lệ người). Ở các nhân vật rối, người nghệ sỹ
tạo hình không đi sâu và tiểu tiết mà chủ yếu làm nổi bật lên những nét chính.
Tạo hình các con rối có hai công việc chính. Việc đầu tiên là tạo hình
bộ mặt, chân tay và thân hình con rối. Người nghệ nhân cắt gỗ thành những
khúc vừa kích thước con rối, bóc vỏ và để cho gỗ khô dần. Sau đó dùng đục,
bát, tỉa để chạm gỗ và nối chân tay rối, nối các máy dây điều khiển. Tiếp đến
là quy trình sơn. Thông thường, quy trình truyền thống bao gồm ba bước:
Bước 1: Sơn hom, hay còn gọi là bó hom. Ngày xưa thường được
người làm sử dụng giấy bả, loại giấy chế từ gỗ dó nên rất dai, có độ bền hơn
vải. Cách bó hom vóc được tiến hành như sau: dùng đất phù sa (ngày nay
người thợ có thể dùng bột đá) trộn sơn ta giã nhuyễn cùng giấy bản rồi hom,
chít các vết rạn nứt của tấm gỗ.

mặc khố, ở trần…thể hiện sự đáng yêu, hồn nhiên trẻ thơ. Nhìn chung, các
nhân vật rối được hóa trang tùy theo quy ước của nghệ thuật diễn xướng
truyền thống mà đơn vị biểu diễn lựa chọn. Phổ biến nhất có nghệ thuật chèo.
Ngoài ra, phường rối Đồng Ngư do ảnh hưởng của văn hóa quan họ nên việc
hóa trang các nhân vật theo mô típ quan họ như áo tứ thân, nón quai thao…
Như vậy, qua hình tượng rối, khán giả đã hình dung phần nào về bức
tranh văn hóa truyền thống Việt Nam. Và để có được thành quả là một con
rối, phải trải qua rất nhiều giai đoạn tỷ mỷ khác nhau. Các nghệ nhân dân gian
quả thực có óc sáng tạo tuyệt vời và đôi bàn tay thật sự khéo léo. Việc tạo
hình con rối, công với việc điều khiển rối, chính là bí quyết chính tạo nên sự
khác biệt giữa các phường rối, là bí mật nghề nghiệp không được phép để lộ.
Giá trị về công nghệ, kỹ thuật: Có thể nói rằng, mỗi con rối là một bộ
máy hoàn chỉnh, sản phẩm công nghiệp của nền văn minh nông nghiệp lúa
nước, là kết tinh của trí tuệ và sự sáng tạo tuyệt vời. Dưới bàn tay điều khiển
của người nghệ sỹ, những con rối từ những khúc gỗ vô tri biết hành động như
người thực, vật thực. Có thể gợi ý so sánh rối như những người máy (robot)
của nền văn minh khoa học kỹ thuật phương Tây. 21
Vậy múa rối nước được điều khiển như thế nào? - Người diễn viên
điểu khiển ngâm mình trong nước, đưa hai tay luồn xuống dưới mặt nước,
qua tấm mành mành làm cho con rối cử động theo ý mình bằng hai cách: trò
múa rối dây và trò múa rối sào.
Một số tích trò diễn cần phải đóng cọc chăng dây trước khi diễn. Các
trò dây hay trò máy, củi, thì phải đóng cọc căng dây gài máy, đặt củi trước
mà người ta gọi là máy ngầm…máy dây, máy dọc, bàn máy hay củi. Trước
khi có cuộc biểu diễn người ta theo sơ đồ đóng cọc để đóng những cọc gỗ sẵn
dưới đáy ao, bố trí trước đường đi lối lại của con rối – khoảng cách con rối,
giữa con rối và người điều khiển căng dây thép và dây thừng thật chặt thật

gồm việc trình diễn các sự tích, truyện cổ tích, lịch sử, kịch bản chèo…Ngoài
ra, một số phường rối (Đồng Ngư, Bắc Ninh) do xuất thân từ quê hương quan
họ, các làn điệu này được sử dụng chủ yếu.
Âm nhạc trong nghệ thuật múa rối nước: Trong nghệ thuật biểu diễn
rối nước, âm nhạc là một phần không thể thiếu. Dàn nhạc trong biểu diễn rối
nước chủ yếu là dàn nhạc của Chèo. Các nhạc cụ chủ yếu trong biểu diễn rối
nước là: sáo, đàn tranh hoặc tam thập lục, đàn bầu, bộ gõ (trống, thanh la,
mõ…). Trong biểu diễn rối nước người ta còn sử dụng nhiều loại pháo như
pháo nổ, pháo hoa, pháo dây, pháo vịt nhằm tạo ra không khí sôi động và màu
sắc lung linh huyền ảo cho buổi diễn. Ngoài các nhạc công còn có các kép hát
chèo. Đối với đoàn múa rối nước Bắc Ninh về cơ bản tương tự, có khác biệt
về làn điệu theo lối Quan họ, người hát được gọi là các liền anh liền chị.
Trang phục trong nghệ thuật múa rối nước: Bao gồm hóa trang cho
nhân vật rối nước và trang phục cho diễn viên điều khiển rối nước, dàn nhạc.
Về hóa trang đã được đề cập ở trên. Trong khi đó, người nghệ sỹ biểu diễn là
diễn viên điều khiển rối và nhạc công, ca nương, kép hát thì trang phục theo
thuyền thống. Tùy thuộc vào mỗi phường lựa chọn chất liệu diễn xướng chủ
đạo là Chèo, Quan họ…mà có trang phục phù hợp. Riêng diễn viên điều
khiển, do phải đứng dưới nước nên có trang bị thêm thiết bị hỗ trợ. Hiện nay
có quần áo cao su đến vai, chống thấm nước, mặc ngoài quần áo truyền thống
để chào khán giả khi kết thúc tiết mục giữ được sự đồng điệu. 23
Nghệ nhân múa rối nước: Người nghệ sỹ xuất thân dân gian, đa phần từ
nông dân làm các công việc đồng áng. Bên cạnh đó còn có một hệ thống nghề
thủ công phụ phong phú như mộc, chạm, gốm, đan, dệt Tùy thuộc vào khả
năng và thế mạnh có thể tham gia vào một trong các vị trí sau:
- Nghệ nhân tạo hình quân rối: người định hình, lên khung và tạo tác ra
con rối, đòi hỏi có năng khiếu và sự khéo léo. Người nghệ sỹ này thường là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status