1
Khai thác các giá trị văn hóa của nghệ thuật ca
trù ở đồng bằng Bắc Bộ tại Việt Nam phục vụ
phát triển du lịch
Trần Thị Huyền
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; Khoa Du lịch
Chuyên ngành: Du lịch; Mã số: Chương trình đào tạo thí điểm
Người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Phạm Hùng
Năm bảo vệ: 2012
Abstract. Trình bày những vấn đề cơ bản về ca trù, lịch sử phát triển của nghệ thuật
ca trù, nghệ thuật ca trù tại một số tỉnh đồng bằng sông Hồng và giá trị văn hoá của
nghệ thuật ca trù. Nghiên cứu thực trạng khai thác các giá trị văn hoá của nghệ thuật
ca trù vào hoạt động kinh doanh du lịch hiện nay ở Việt Nam. Từ đó đưa ra những
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả khai thác sản phẩm du lịch của nghệ thuật ca trù.
Keywords. Du lịch; Giá trị văn hóa; Nghệ thuật ca trù; Vùng Đồng bằng Bắc bộ;
Phát triển Du lịch; Việt Nam
Content.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày 1 tháng 10 năm 2009, tại Abu Dhab - thủ đô của các tiểu vương quốc Ả Rập
thống nhất, Ca trù đã trở thành di sản thứ tư của Việt Nam được công nhận , xếp vào
danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp. Đây là một tin vui với
những người yêu ca trù bởi giờ đây nghệ thuật ca trù không chỉ được biết tới, được
bảo tồn mà còn được khai thác phục vụ cho đời sống văn hóa tinh thần của người dân.
Những năm gần đây, du lịch Việt Nam đã có bước phát triển mạnh mẽ và đang
vươn lên thành ngành kinh tế mũi nhọn với tốc độ tăng trưởng cao. Đạt được điều này
Năm 2000, được sự tài trợ của Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam công trình Góp
phần tìm hiểu lịch sử ca trù của Nguyễn Xuân Diện đã được in tại Nxb Khoa học xã
hội và được công bố với công chúng.
3
Năm 2000, tại Viện Văn học, Nguyễn Đức Mậu bảo vệ thành công luận án tiến sĩ
ngữ văn với đề tài Thể loại hát nói trong sự vận động của lịch sử văn học.
Năm 2002, Giang Thu – Vũ Thiệu Loan xuất bản sách Tìm hiểu ca trù Hải Phòng;
Lê Huy Trâm xuất bản sách Khảo sát Ca công ở Thanh Hóa.
Năm 2003, Hoài Yên và Nguyễn Xuân Diện xuất bản Thơ Hát nói xưa và nay;
Nguyễn Đức Mậu giới thiệu và biên soạn sách Ca trù – nhìn từ nhiều phía; Hoàng
Tuấn Phổ xuất bản sách Hát nhà trò Văn Trinh
Năm 2007, Nguyễn Xuân Diện bảo vệ thành công luận án tiến sĩ Hán Nôm Lịch
sử và nghệ thuật ca trù Việt Nam - Khảo sát nguồn tư liệu tại Viện nghiên cứu Hán
Nôm.
Ngoài ra, còn có hàng loạt các cuộc hội thảo như năm 1998, Hội thảo ca trù Cổ
Đạm do Sở VHTT Hà Tĩnh tổ chức; năm 1999, Hội thảo ca trù Thăng Long – Hà Nội
do Sở VHTT Hà Nội và CLB Ca trù Hà Nội tổ chức; năm 2005, Chi hội Văn nghệ dân
gian Thanh Hóa tổ chức Hội thảo ca trù Thanh Hóa; năm 2006, diễn ra hội thảo quốc
tế về ca trù tại Việt Nam; năm 2011, Hội thảo tổng kết kiểm kê ca trù năm 2009 –
2010 tại Hà Nội,…
Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu cho đến nay đều mới nghiên cứu về nghệ thuật
ca trù dưới góc độ một loại hình âm nhạc hoặc một di sản văn hoá. Và chưa có nghiên
cứu nào ở cấp độ luận văn thạc sĩ về khai thác nghệ thuật ca trù trong du lịch.
3. Mục đích và nội dung nghiên cứu
Nghệ thuật ca trù là một di sản văn hóa quý báu, mang đậm bản sắc dân tộc. Vì
vậy, khi nghiên cứu không ngoài mục đích tìm hiểu cái hay, cái đẹp, cái độc đáo của
nghệ thuật ca trù. Mặt khác việc nghiên cứu nghệ thuật ca trù trong khai thác hoạt
động kinh doanh du lịch nhằm tìm ra những phương thức khai thác và những, giải
pháp giữ gìn, phát huy loại hình nghệ thuật này trong cuộc sống. Và cũng từ đó, làm
thực hiện phương pháp tổng hợp tài liệu, dữ liệu đã có. Đặc biệt các dữ liệu quan trọng,
liên quan trực tiếp tới bài viết thì phải vừa tổng hợp và phân tích cho phù hợp.
- Phương pháp tổng hợp phân tích số liệu
Kế thừa các tài liệu, sách báo, tạp chí, internet, các báo cáo, về các nghiên cứu ca
trù nói chung và hoạt động du lịch liên quan tới ca trù nói riêng từ đó tác giả bổ sung
hoàn thiện nội dung bài luận văn.
5
- Phương pháp khảo sát thực tế:
Do thời gian và khả năng của bản than có hạn, nên học viên tập trung chủ yếu cho
công tác khảo sát thực tế tại một số địa điểm sinh hoạt nghệ thuật truyền thống nhằm
phục vụ du khách trên địa bàn Hà Nội. Trong đó tập trung là các địa điểm biểu diễn ca
trù.
- Phương pháp điều tra xã hội học:
Trong quá trình khảo sát thực tế, học viên ngoài việc quan sát còn sử dụng các
phương pháp điều tra xã hội học như phỏng vấn nhanh, bảng hỏi đối với các nghệ
nhân, du khách, người quản lý,…
6. Bố cục đề tài
Nội dung đề tài gồm 3 chương ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo.
Kết cấu 3 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan về tài nguyên du lịch văn hoá ca trù
Chương 2: Thực trạng khai thác giá trị nghệ thuật ca trù áp dụng vào du lịch
Chương 3: Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả khai thác các giá trị văn hoá
của nghệ thuật ca trù trong phát triển du lịch
7. Đóng góp của đề tài
Do điều kiện nghiên cứu của bản thân còn nhiều hạn chế nên sau khi hoàn thành đề tài,
tôi chỉ mong muốn đóng góp một số ý kiến nhỏ cho việc phát triển hoạt động kinh
doanh du lịch dựa trên nghệ thuật ca trù:
- Tìm hiểu tình hình thực tế của hoạt động khai thác kinh doanh du lịch dựa vào nghệ
thuật ca trù.
Tóm lại, Ca trù là tên gọi chung và thông dụng nhất về một loại hình âm nhạc cổ
truyền của Việt Nam. Nó có thể được thay thế bằng nhiều tên gọi khác như: hát ả
đào,hát cô đầu,… Tuy nhiên sự xuất hiện các tên gọi đó cũng như thời điểm xuất hiện,
tên nào có trước, tên nào có sau cho đến nay giới nghiên cứu dường như chưa đặt
thành một vấn đề riêng để tìm hiểu. Và như vậy, mỗi tên gọi được coi là “tấm biển”
chỉ đường ý nghĩa nhất định trong việc nghiên cứu về lịch sử phát triển của nghệ thuật
Ca trù.
1.1.2 Lịch sử phát triển của nghệ thuật Ca trù
1.1.2.1 Truyền thuyết về tổ nghề Ca trù
7
- Bản thần phả “Sự tích tổ sư giáo phường” soạn năm 1476 ở làng Lỗ Khê (Đông Anh,
Hà Nội) tổ ca trù là ông Đinh Dự và bà Đường Hoa
- Trong bài viết Ca trù qua một số truyền thuyết, tác giả Trần Thị An dẫn ý kiến của
cụ Chu Hà cho biết: tại các huyện Thiệu Yên, Thọ Xuân, Quảng Xương ở Thanh Hóa
có những dòng ca công phát triển đã thờ chung một vị tổ sư tên là Phong Quân.
- Sự tích tổ cô đầu ở làng Cổ Đạm, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh là sự tích được kể
chi tiết nhất. Truyền thuyết kể rằng: Vào đời nhà Lê, Đinh Lễ, tự Nguyên Sinh, người
làng Cổ Đạm, con nhà gia thế, tính tình phóng khoáng, không thích công danh bó
buộc, thường ôm đàn nguyệt đến bên bờ suối gảy, rồi ca hát để hòa với tiếng suối chảy.
Sinh đã đặt ra lối hát múa mới, rồi lấy hai thanh tre vót thật đẹp để cho nàng gõ trên
mảnh gỗ theo nhịp đàn mà hát.
- Lịch triều phong Đinh Lễ là Thanh Xà đại vương, Bạch Hoa là Mãn Đào Hoa công
chúa, lấy ngày 11 tháng Chạp làm ngày giỗ. Ở Hưng Yên, Nam Định, Hải Dương, Hà
Nội đều có đền thờ hai vị tổ sư này. Riêng giáo phường Thượng Mỗ (Đan Phượng, Hà
Nội) thì lại thờ vị tổ sư có tên là Đinh Triết. Phải chăng ông là hậu duệ của Đinh Lễ ở
Cổ Đạm? Tuy nhiên điều này chưa có đủ cứ liệu để chứng minh.
Như vậy, xung quanh các truyền thuyết về tổ ca trù thì ở các làng tổ nghề thường
gồm hai người (một nam, một nữ). Người đàn ông thường được gọi bằng cái tên
không giống nhau, khi thì Đinh Lễ (Cổ Đạm), khi thì Đinh Dự (Lỗ Khê), lúc lại là
hơn, Ả đào đua nhau mở nhà hát ở các tỉnh. Nạn đào rượu rộ lên. Ca trù đi dần vào
con đường suy tàn
- Đến năm 1945, để lập lại sự lành mạnh của nền văn hóa mới, ở Hà Nội, người ta
đã dẹp nạn đào rượu, nhưng đồng thời lối hát ca trù cũng bị lắng xuống, tinh thần ca
trù bị suy giảm do thành kiến Cô đầu là xấu xa.
- Từ năm 1977 trở đi, làn điệu ca trù thi thoảng mới được phát qua làn sóng của
đài tiếng nói trung ương. Một vài nhạc sĩ đã lấy chất liệu ca trù trong sáng để sáng tác
ca khúc của mình
- Và ngày nay, Hà Nội đã có câu lạc bộ ca trù. Điều đó cho thấy dòng nhạc Ca trù
đang được tái sinh. Ca trù vẫn bền bỉ sống trong lòng người dân yêu mến loại hình này
1.1.2.3 Sinh hoạt ca trù
Qua khảo sát về địa bàn sinh hoạt ca trù sẽ giúp ta hiểu được mối liên hệ mật thiết
của nghệ thuật ca trù với các sinh hoạt và phong tục làng xã trước đây.
9
Có hai vấn đề trong sinh hoạt ca trù: thứ nhất, về địa bàn phân bố loại bia liên
quan đến giáo phường chỉ thấy xuất hiện ở vùng đồng bằng sông Hồng, tỉnh có nhiều
nhất là Hà Tây và Hà Nội, có lẽ vì đây đây là vùng ven đô, giao thông đi lại thuận tiện,
đời sống kinh tế khấm khá hơn vùng khác nên các sinh hoạt văn hóa cũng có nhiều
hoạt động hơn. Thứ hai, về niên đại, văn bia tập trung vào thế kỷ 17, 18 và 19 (cụ thể
thế kỷ 17 có 15 văn bia; thế kỷ 18 có 39 văn bia; thế kỷ 19 có 12 văn bia).
Trong các lối hát và ngâm vịnh cổ truyền Việt Nam hiếm có một lối hát nào lại
xâm nhập sâu rộng hầu hết các sinh hoạt văn hóa tinh thần như là lối hát ca trù, một
lối hát mà cả Thần và Người đều chuộng. Nơi đình miếu, đền đài thâm nghiêm các vị
thần thánh nghe hát trong hương trầm đượm tỏa, trong sự sùng phụng của xã dân. Và
trong dân gian, mỗi khi khao vọng, từ khao họ, khao thi đỗ, khao thăng chức đến khai
trương cửa hiệu, mừng đón nhau đều vời đào kép ca trù, tùy việc tùy duyên mà thưởng
ngoạn câu thơ khổ phách cung đàn. Rồi những khi thư thả việc công, những khi buồn
thế thái nhân tình, hoặc tình duyên gặp trắc trở, ai đó lại đến ca quán vịn vào tiếng hát,
tiếng thơ, nhịp phách của ca trù để chia sẻ tâm sự, để hòa mình vào thế giới nội tâm,
Người quan viên cầm chầu ngoài chức năng tham gia vào ban nhạc với vai trò cầm
quyền âm nhạc, còn có nhiệm vụ quan trọng là chấm thưởng mỗi khi đào nương hát
hay hoặc hát đến câu văn hay, chữ hay, ý hay và còn chấm cả đàn hay, phách hay.
* Buổi biểu diễn
Trình tự một buổi hát có thể hình dung như sau:
Tao nhân mặc khách đến một gia đình, hay một ca quán, ở đó đã bố trí chỗ cho
khách trà rượu và chỗ để đào kép hát. Về phía khách sẽ tự có một quan viên đánh
trống chầu.
Bắt đầu buổi hát, quan viên điểm 5 hồi trống: 3 hồi đầu để giục đào kép
Đầu tiên đào nương hát một bài hát mở hay Bắc phản, tiếp đó là các bài hát nói,
hát mưỡu, hát ru, mười thương, nhịp ba cung bắc, huê tình,… Mưỡu thường là câu lục
bát đi kèm với Hát nói (ở trên gọi là Mưỡu đầu, ở dưới gọi là Mưỡu hậu) nêu tóm tắt ý
tưởng của bài hát đó.
Hòa vào với tiếng hát du dương, trong mịn là tiếng đàn đáy đục trong, khoan nhặt,
tiếng phách giòn ríu ran, và tiếng trống chầu tom, chát. Tất cả đan quyện vào nhau, tạo
11
nên một không gian nghệ thuật đặc biệt, tạo nên một thứ “ma lực” hấp dẫn, say đắm
lòng người.
1.1.3 Nghệ thuật Ca trù tại một số tỉnh đồng bằng sông Hồng
* Tại Hà Nội
- Làng Lỗ Khê thuộc xã Liên Hà, huyện Đông Anh ngoại thành Hà Nội
- Làng Phú Đô thuộc xã Mễ Trì, huyện Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội
- Câu lạc bộ ca trù Thăng Long,
- Câu lạc bộ ca trù Hà Nội,
- Trung tâm văn hóa ca trù Thăng Long,
- Câu lạc bộ ca trù Thái Hà,…
* Tại Hà Tây
Phù Xa, Đông Tác (Sơn Tây), Gạch (Phúc Thọ), Thượng Mỗ (Đan Phượng), Sơn
Đồng, Ngãi Cầu (Hoài Đức)
1.1.4.2 Giá trị âm nhạc
- Nghệ thuật Ca trù, theo như nhiều nhà nghiên cứu thì nó mang tính hàn lâm và bác
học. Tính nghệ thuật không chỉ thể hiện bằng sự kết hợp hài hòa giữa nhạc và thơ, sự
hòa quyện âm thanh của tiếng hát, tiếng phách, tiếng đàn, tiếng trống; mà nó còn thể
hiện ở sự đồng điệu về tâm hồn giữa người biểu diễn (đào, kép) và người thưởng thức
(quan viên).
+ Về cách phát âm và cách lấy hơi, mỗi lối hát lại có một phương pháp riêng. Ở ca
trù, nghệ nhân sử dụng “hơi trong” là chủ yếu
+ Về tiết tấu, rất ít tiết tấu có chu kì ngắn và đều như những thứ nhịp điệu của
những bài hát thông thường.
13
+ Một điều quan trọng cần chú ý là ở lối Ca trù này, chúng ta một hư từ nào xen
vào lời hát, như những chữ: tình bằng, ấy mấy, dẫu, mã,… ở trong các lối hát chèo hay
quan họ.
+ Về phần bạn tấu, tức là nhạc cụ đi kèm với giọng hát đã được tinh giản đến mức
tối đa.
+ Các nhạc cụ: phách, đàn đáy, trống chầu
1.1.4.3 Giá trị văn hoá
- Ca trù là một bộ môn nghệ thuật độc đáo của văn hoá Việt. Ca trù xưa và cổ kính
như đang giấu mình trong lớp trầm tích của văn hoá Việt Nam mà mỗi người dân
chúng ta đều có quyền tự hào, và tự thấy mình phải có trách nhiệm giữ gìn lưu truyền
và tìm cho nó vị trí xứng đáng trong đời sống văn hóa hôm nay.
+ Lối ứng xử linh hoạt trong ca trù là điểm mà nhiều người khi thưởng thức ca trù
có thể dễ dàng nhận thấy
+ Địa điểm sinh hoạt: Trước đây, vào những ngày hội ở các làng quê, Ca trù được
mời về biểu diễn ngay tại sân đình. Các cuộc hát thơ, ca tụng công đức của các vị thần,
vị thánh được cất lên thiêng liêng và trang trọng. Và chính nơi đây trở thành “nhà hát
nhân dân” của cả cộng đồng làng xã.
+ Cách thưởng trong ca trù cũng được coi là một nét văn hoá đặc biệt - một nét
nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, nếu ngành du lịch biết khai thác. Trên thực tế đã có
nhiều loại hình nghệ thuật truyền thống (chèo, múa rối nước, quan họ,…) khi đưa vào
phục vụ khách đã mang lại sự thích thú cho du khách và hiệu quả kinh tế cho ngành
du lịch. Do vậy việc bảo tồn và phát huy loại hình âm nhạc này cần có sự phối kết hợp
của các bộ ngành.
1.2.3 Triển vọng thu hút khách của nghệ thuật Ca trù
- Thế giới biến đổi và phát hiện đời sống ngày càng được nâng cao thì du lịch văn hoá
ngày càng phát triển mạnh mẽ.
- Cũng theo xu hướng chung, ở nước ta cũng đã có sự kết hợp khá tốt các di tích
lịch sử, văn hoá, các danh lam thắng cảnh để tạo ra những sản phẩm du lịch độc đáo,
đặc thù.
- Việc đưa Ca trù vào hoạt động du lịch là việc nên làm, có tính khả thi. Cùng với
nhiều sản phẩm du lịch khác, nghệ thuật Ca trù sẽ tạo thành một sản phẩm du lịch rất
riêng biệt và có sức hấp dẫn với du khách.
15
1.3 Những vấn đề đặt ra trong việc khai thác nghệ thuật ca trù phát triển du
lịch
1.3.1 Tính tất yếu của việc khai thác nghệ thuật ca trù phát triển du lịch
Theo GS.TS Ngô Đức Thịnh trong Bảo tồn, làm giàu và phát huy các giá trị văn
hóa truyền thống Việt Nam trong đổi mới và hội nhập, ông có nói về khuynh hướng
biến đổi văn hóa trên thế giới thì một khuynh hướng đang diễn ra mạnh mẽ đó là các
loại hình văn hóa truyền thống đang nhanh chóng thích ứng với sự phát triển mạnh mẽ
của nền kinh tế hiện đại.
Còn trong “Hội nghị đánh giá kết quả kiểm kê di sản văn hóa ca trù 2009-2010”
vừa diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13/10 đến ngày 16/10/2011 , đã có nhiều ý kiến tâm
huyết của các học giả, các nhà quản lý trên địa bàn toàn quốc đối với ca trù-môn nghệ
thuật truyền thống đặc sắc của dân tộc. Đặc biệt là những đề xuất có giá trị trong công
cuộc bảo vệ ca trù, nhằm đưa ca trù từ vị trí là “Di sản phi vật thể cần được bảo vệ
truyền thống trong kinh doanh dịch tại các quốc gia và tại Việt Nam. Cũng như căn cứ
vào yêu cầu thực tiễn đặt ra hiện nay với nghệ thuật ca trù trong việc bảo tồn và phát
huy các giá trị văn hóa, chúng ta cần nghiên cứu thực trạng các vấn đề sau:
- Vấn đề công tác tổ chức quản lý trong khai thác kinh doanh du lịch
- Vấn đề cơ sở vật chất
- Vấn đề nhân lực
- Vấn đề thị trường và du khách
- Vấn đề xúc tiến, quảng bá, marketing
- Vấn đề bảo tồn
- Vấn đề hiệu quả kinh tế - xã hội
Tuy nhiên do năng lực của bản thân và thời gian có hạn, cũng như yêu cầu của đề
tài, tôi lựa chọn các vấn đề cơ bản sau để nghiên cứu thực trạng khai thác kinh doanh
du lịch với nghệ thuật ca trù hiện nay:
- Vấn đề công tác tổ chức quản lý trong khai thác kinh doanh du lịch
- Vấn đề cơ sở vật chất
- Vấn đề nhân lực
- Vấn đề du khách
17
- Vấn đề xúc tiến, quảng bá
Tiểu kết
Nghệ thuật ca trù là một môn nghệ thuật độc đáo, có sức sống mãnh liệt qua thăng
trầm của lịch sử dân tộc. Đến nay, nghệ thuật ca trù đã được thế giới công nhận và
vinh danh, mang lại sức sống mới cho ca trù. Về lịch sử ra đời và phát triển nghệ
thuật ca trù vẫn được các nhà nghiên cứu quan tâm và làm phong phú thêm nguồn tư
liệu chứng tỏ các giá trị văn hóa, nghệ thuật của ca trù. Hiện nay, nghệ thuật ca trù tại
các tỉnh đồng bằng sông Hồng đang dần trở thành một sản phẩm du lịch độc đáo, đậm
đà bản sắc dân tộc thu hút du khách trong và ngoài nước. Và để thấy được thực trạng
của vấn đề này, tôi xin trình bày cụ thể trong chương 2.
Chương 2: THỰC TRẠNG KHAI THÁC CÁC GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT
nghiệp cho du khách tại Hà Nội chính là câu lạc bộ ca trù Hà Nội tại đình Kim Ngân
số 42 Hàng Bạc do nghệ sĩ Bạch Vân sáng lập.
Trung tâm văn hóa ca trù Thăng Long được xây dựng và thành lập bởi công ty cổ
phần đầu tư và thương mại Nguyên Lai - một đơn vì hoạt động trong lĩnh vực văn hóa
nghệ thuật. Trung tâm và địa chỉ đầu tiên và duy nhất hiện nay tổ chức biểu diễn ca trù
chuyên nghiệp với phòng diễn đầy đủ trang thiết bị tiện nghi hiện đại nhưng không làm
mất đi nét văn hóa Việt và không gian trang trọng tôn quý của ca trù
2.2.2 Câu lạc bộ sinh hoạt ca trù
Ngày 6/10, tại Hà Nội, Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam phối hợp với Cục Di
sản văn hóa (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) tổ chức họp báo thông tin về Hội nghị
"Đánh giá kết quả kiểm kê di sản văn hóa ca trù 2009 - 2010”. Theo những báo cáo
kết quả kiểm kê tại hội nghị thì thấy được so với số liệu kiểm kê thời điểm lập hồ sơ
trình UNESCO, số lượng câu lạc bộ ca trù tăng hơn gấp đôi, số người biết đàn hát tăng
lên hơn gấp ba.
Bởi theo số liệu thống kê của các nhà nghiên cứu, năm 2004 cả nước có 24 câu lạc
bộ ca trù, năm 2006 chỉ có khoảng 150 đào nương biết hát ca trù và đến giữa năm 2009
có 63 câu lạc bộ với khoảng 769 người (bao gồm 513 đào nương và 256 kép đàn và
người đánh trống chầu) ở 14 tỉnh, thành phố (Hà Nội, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh,
Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Ðịnh, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà
Tĩnh, Quảng Bình, TP. Hồ Chí Minh) có hoạt động thường xuyên và có kế hoạch luyện
tập truyền nghề ca trù.
19
2.2.3 Hội diễn, liên hoan nghệ thuật
Một sân chơi dành cho các nghệ sĩ ca trù rất được mong đợi, đó là các hội diễn,
liên hoan nghệ thuật ca trù. Bởi đây là nơi các nghệ sĩ trên khắp cả nước gặp và trao
đổi kinh nghiệm, chia sẻ những vui buồn trong nghề nghiệp, đúc rút những bài học
trong việc phát triển nghệ thuật ca trù. Tuy nhiên đến nay các hội diễn, liên hoan nghệ
thuật dành riêng cho ca trù chưa nhiều.
2.3 Nhân lực
đây để lại
- Ngày càng có được sự quan tâm, ưu ái của đông đảo người dân, nhà quản lý và nhà
kinh doanh du lịch
- Nghệ thuật ca trù đã tạo được sự chú ý của không chỉ các nhà nghiên cứu văn hoá mà
với cả cộng đồng quốc tế thông qua các chuyến lưu diễn, những nghiên cứu khoa học
và đặc biệt khi UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật cần được bảo vệ khẩn
cấp năm 2009
2.3.2 Những khó khăn
- Bị cạnh tranh với các hình thức biểu diễn hiện đại
- Nhiều doanh nghiệp du lịch khi nghiên cứu sản phẩm du lịch vẫn chưa hiểu hết các
giá trị văn hoá vốn có của nghệ thuật ca trù
- Công tác tuyên truyền quảng bá còn nhiều hạn chế, nhất là khả năng tiếp cận với
cộng đồng quốc tế.
Tiểu kết
Qua các thông tin của chương 2, chúng ta đã thấy được nghệ thuật ca trù đã và đang
được đưa vào khai thác kinh doanh du lịch trong thời gian gần đây và bước đầu đã
mang lại hiệu quả kinh doanh du lịch cũng như trong công tác bảo tồn di sản. Qua đây
cũng thấy được thực trạng của hoạt động du lịch trong khai thác các giá trị của nghệ
thuật ca trù bằng việc nghiên cứu thực trạng số lượng khách du lịch, cơ sở vật chất,
nguồn nhân lực và công tác tuyên truyền quảng bá. Thông qua đây tôi cũng nhận thấy
các vấn đề cần giải quyết trong thời gian tới nhằm nâng cao hiệu quả khai thác.
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ
KHAI THÁC CÁC GIÁ TRỊ VĂN HOÁ CỦA
21
NGHỆ THUẬT CA TRÙ TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH
3.1 Căn cứ đề xuất
3.1.1 Căn cứ lý thuyết
- Dựa vào các văn bản về định hướng, chiến lược phát triển văn hoá truyền thống nói
thời gian, không gian thưởng thức.
3.2.2 Xây dựng môi trường biểu diễn hợp lý
- Lựa chọn địa điểm biểu diễn phải hết sức chú ý về tính đặc thù của loại hình nghệ
thuật này.
- Cần chú ý đến việc sắp xếp chỗ ngồi cho du khách và bục biểu diễn sao cho du
khách có thể quan sát một cách tốt nhất và nghe được rõ nhất.
- Xây dựng đội ngũ các nghệ nhân, nghệ sĩ biểu diễn chuyên nghiệp đảm bảo phục vụ
thường xuyên liên tục.
- Về thời gian biểu diễn, ta có thể đưa ca trù vào loại hình du lịch đêm bởi đây là thời
gian thích hợp nhất để ca trù có thể thể hiện và hấp dẫn đặc biệt đối với những người
thưởng thức.
- Các tiết mục biểu diễn
- Về mặt trang phục và nhạc cụ thì tốt hơn cả vẫn phải là đạo cụ, trang phục truyền
thống.
- Chính sách giá cả
- Có các dịch vụ bổ sung như bán đồ lưu niệm
3.2.3 Đưa nghệ thuật Ca trù vào chương trình du lịch
- Với tư cách là một loại hình văn hoá nghệ thuật truyền thống, ca trù xứng đáng là
một sản phẩm du lịch độc đáo.
- Ca trù có thể coi là một sản phẩm du lịch mới để bổ sung nhằm tăng thêm tính đa
dạng và phong phú cho loại hình du lịch đêm.
3.2.4 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quảng bá nghệ thuật ca trù
- Về mặt xúc tiến quảng cáo, chúng ta có nhiều phương thức như phát hành các tập
gấp, những quyển sách nhỏ giới thiệu một cách khái quát nhất về nghệ thuật ca trù,
giới thiệu về chương trình biểu diễn ca trù tại Hà Nội, hay đưa nó vào các chương
trình du lịch và gửi tới các đại lý gửi khách ở một số quốc gia trên thế giới có tiềm lực
về du lịch. Giới thiệu ca trù trên các phương tiện thông tin đại chúng như đài báo, tivi
và cần tăng cường thời lượng phát sóng hơn nữa.
23
24
điệu nhạc hoà quyện với nhau. Họ cùng nhau giãi bày những tâm sự, thể hiện ý
nguyện của mình. Cuộc hát vì vậy không bị tẻ nhạt mà đầy sức lôi cuốn, trang trọng,
lịch lãm. Với các giá trị văn hoá và nghệ thuật đặc sắc, độc đáo của mình, nghệ thuật
ca trù không chỉ đơn thuần là một sản phẩm văn hoá mà còn là một sản phẩm du lịch
đầy tiềm năng cần được khai thác. Đưa ca trù vào hoạt động kinh doanh du lịch không
chỉ nhằm đa dạng hoá các sản phẩm du lịch, mà còn làm phong phú them đời sống văn
hoá tinh thần của người dân. Bên cạnh đó, đưa ca trù vào trong hoạt động kinh doanh
du lịch còn góp phần quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy môn nghệ thuật cổ
truyền này.
Trong luận văn này, học viên đã đi tìm hiểu về nghệ thuật ca trù như tên gọi, lịch
sử phát triển, các giá trị văn hóa của nghệ thuật ca trù. Trong chương 1, tôi cũng tìm
hiểu về quá trình ca trù trở thành di sản văn hóa thế giới khẳng định rõ hơn về các giá
trị văn hóa của loại hình nghệ thuật này. Và bước đầu đặt ra các vấn đề trong việc khai
thác loại hình nghệ thuật ca trù trong kinh doanh du lịch.
Chương 2, tôi bước đầu tìm hiểu về thực trạng khai thác nghệ thuật ca trù trong
kinh doanh du lịch thông qua các khía cạnh: cơ quan tổ chức quản lý, du khách, cơ sở
vật chất, nguồn nhân lực và công tác tuyên truyền quảng bá. Qua đây thấy được những
hiệu quả mang lại từ việc khai thác kinh doanh trong du lịch. Nhưng qua các vấn đề về
thực trạng, tôi cũng nhận thấy những khó khăn, hạn chế còn tồn tại trong quá trình thu
hút du khách.
Chương 3, thông qua các vấn đề nghiên cứu, tôi nhận thấy những tồn tại cần khắc
phục nhằm nâng cao hơn nữa hoạt động khai thác du lịch. Vì vậy tôi xin đưa ra một số
giải pháp cần giải quyết trong thời gian tới như: vấn đề bảo tồn, vấn đề xây dựng môi
trường biểu diễn, vấn đề xây dựng sản phẩm du lịch và vấn đề tuyên truyền quảng bá
cho nghệ thuật ca trù.
Người viết cũng tự nhận thấy, những tìm hiểu và nghiên cứu của bản thân còn sơ
sài, và nhiều hạn chế. Vì vậy học viên rất mong nhận được sự đóng góp của thầy cô,
bạn bè giúp học viên có thể hoàn chỉnh bài luận văn.
xã hội, Hà Nội
17. Nguyễn Mạnh Hồng (1991), Cuộc thưởng ca ở Hữu Thanh Oai, Tạp chí Nam
Phong
18. Trịnh Khải (1993), Ca trù – một nền âm nhạc bác học, Tạp chí âm nhạc, số 4,