Bài tập lớn Trần Thị Bích Ngọc - K55A
Lịch sử
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lí do chọn đề tài
Hương ước xuất hiện từ khá lâu trong lịch sử, đặc biệt vào thế kỉ XV
hương ước trở nên phổ biến, có ở hầu khắp các làng xã Việt Nam. Hương
ước có nhiều tên gọi khác nhau như khoán ước, khoán lệ, khoán từ, hương
khoán, hương lệ, … gần với chúng ta hơn cả nó còn có tên là Quy ước làng
văn hoá - có ở hầu hết các làng văn hoá trong cả nước. Hiện nay Nhà nước ta
đang có xu hướng khuyến khích các làng xây dựng và khôi phục hương ước.
Vậy lí do gì để hương ước vốn từng bị lãng quên trong lịch sử lại được nhà
nước ta quan tâm và khuyến khích khôi phục, xây dựng?
Rõ ràng không phải vô cớ mà hương ước lại được Đảng và Nhà nước
ta hiện nay dành cho sự quan tâm đặc biệt như vậy mà vì, xét một cách tổng
quát hương ước có giá trị nhiều mặt cả về thực tiễn cũng như nghiên cứu, đặc
biệt hơn cả hương ước là một phương tiện hữu hiệu phục vụ cho công cuộc
xây dựng đất nước trong thời kì hiện tại, cụ thể hơn đó là vì mục tiêu xây
dựng nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc, trong đó những nét đẹp của văn
hoá truyền thống cần được phát huy. Với mong muốn đóng góp chút phần
nhỏ của mình vào việc thực hiện mục tiêu của đất nước, tác giả đề tài xin đi
sâu vào tìm hiểu, làm sáng tỏ ý nghĩa về mặt bảo vệ giá trị truyền thống trong
các hương ước cổ, giúp chúng ta hiểu rõ hơn vì sao mà các làng xã hiện nay
cần xây dựng và khôi phục hương ước. Thiết nghĩ đây là một việc làm cần
thiết để giúp cho việc thực hiện mục tiêu của Đảng và Nhà nước đề ra được
dễ dàng hơn và tạo điều kiện cho hương ước có thể khôi phục được vị trí, vai
trò vốn có của mình trong các làng xã.
Với lí do nêu trên tôi quyết định hoàn thành Bài tập lớn với đề tài lựa
chọn là “Bảo vệ các giá trị văn hoá truyền thống qua nguồn hương ước cổ”.
II. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Như đã nói ở trên, hương ước có giá trị nhiều mặt cả về nghiên cứu
cũng như thực tiễn. Về mặt nghiên cứu là đối tượng của nhiều ngành khoa
những cải biến đó nhiều mặt của tập tục làng xã đã được phát huy, nhiều mặt
Bài tập lớn Trần Thị Bích Ngọc - K55A
Lịch sử
tồn tại dưới dạng tàn dư hay “chuyển dạng”, nhiều mặt vẫn tỏ ra có sức sống
dai dẳng, có một thời gian tương như mất rồi lại sống lại. Từ năm 1989 đến
nay, trong xu hướng tái lập làng tiểu nông, tái lập phương thức quản lí làng
xã truyền thống việc “tái lập hương ước” tức soạn thảo quy ước làng đang đặt
ra nhiều vấn đề. Đi sâu nghiên cứu hương ước cổ là cơ sở khoa học cho việc
kế thừa những mặt tích cực và hợp lí, khắc phục những hạn chế và tiêu cực
góp phần thực hiện tốt các mục tiêu của đất nước trong giai đoạn hiện nay là
xây dựng nền văn hoá Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc.
Với ý nghĩa và giá trị nghiên cứu trên đây từ lâu hương ước đã thu hút
được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Các nhà
nghiên cứu đó đã xuất phát từ nhiều quan điểm khác nhau và nhằm những
mục đích khác nhau có thể theo 3 hướng chính là:
2. Các tác giả đề cập đến hương ước trong mối quan hệ với phong tục làng
xã. Đó là Phan Kế Bính, Ngô Tất Tố, Nguyễn Văn Huyên, Vũ Ngọc Liễn,…
3. Các tác giả đề cập đến hương ước trong mối quan hệ cơ cấu tổ chức
làng xã mà những người đầu tiên là các học giả Pháp tiêu biểu là Landes,
Ory, Bouchet,…Dưới chế độ cũ cũng có một số nhà nghiên cứu chủ nghĩa đề
cập đến hương ước trong mối quan hệ với cơ cấu tổ chức làng xã như
Nguyễn Huyên, Toan Ánh, Nguyễn Sĩ Giác, Phan Đại Doãn,…
4. Các tác giả lấy hương ước làm đối tượng nghiên cứu và sưu tầm
như: Vũ Duy Mền, Văn Tân, Diệp Đình Hoa, Phạm Xuân Nam, Cao Biền,…
Bên cạnh đó hương ước cũng trở thành nội dung của nhiều cuộc hội
thảo được tổ chức rất quy mô nhằm thực hiện mục tiêu của Nghị quyết lần
thứ V-Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VII (6/1993) và Nghị quyết
Đại hội Đảng lần thứ VIII là đi sâu nghiên cứu các hương ước nhằm “gạn
đục khơi trong”, tiến tới tái lập hương ước. Tựu chung lại quy vào 2 giai
đoạn chính sau:
các tuyển tập như: “Hương ước Nghệ An”; “Hương ước cổ Hà Tây”; “Hương
ước Thái Bình”; “Hải dương hương ước”; “Hà Nội xưa qua hương ước”,…
Ngoài ra còn có cả một số hương ước cổ được chú thích khá đầy đủ trong
Bài tập lớn Trần Thị Bích Ngọc - K55A
Lịch sử
các tác phẩm của các tác giả như Bùi Xuân Đính, Lê Đức Tiết, Vũ Duy Mền,…
2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn như sau:
5 Về đối tượng: Chỉ tộc người Việt sinh sống tại vùng đồng bằng
Bắc Bộ, Thanh Hoá, Nghệ An, Huế.
6 Về không gian: Các bản hương ước cổ thành văn ở vùng đồng
bằng Bắc Bộ, Thanh Hoá, Nghệ An, Huế được soạn thảo trong thời gian từ
giữa thế kỉ XV tới trước năm 1921.
7 Công trình nghiên cứu tập trung tìm hiểu sự bảo vệ các giá trị
văn hoá truyền thống qua các hương ước (biểu hiện và tác động đến xã hội
Việt Nam truyền thống) cố gắng đề ra một số biện pháp và cách thức bảo lưu
và phát triển những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực của các
hương ước cổ trong thời đại mới.
3. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này tác giả đã sử dụng tổng hợp các phương pháp sau:
8 Phương pháp lịch sử và phương pháp lô gic
9 Phương pháp phân tích, so sánh, thống kê, sưu tầm tài liệu
V. Bố cục đề tài
Ngoài phần đặt vấn đề, kết luận, tài liệu tham khảo, phần giải quyết
vấn đề được chia làm hai chương như sau:
Chương I: Khái quát chung về hương ước
Chương II: Bảo vệ các giá trị văn hoá truyền thống qua nguồn hương
ước cổ
Bài tập lớn Trần Thị Bích Ngọc - K55A
Lịch sử
khác như sông Mã, sông Lam,…vốn có nguồn gốc từ các công xã nông thôn
xa xưa. Các công xã nông thôn này vừa mang những đặc trưng của công xã
Phương Đông vừa mang những sắc thái riêng đó là tính chất truyền thống,
tính chất láng giềng, tính tông tộc, tính cộng đồng của công xã cực kì sâu
đậm, bền vững. Những tính chất đó còn được bảo lưu khá rõ nét ở các làng
xã người Việt sau này.
Do yêu cầu khách quan của cuộc sống cộng đồng (công xã nông thôn)
cần quy định mối quan hệ giữa các thành viên với nhau và giữa các thành
viên với các tổ chức cộng đồng. Những quy định đó buổi đầu rất sơ lược, đơn
giản. Theo thời gian chúng dần được cố định thành tục lệ, tập quán truyền
khẩu từ đời nay sang đời khác. Như vậy nguồn gốc hương ước vốn từ tục dân
(lệ làng truyền khẩu) chất phác và đơn giản với nhiều biểu hiện rõ nét đa
dạng ở tục thề hay hội thề của người xưa và nhiều tục lệ khác như tục hậu
hay lệ hậu sau này.
2.1 Nguồn gốc hương ước biểu hiện ở tục thề hay hội thề của người
xưa
Tục thề là một hình thức sinh hoạt dân gian không phải là sở hữu riêng
của tộc người nào trên thế giới mà nó có tính chất xã hội và tương đối phổ biến
từ thời nguyên thuỷ. Đối với người nông dân ở vùng đồng bằng và trung du
Bắc Bộ, tục thề dân gian vốn có từ xa xưa. Lễ thề đầu tiên được truyền thuyết
khắc hoạ là lễ thệ sư trước khi xuất quân phá giặc Đông Hán của Hai Bà
Trưng. Sau sự kiện năm 557 Lý Phật Tử và Triệu Việt Vương tổ chức lễ thề
chính sử nước ta ghi chép khá nhiều về tế lễ cung đình hay quốc thề còn tục
thề dân gian thì được ghi chép khá cụ thể trong các hương ước, khoán ước.
Trong bia “Bản xã tạo lập lệ tích” năm Chính Hoà thứ 13 (1692) được
dựng ở Tam quan đình, xã Đại Lâm, tổng Phong Xá (Yên Phong, Bắc Ninh)
cho hay: Các quan viên hương lão, dân làng họp bàn để lập ra một khoán ước
mới. Theo khoán ước đó, vào tháng Giêng hàng năm dân làng sẽ cùng đồng
tâm góp sức làm cho phong hoá làng xã tốt đẹp. Khi thề mỗi người đều khấn
(1722) dựng ở xã Mai Đình, huyện Hiệp Hoà, phủ Bắc Hà cho bà Nguyễn
Bài tập lớn Trần Thị Bích Ngọc - K55A
Lịch sử
Thị Hoảng là hậu thần vì bà đã cúng cho chùa 5 sào 3 thước ruộng và một
trăm quan tiền” [19, 298].
Như vậy tục gửi hậu vốn xuất phát từ tục thờ cúng tổ tiên của người
Việt sau dần được văn bản hoá. Các bản bia hậu và bia hậu còn được bảo lưu
đến ngày nay ở trong và ngoài phạm vi đồng bằng sông Hồng, là những
chứng cứ khá chắc chắn nói lên nguồn gốc hương ước và quá trình văn bản
hoá lệ làng. Bia hậu đánh dấu mốc về quá trình xuất hiện và hoàn thiện dần
từng mặt của hương ước.
3. Điều kiện để xuất hiện hương ước
3.1. Thời điểm xuất hiện hương ước
Như ta đã biết hương ước có nguồn gốc lâu đời nhất ở Trung Quốc vào
thế kỷ thứ XII dưới thời Bắc Tống ở Lam Điền (Thiểm Tây – Trung Quốc)
với “Lam Điền lã thị hương ước” ban hành rộng rãi trong thiên hạ. Từ Trung
Quốc, hương ước được du nhập trực tiếp vào các nước Đông Nam Á cận kề
từ cuối thế kỷ thứ XIV trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên phải đến cuối thế kỷ
XV – khi chế độ phong kiến được xác lập vững chắc với hệ tư tưởng Nho
giáo trở thành chính thống bắt rễ trong cơ sở ở làng quê thì hương ước mới
chính thức ra đời như một hiện tượng đặc biệt trong nông thôn Việt Nam cổ
truyền. Những hương ước xuất hiện sớm nhất: Hương ước làng Quỳnh Đôi
(Nghệ An) năm 1638-1645; hương ước làng Mậu Trạch (Hải Dương) năm
1665; hương ước Dương Liễu, Quế Dương, Mậu Hoà (Hà Tây) năm 1689;
hương ước Phù Cốc năm 1689. Điều này cho thấy hương ước bắt đầu xuất
hiện như một hiện tượng đặc biệt và chỉ có ở những làng có phong tục khác
lạ vào cuối thế kỷ XV. Sang các thế kỷ XVI, XVII, XVIII, XIX càng có
nhiều làng soạn thảo hương ước nhưng không phải làng nào cũng có hương
ước. Đó là lý do cơ bản giải thích sự thiếu vắng của hước có trong bộ sưu tập
hiện nay ở nhiều làng xã.
kì Lê Thánh Tông đến sau này khoa cử rất phát triển, nhiều người đỗ đạt cao.
Tầng lớp Nho sĩ ngày càng đông đảo. Sang thế kỉ XVIII đất nước lâm vào
tình trạng phân tranh kéo dài nhiều năm. Trước tình hình thời thế hỗn loạn đó
Bài tập lớn Trần Thị Bích Ngọc - K55A
Lịch sử
nhiều Nho sĩ không ra ứng cử làm quan hoặc từ quan về sống ở quê hương.
Chính trong số Nho sĩ bình dân ấy có những người tham gia vào chức dịch
làng xã. Họ chính là những người tham gia soạn thảo hương ước, chấp bút
viết nên hương ước thay cho lệ làng truyền khẩu đã không còn đáp ứng nhu
cầu cuộc sống nơi làng mạc.
Như vậy hương ước vốn từ tục lệ của dân làng. Khi làng xã ở buổi sơ
khai tục lệ vốn đơn giản và truyền khẩu. Sau đó do qúa trình phát triển mọi
mặt của làng xã thì tục lệ truyền khẩu không đáp ứng được nhu cầu của cuộc
sống thực tại, chính trong hoàn cảnh đó hương ước ra đời. Khi xem xét điều
kiện ra đời của hương ước ngoài những điều kiện đã nêu là nhu cầu phát triển
tự thân của làng xã, sự can thiệp của nước quân chủ đối với làng xã, sự xuất
hiện của tầng lớp Nho sĩ bình dân thì phải chú ý đến những điều kiện cụ thể
của từng làng xã. Có thể nói thế kỉ XVIII, nửa đầu thế kỉ XIX, nhiều làng xã
ở đồng bằng Bắc Bộ và một số tỉnh miền Trung, đã đảm bảo những điều kiện
để xuất hiện hương ước nhưng sự xuất hiện đó sớm hay muộn còn phụ thuộc
vào nhiều yếu tố khác nhau.
II. Nội dung của các hương ước cổ (từ giữa thế kỉ XV đến trước
năm 1921)
1. Những quy ước liên quan tới cơ cấu tổ chức và các quan hệ xã
hội trong làng
1.1 Những quy ước liên quan tới các thiết chế tổ chức trong làng, chức
năng quyền hạn và lề lối làm việc của từng tổ chức cũng như các thành viên
trong đó.
Các thiết chế tổ chức trong làng bao gồm: xóm, ngõ, giáp và hội đồng kì
mục lí dịch. Trong đó giáp là thiết chế giữ nhiều trọng trách trong sinh hoạt xã
Đây là các điều về tôn giáo tín ngưỡng mà việc tổ chức thờ cúng thành
hoàng là trọng tâm. Nội dung cụ thể gồm:
Lịch thờ cúng (những kì tế lễ hay cầu cúng trong các tháng hàng năm)
1. Lễ vật thờ cúng (số lễ vật, loại lễ vật)
1. Việc tổ chức biện lễ thờ cúng.
Bài tập lớn Trần Thị Bích Ngọc - K55A
Lịch sử
1. Việc tổ chức thờ cúng, rước sách
1. Việc chia biếu các lễ vật sau tế lễ
1. Những kêng kị trong các dịp tế lễ
Ngoài việc thờ cúng thành hoàng hương ước cũng có những quy định
về thờ Phật, về tổ chức các tế lễ liên quan đến sản xuất nông nghiệp.
4. Những quy ước về việc đảm bảo các nghĩa vụ đối với Nhà nước
Nghĩa vụ của làng xã đối với Nhà nước phong kiến bao gồm sưu thuế,
phu dịch và binh dịch đều được quy định khá rõ trong hương ước.
Về sưu thuế có hai loại chính thức: Thuế điền và thuế đinh, các bản
hương ước đều có những điều khoản phân bổ rõ về hai loại thuế này. Hương
ước các làng đều có những điều liên quan đến việc nộp thuế, việc phạt những
cá nhân không nộp thuế hoặc lợi dụng dịp thu thuế để kiếm lời.
Sau việc sưu thuế là việc đảm bảo nghĩa vụ binh dịch được thực thi
trên các phương diện sau:
1. Phân bổ và chọn người đi làm nghĩa vụ binh dịch
1. Giúp đỡ vật chất cho gia đình có người đi lính
1. Cách đối xử với những người hoàn thành nghĩa vụ binh dịch trở
về
1. Xử phạt với những người chốn tránh nghiã vụ binh dịch
Về phu dịch thường có 2 loại: theo nghĩa vụ đối với Nhà nước và loại
phu dịch đẻ thực hiện các công ích của cộng đồng.
Ngoài các nội dung trên đây hương ước của nhiều làng còn có các điều
bảo vệ môi trường, nông nghiệp, khuyến học,…Một số làng còn đề ra cả quy
hoá làng là gì? Từ đó chúng ta có thể thấy được sự biểu hiện của nó trong
hương ước làng.
1. Làng Việt
Làng Việt gắn liền với lịch sử dân tộc Việt Nam. Trải qua mấy nghìn
năm hình thành và phát triển của quốc gia dân tộc làng xã luôn là một cộng
đồng bền chặt. Cộng đồng cư dân của làng được hình thành khởi nguồn từ
những mối quan hệ huyết tộc và láng giềng, luôn phải gắn kết chặt chẽ với
nhau để khai phá đầm lầy, hoang rậm, chế ngự thiên nhiên và chống ngoại
xâm, nhằm phát triển sản xuất đồng thời đảm bảo an ninh, sự toàn vẹn của
làng, của nước. Cũng chính từ đặc thù của quá trình hình thành và phát triển
ấy, tính cộng đồng của làng xã Việt Nam ngày càng được biểu hiện sinh động
đặc trưng văn hoá làng. Làng vừa là một cộng đồng lãnh thổ, một cộng đồng
kinh tế vừa là một cộng đồng văn hoá.
Khi xem xét biểu hiện tính cộng đồng của làng với tư cách là một cộng
đồng văn hoá chúng ta có thể thấy: Dù cùng sinh sống trên cùng một lãnh thổ
thừ ngày khai mở - hình thành làng xã, đặc biệt là do sự gắn bó với nhau -
vừa tự nguyện vừa bắt buộc - trong quá trình tổ chức sản xuất, cư dân các
làng xã đã cùng nhau sáng tạo và vun đắp nên một cộng đồng văn hoá của
làng. Cộng đồng văn hoá làng không chỉ ở khía cạnh sáng tạo ra các giá trị
văn hoá với những nét riêng độc đáo, mà còn là nơi bảo vệ giữ gìn và chuyển
Bài tập lớn Trần Thị Bích Ngọc - K55A
Lịch sử
giao các giá trị văn hoá truyền thống từ đời này sang đời khác.
Như vậy làng đã tồn tại với một vị trí, vai trò không thể thay đổi trong
lịch sử phát triển của dân tộc. Để xây dựng, phát triển làng trong giai đoạn
hiện nay chúng ta cần phải tìm hiểu những yếu tố làm cho làng trường tồn
cùng với thời gian. Đó sẽ là động lực cho việc thực hiện thành công mục tiêu
văn hoá của đất nước, xây dựng làng văn hoá cũng nằm trong mục tiêu đó.
Tìm những yếu tố làng truyền thống tức là đi vào nội dung của văn hoá
làng. Thuật ngữ này giờ đây được giới nghiên cứu chấp nhận và văn hoá làng
Phần lớn các dân tộc trên thế giới đều trải qua những chặng đường
lịch sử tồn tại và phát triển trong hàng ngàn năm hoặc lâu hơn nữa. trong
hàng ngàn năm ấy, ở mỗi dân tộc có nhiều phong tục, tập quán được hình
thành tồn tại hoặc mất đi, hoặc phát triển thành những tập quán mới. Nhưng
trong cuộc sống không phải phong tục tập quán lạc hậu nào cũng tự nó mất
đi, không phải phong tục, tập quán nào hay cũng được giữ lại. Trái lại tuỳ
theo tình hình của từng nơi, từng lúc, có lúc những hủ tục lại có dịp trỗi dậy,
các thuần phong mĩ tục lại bị quên lãng dần đi. Vì vậy cần phải có những
biện pháp để bảo vệ những thuần phong mĩ tục ấy. Một trong những biện
pháp của người Việt Nam để bảo vệ những thuần phong mĩ tục ấy là sử dụng
hương ước. Người Việt Nam trong các cộng đồng cư dân ở nông thôn rất có
ý thức trong việc sử dụng hương ước để bài trừ thói hư tật xấu của con người,
để khuyến khích mọi người trong đấu tranh nhằm hoàn thiện nhân cách, nâng
cao phẩm giá của con người. Có thể nói đây là một biện pháp sáng tạo và hữu
hiệu của nhân dân ta. Quy phạm của hương ước Việt nam về khuyến khích
nuôi dưỡng thuần phong mĩ tục bao gồm nhiều nội dung về phong cách sống,
lối sống của con người được giới hạn trọng các chữ: Hoà, hiếu, lễ, nghĩa,
trung, tín, cần, kiệm, liêm, chính, được thể hiện thông qua một số phong tục
như: Cưới hỏi, ma chay, giao lưu, ứng xử trong cộng đồng như con cái đối
với cha mẹ, ông bà, vợ chồng, học trò với thầy học, trẻ con với người lớn,
người dân với quan chức, hàng xóm láng giềng với nhau…Có thể thấy đó là
những nét văn hoá tốt đẹp trong cuộc sống thường ngày mà nhân dân ta đã
Bài tập lớn Trần Thị Bích Ngọc - K55A
Lịch sử
xây dựng nên và lưu giữ nó trong hương ước, lệ làng.
1. Về hôn lễ
Hôn nhân là một việc hệ trọng của đời người vì vậy trong hương ước
của các làng đều có những quy định cụ thể các vấn đề liên quan đến việc kết
hôn. Có hương ước trước khi đưa ra những điều quy định cụ thể đã có đoạn
trình bầy các quan điểm chính thống của làng xã về vấn đề này dưới danh
Huế đặc biệt chú ý đến vấn đề hôn nhân. Khoán lệ làng Phong Lai (Huế) cho
rằng, lễ giá thú nhằm tạo thành giềng mối của phong hóa. Ngoài việc dựng
vợ gả chồng để trao truyền thế hệ, nối dõi tông đường, hôn nhân còn góp
phần giữ gìn và bồi đắp “thuần phong mỹ tục”. Tính “thiêng” của hôn nhân,
trước hết đã được khẳng định để từ đó, loại bỏ các yếu tố “tục” - tính thực
dụng, như dẫn lời Trang Tử: “Sự cưới gả mà nói đến của cải, là cái đạo của
bọn mọi rợ”.
Xuất phát từ đó mà hôn lễ phải đảm bảo quy trình lễ nghi, giữ gìn
phong hóa. Việc dựng vợ gả chồng cốt phải xứng đôi vừa lứa, việc sính lễ
nên châm chước trong sáu lễ (nạp thái, vấn danh, nạp cát, thỉnh kỳ, nạp tệ,
thân nghinh).
Vấn đề nổi cộm trong quy trình nghi lễ này là quan niệm môn đăng hộ
đối, nhất là ở đồ sính lễ. Hương ước Thế Lại Thượng (Phú Vang, Huế) cho là
“việc cưới gả đính ước trăm năm, không kể giàu nghèo” và quy định chi tiết:
lệ đàng trai cho tiền một đồng, đàng gái cho tiền năm hào. Sở dĩ có chuyện
này là bởi nó từng là vấn nạn chốn hương thôn, thậm chí có người còn cầm
bán ruộng đất, tài sản lớn. Điều cấm thứ nhất về hôn nhân trong hương ước
Lễ Khê (Hương Trà, Huế) là bất cứ ai cũng không được cầm bán ruộng đất,
đòi hỏi tiền bạc, áo quần một cách quá đáng. Tuy nhiên, lễ cũng không nhất
thiết phải bỏ, “không kể giàu nghèo, phải thực hiện sính lễ đầy đủ”. Còn ở
làng Phong Lai (Quảng Điền, Huế) thì “việc sính lễ là từ nhà trai, nhà gái
hoàn toàn không được yêu sách” [(25)].
Ở đây, chuyện cỗ bàn cũng được chú trọng. Hầu như các lệ làng đều
lấy phương châm “tùy gia phong kiệm” làm trọng, thể hiện sự chung vui đại
Bài tập lớn Trần Thị Bích Ngọc - K55A
Lịch sử
hỷ cùng gia đình, qua lời mời còn “cao hơn mâm cỗ”. Lệ làng Lễ Khê
(Hương Trà, Huế) quy định việc tiếp đãi khách khứa tùy vào điều kiện gia
đình nhưng không nên quá xa xỉ. Ở làng Phong Lai (Quảng Điền, Huế), đối
với gia đình khá giả thì tùy nghi, còn người nghèo khổ túng bấn chỉ dùng cau
của cộng đồng, lại mang đậm tính thời sự: đảm bảo nghi lễ thiêng liêng, tinh
thần tiết kiệm, xã hội có tôn ti Kế thừa nét đẹp thuần mỹ từ lệ làng truyền
thống cũng là thiết thực thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, hiện
đại nhưng vẫn đậm đà bản sắc chốn hương thôn.
Như vậy có thể thấy chế độ hôn nhân của người Việt Nam trong các
hương ước cổ dù là miền Bắc hay miền Trung đều là chế độ một vợ một
chồng, đơn giản, tiết kiệm trong tiến hành hôn lễ. Việc nộp tiền cheo cưới
vẫn duy trì để lấy tiền nộp quỹ cho làng dùng vào việc công, nhưng không
quá nặng. Trai gái lấy vợ, lấy chồng khác làng tuy phải nộp tiền cheo nhiều
hơn lấy vợ, lấy chồng cùng làng nhưng không đáng là bao. Cũng điều 6
hương ước làng Thiện Kỵ viết: “người trong làng thì nộp tiền cheo một quan
và trầu rượu, người trong xã thì nộp một quan 2 và trầu rượu, người trong
tổng thì nộp hai quan tư và trầu rượu, người trong tỉnh hay khác tỉnh thì nộp
6 quan và trầu rượu. Tuy vậy còn tuỳ giàu nghèo, sang hèn mà châm trước
cho thoả đáng” [(11),47].
Ở Việt Nam hiện nay, tuy không phổ biến nhưng vẫn còn nhưng hủ tục
trong cưới hỏi như tảo hôn, đa thê, cưới xin tốn kém. Những hủ tục này đã bị
các hương ước cổ lên án và không cho phép làm. Do đó hương ước đã có
nhiều tác dụng trong việc bài trừ hủ tục, tệ nạn trong cưới xin. Đây là một
trong những yếu tố tiến bộ của hương ước cổ mà hương ước mới cần phải
phát huy.
2. Về tang lễ
Cái chết chính là sự khép lại một chu kỳ đời người: “Tang ma là việc
cuối đời” con người lại sống ở thế giới bên kia. Con người ta sinh ra, lớn lên,
trưởng thành già lão rồi qua đời là một quy luật tất yếu không thể tránh khỏi.
Nếu như người ta vui mừng bao nhiêu trước sự ra đời của con trẻ - một thành
Bài tập lớn Trần Thị Bích Ngọc - K55A
Lịch sử
viên mới, thì người ta lại đau khổ bao nhiêu trước sự ra đi vĩnh viễn của một
người thân. Trong hương ước của làng xã Việt Nam cũng có những điều ước
5. Tang chủ chỉ đãi những người hộ lễ và những người giúp
việc chứ không được mở tiệc mời làng (điều 108).
6. Trước khi chưa chôn, dân làng chỉ dùng hương hảo đến
thăm mà thôi (điều 109).
7. Hàng giáp đưa ma mà giả nghĩa lẫn nhau, chính phận
mình phải làm, trừ những người vắng nhà còn phải đi tất cả (điều 111).
8. Dù người trong giáo hay người ngoài làng cũng vậy, khi
yên táng xong rồi thời chào tang chủ ở ngay ngoài mộ địa rồi đâu về
đấy không nên về nhà uống, ăn (điều 115).
9. Làng chỉ được đem những món tiền ấy làm những việc
ích lợi chung cả làng”(điều 117) [(17),285].
Hương ước Phú Thanh (Nghệ An) quy định: “Sự tống táng, hễ người
nào có xin làng xóm đến đưa ma thì chỉ dùng trầu rượu mà thôi, còn như cỗ
bàn thì tuỳ tâm, không được yêu sách gì cả, nếu ai có yêu sách thì xóm làng
bắt phạt” [(11),46].
Cũng như các hương ước ở đồng bằng Bắc Bộ, hương ước Thừa Thiên
toát lên tinh thần “tùy gia phong kiệm” trên cơ sở đảm bảo lễ nghi, tuân thủ
tôn ti, trật tự theo điển chế phong kiến. Hương ước Phong Lai (Quảng Điền,
Huế) nhấn mạnh “tương tuất tương trợ”.
Quy định lễ tang ở làng Lễ Khê (Hương Trà, Huế) có sự phân biệt
quan và dân. Các lễ điện, lễ tế thì quan viên được dùng bò, còn thứ dân chỉ
dùng heo xôi, mỗi thứ một lễ, theo phương châm “phải kiệm ước, không
được xa xỉ”. Việc đi điếu ở làng Phong Lai thể hiện rõ thứ bậc xã hội “trọng
quan”, “trọng lão”, “trọng người có công”. Dân chủ hơn, lệ làng Thế Lại
Thượng (Phú Vang, Huế) quy định chi tiết: quan Tiên chỉ có bức trướng,
mâm cau rượu; còn lại được phân định có công lao khó nhọc thì một đôi liễn
đối bằng vải trắng và mâm trầu rượu, còn không chỉ mâm trầu rượu. Ở làng
Lễ Khê, “những người có công đức” (cúng ruộng đất, vật hạng, tiền bạc cho
Bài tập lớn Trần Thị Bích Ngọc - K55A
Lịch sử
Lịch sử
điều đó tùy thuộc việc xem ngày giờ tốt, sao cho không làm phương hại đến
cháu con, làng xóm. Hương ước Lễ Khê phân định: Người chết do các bệnh
dịch, chỉ nên để trong nhà một ngày; còn lại được một tuần, quá hạn sẽ bị
phạt và ghi tên vào Sổ răn ác.
Nghĩa địa thuộc vào hàng “cấm địa” của làng, không được lẫn lộn, lấn
chiếm. Ở làng Lễ Khê, chôn cất phải đúng nơi quy định, cấm lấy ruộng đất
công, hoặc lấn của người khác, nếu vi phạm sẽ bị phạt và bắt đổi chỗ. Làng
An Gia cũng vậy, phải chôn trong khu nghĩa địa và một số nơi ở ruộng Đồng
Khe, Đường Nước nhưng phải trình xin làng. Cấm chôn ở những nơi khác.
Một số hương ước cổ có những quy định phân biệt đối xử đối với
những người sinh thời hành vi làm trái khoán ước, làm mất danh dự của làng
xóm. Ví dụ những quan chức làng xã, những quan chức hàng xã, những tộc
biểu lợi dụng chức vụ, tham ô tài sản của công, những người đi thực hiện
nghĩa vụ mà trốn lính, những kẻ trộm cướp…thì khi chết không được hội
đồng tộc biểu và dân làng đến đưa ma. Chết mà không được làng xóm đi đưa
là một tủi nhục lớn cho gia đình. Điều này có tác dụng dăn đe rất hiệu
nghiệm. Nhưng có lẽ nhận thấy hình phạt này là hơi quá đáng nên nhiều
hương ước đã bỏ đi. Có những hương ước quy định: “Nghĩa tử là nghĩa tận.
Lúc có người trong thôn, trong giáp mất đi thì mọi người trong giáp, trong
xóm đều phả đi đưa ma, không nên điều này tiếng nọ với người quá cố”.
Điều quy định này của hương ước lại trở thành một nếp sống đẹp, một mĩ tục
cần khuyến khích trong xã hội hiện nay.
Theo quan niệm dân gian, tang ma là nấc thang cuối cùng của con người
với các thế giới. Tuân thủ, đảm bảo nghi lễ nhưng không “lấn lễ”: không khoa
trương lãng phí, không làm rối loạn trật tự xã hội , làm cho mọi người tự giác
thực hiện. Đó chính là vai trò của hương ước trong việc điều hành đời sống lễ
nghi cộng đồng, đặc biệt là trong vấn đề đầy phức tạp, tế nhị này.
Nói hương ước là nói lệ luật trong làng đối với việc tống táng tang ma
là luật tục nên cũng có lí có tình, không phải làng nào cũng như làng nào và