ĐI HC QUC GIA H NI
TRƯNG ĐI HC KHOA HC X HI V NHÂN VĂN
PHAN V THU TÂM KHAI THÁC CÁC GIÁ TRỊ VĂN HA NGHỆ THUẬT
CA ĐN CA TI TỬ NAM B - VIỆT NAM
PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH
KHAI THÁC CÁC GIÁ TRỊ VĂN HA NGHỆ THUẬT
CA ĐN CA TI TỬ NAM B - VIỆT NAM
PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH
Chuyên ngnh: Du lịch học
(Chương trnh đo to th đim)
Luận văn Thạc sĩ Du lịch học NGƯI HƯNG DN KHOA HC: TS. DƯƠNG VĂN SU
Hà Nội, 2014
1
MỤC LỤC
1.5.2. Nhạc cải lương 38
1.6. Nhị thập huyền tổ bản (20 bản tổ) của nhạc ti tử 42
Tiểu kết 43
2
Chương 2 44
THỰC TRNG KHAI THÁC CÁC GIÁ TRỊ CA NGHỆ THUẬT ĐN
CA TI TỬ NAM B PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH 44
2.1. Khái quát thực trạng đi sống văn hóa của cư dân đồng bằng Nam
Bộ 44
2.1.1. Đông Nam Bộ 44
2.1.2. Tây Nam Bộ 46
2.2. Vai trò, tầm quan trọng của đn ca ti tử Nam Bộ 53
2.2.1. Đờn ca tài tử trong đời sống xã hội của người dân Nam Bộ 53
2.2.1.1. Đờn ca tài tử Nam Bộ vùng nông thôn và thành thị 53
2.2.1.2. Đờn ca tài tử trong sự nghiệp bảo vệ quê hương, đất nước 55
2.2.1.3. Mối liên hệ giữa các nhóm đờn ca tài tử Nam Bộ thành thị và nông
thôn 56
2.2.2. Đờn ca tài tử trong kho tàng di sản văn hóa phi vật thể Việt Nam 57
2.2.3. Đờn ca tài tử trong hoạt động du lịch 66
2.3. Việc tổ chức khai thác các giá trị văn hóa nghệ thuật của đn ca ti
tử: 69
2.3.1. Đờn ca tài tử trong đời sống văn hóa – xã hội của ngành Văn hóa, Thể thao và
Du lịch 69
2.3.2. Các doanh nghiệp khai thác các giá trị của đờn ca tài tử Nam Bộ vào trong
hoạt động du lịch 74
2.4. Đánh giá những thuận lợi v khó khăn khi khai thác nghệ thuật đn
ca ti tử Nam Bộ phục vụ phát triển du lịch 78
2.4.1. Những thuận lợi cơ bản 78
tài tử phc v du lịch 94
3.2.4. Đào tạo nguồn nhân lực phc v phát triển du lịch 96
3.2.4.1. Đội ngũ nghệ sĩ biểu diễn 96
3.2.4.2. Những người khai thác văn hóa, kinh doanh du lịch 100
3.2.5. Nghiên cứu, phát triển các làn điệu và nội dung của các bài bản gắn với việc
bảo tồn, khai thác và phát triển loại hình đờn ca tài tử 101
3.2.6. Xây dựng các sản phẩm du lịch văn hóa đặc thù từ đờn ca tài tử 103
3.2.7. Đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền quảng bá, xúc tiến du lịch văn hóa gắn
với các tuyến điểm có tổ chức đờn ca tài tử 106
3.2.8. Tổ chức liên kết, phối hợp hoạt động giữa các cơ quan trong ngành văn hóa và
du lịch trong khai thác đờn ca tài tử 110
3.2.9. Các giải pháp bổ trợ khác. 112
3.3. Kiến nghị 113
3.3.1. Đối với UBND các tỉnh, thành phố có hoạt động đờn ca tài tử 113
3.3.2. Đối với Sở văn hóa, thể thao và du lịch các tỉnh, thành có hoạt động đờn ca tài
tử 114
3.3.3. Đối với doanh nghiệp kinh doanh du lịch 116
Tiểu kết 117
KẾT LUẬN 118
TI LIỆU THAM KHẢO 120 4
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1
APA
Asian - Pacific Alliance
Liên minh Châu Á - Thái Bình Dương
2
12
QĐ-BVHTTDL
Quyết định - Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
13
QĐ-TTg
Quyết định - Thủ tướng
14
QĐ-UBND
Quyết định - Ủy ban nhân dân
15
TP
Thành phố
16
TP.HCM
Thành phố Hồ Chí Minh
17
TT-BVHTTDL
Thông tư - Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
18
UBND
Ủy ban nhân dân
19
UBND-VX
Ủy ban nhân dân – Văn xã
20
UNDP
United Nations Development Programme
Chương trình phát triển của Liên Hiệp Quốc
21
UNESCO
ngôn ngữ đặc thù của mình: Giai điệu, nhịp điệu, tính chất chặt chẽ về tiết tấu,
sự hài hòa về âm thanh đã giúp mang lại cảm xúc êm dịu, thoải mái, tạo sự phấn
khởi trong tinh thần, giúp con người sống thân thiện, hòa nhã, giáo dc con
người sống tốt hơn.
Hiện nay ở Việt Nam có rất ít đề tài nghiên cứu chuyên sâu về loại hình
nghệ thật đờn ca tài tử Nam Bộ mặc dù ở nhiều địa phương trong khu vực Đồng
bằng sông Cửu Long có các đội, nhóm, câu lạc bộ đờn ca tài tử sinh hoạt định
kỳ mỗi tuần, mỗi tháng. Đề tài nghiên cứu sẽ cung cấp một phần tài liệu cho
việc nghiên cứu về nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ giúp thế hệ trẻ thêm yêu
mến, trân trọng, giữ gìn văn hóa của dân tộc. Bên cạnh đó, đề tài cũng đưa ra
những hướng đi mới trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống của
đờn ca tài tử phc v cho việc phát triển du lịch, thúc đẩy nền kinh tế của Nam
Bộ nói riêng và Việt Nam nói chung.
Đờn ca tài tử Nam Bộ được giới thiệu đến UNESCO từ những năm 1960
mà người có công lao to lớn trong việc đưa loại hình âm nhạc này đến với bạn
bè thế giới là Giáo sư Trần Văn Khê. Năm 1963 Giáo sư đã nhờ nhạc sĩ Nguyễn
Hữu Ba thu một đĩa đờn ca tài tử để giới thiệu với UNESCO. Một đĩa tương tự
đã được thực hiện vào năm 1972 với phần trình tấu của GS.TS Trần Văn Khê
và nhạc sư Vĩnh Bảo. Ngoài ra, Cocora Radio France - một cơ quan truyền thông
của Pháp - đã mời ông cùng ông Vĩnh Bảo (năm 1972) và nghệ sĩ đàn tranh Hải
Phượng (năm 1994) ghi âm hai đĩa Ðờn ca tài tử khác và cả hai đĩa này đều nằm
trong danh sách đĩa nhạc bán chạy nhất nước Pháp, được nhận giải Phê bình âm
nhạc vào năm phát hành. Các bộ đĩa thu Đờn ca tài tử theo lời mời của UNESCO
của các ông vẫn được lưu trong kho lưu trữ âm nhạc dân tộc của tổ chức này.
Bấy nhiêu cũng đủ để thấy nghệ thuật Đờn ca tài tử không chỉ được người Việt
Nam yêu mến mà cả những người nước ngoài tại các nước trên thế giới từ lâu
7
đã biết đến và quý trọng vốn nghệ thuật vừa bình dân vừa cao quý này. Còn hiện
Oán, Ngự; phần 2 ghi lại các buổi sinh hoạt câu lạc bộ, các bài ca, sưu tầm,
nghiên cứu liên quan đến nhạc tài tử.
Nhìn chung, tuy có nhiều công trình nghiên cứu về các bài bản, các tác
giả, tác phẩm, các nhân vật có công trong việc xây dựng và phát triển nghệ thuật
Đờn ca tài tử Nam Bộ nhưng chưa có công trình khoa học nào công bố công
trình nghiên cứu khai thác các giá trị của nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ phc
v phát triển du lịch ở Việt Nam.
3. Mục đích nghiên cứu
- Mục đch:
Tìm hiểu các giá trị văn hóa nghệ thuật của đờn ca tài tử Nam Bộ và đưa
nghệ thuật âm nhạc dân tộc đặc sắc này vào hoạt động du lịch, giúp phát triển
du lịch tại các địa phương có đờn ca tài tử.
- Nhiệm vụ:
+ Tổng hợp cơ sở lý luận và thực tiễn về Đờn ca tài tử Nam Bộ.
+ Khảo sát, thu thập thông tin, tài liệu về tiềm năng và thực trạng của
Đờn ca tài tử Nam Bộ.
+ Phân tích, đánh giá thực trạng khai thác các giá trị của nghệ thuật Đờn
ca tài tử Nam Bộ.
+ Đưa ra những định hướng và giải pháp khai thác các giá trị của nghệ
thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ phc v phát triển du lịch.
4. Đối tượng v phạm vi nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu ứng dng những giá trị văn hóa nghệ thuật của đờn
ca tài tử ở các tỉnh Tây Ninh, TP. Hồ Chí Minh, Tiền Giang, Bến Tre, Kiên
Giang và Bạc Liêu để đưa vào khai thác kinh doanh du lịch tại Nam Bộ.
Về nội dung: Đề tài gồm có những vấn đề chính sau:
- Tìm hiểu tình hình thực tế của hoạt động khai thác kinh doanh du lịch
dựa vào nghệ thuật Đàn ca tài tử.
- Đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả khai thác kinh doanh
du lịch dựa vào nghệ thuật Đàn ca tài tử.
nhìn văn hóa, ưu tiên phát triển du lịch dựa vào văn hóa nhưng không làm mất
đi bản sắc văn hóa của dân tộc.
10
- Phương pháp khảo sát thực tế: Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã
nhiều lần đến các địa phương có liên quan để khảo sát, tham dự các buổi liên
hoan, sinh hoạt đờn ca tài tử của các đội, nhóm, câu lạc bộ đờn ca tài tử ở các
địa phương như Tiền Giang, Bến Tre, Cần Thơ, Hậu Giang, Bạc Liêu…
6. Những đóng góp của luận văn
- Cung cấp một phần tài liệu cho việc nghiên cứu về nghệ thuật Đàn ca
tài tử giúp thế hệ trẻ thêm yêu mến, trân trọng, giữ gìn vốn cổ của dân tộc.
- Tìm hiểu tình hình thực tế của hoạt động khai thác kinh doanh du lịch
dựa vào nghệ thuật Đờn ca tài tử.
- Đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả khai thác kinh doanh
du lịch dựa vào nghệ thuật Đàn ca tài tử.
- Khả năng ứng dng trong thực tiễn: Xây dựng tuyến du lịch về chương
trình tham quan và xem biểu diễn nghệ thuật Đàn ca tài tử tại các tỉnh Đồng
bằng sông Cửu Long.
7. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mc đề tài, tài liệu tham khảo, ph
lc, cấu trúc đề tài gồm có 3 chương:
- Chương 1: Tìm hiểu chung về nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ.
- Chương 2: Thực trạng khai thác các giá trị văn hóa của nghệ thuật Đờn
ca tài tử Nam Bộ - Việt Nam phc v phát triển du lịch.
- Chương 3: Một số giải pháp nhằm khai thác các giá trị văn hóa của
nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ - Việt Nam phc v phát triển du lịch. 11
12
lớp đào tạo chính quy, truyền dạy theo hình thức truyền nghề truyền thống “cầm
tay chỉ việc” (cả đàn và ca), những người truyền nghề đó thường là các bậc nghệ
nhân. Đờn ca tài tử Nam Bộ rất gần gũi với cuộc sống của con người, nó vừa
biểu hiện được tính giao tiếp, vừa là tính tiêu khiển, diễn ra ở bất cứ nơi nào,
hoàn cảnh nào, không phân biệt sang – hèn – địa vị xã hội, có lúc nhàn rỗi “trà
dư, tửu hậu”, có lúc trang trọng, trang nghiêm trong lễ hội, đám tiệc trang trọng
quý phái… nhưng khi vào cuộc chơi thì người chơi thường chơi hết mình, say
sưa vô điều kiện và những “tài tử, giai nhân” khi đã nhập cuộc thì họ dường như
quên cả sự đời, chỉ biết gửi trọn hồn vào cuộc chơi. Diễn tấu, đờn ca chuẩn mực,
đúng bài bản, đúng điệu thức, đúng nhịp, đúng câu, đúng lớp cùng lúc như đã
hẹn, có thể gọi là đồng điệu “tâm đầu, ý hợp”.
Đờn ca tài tử Nam Bộ là một bộ phận trong nền văn hóa dân gian Nam
Bộ, phản ánh được tình cảm của con người với con người, con người với thiên
nhiên, với hoàn cảnh lịch sử của từng giai đoạn, được biểu hiện bằng những
điệu thức âm nhạc, lời ca, do các nghệ nhân, nghệ sĩ sáng tạo nên, rồi truyền
nghề từ thế hệ này sang thế hệ khác.
1.1.3. Nguồn gốc
Từ trước đến nay có một số nhà nghiên cứu đã nghiên cứu loại hình đàn
ca tài tử Nam bộ, nhất là tìm tư liệu để chứng minh ai là người có công đã sáng
tác ra dòng nhạc tài tử Nam Bộ, nhưng vẫn chưa có kết luận nào đáng tin cậy,
kể cả các cuộc hội thảo về nghệ nhân Nguyễn Quang Đại (ba Đợi) với nhạc lễ,
nhạc tài tử Nam Bộ do Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Long An tổ chức vào tháng
3 năm 1996.
Theo như phủ tự họ Nguyễn Nhữ thì ông Nguyễn Quang Đại (Ba Đợi)
thuộc dòng dõi họ Nguyễn Nhữ ở Hải Quế ngày nay. Ông sinh năm Mậu Ngọ
1858, ông là quan nhạc của triều đình thời Nguyễn, được triều đình trọng dng
dưới thời Tự Đức (1848 – 1883) và Hàm Nghi (1844 – 1885)
xàng.
Ú cách quãng tám với chữ XỰ
LIU cách quãng tám với chữ HÒ, còn gọi là CÒNG
XÊ cách quãng tám với chữ XÊ, còn có chữ XỀ, XỄ
14
XANG cách quãng tám với chữ XNG, còn có chữ XNG
Nếu dùng nhạc theo thang âm từ trên xuống và từ dưới lên thì tùy thuộc
chữ nhạc, nhưng có đôi khi bỏ dấu khác nhau.
Ví d: Thang âm từ trên xuống: LIU CNG XÊ XÀNG
Thang âm từ dưới lên: XỀ LIU
Nhạc tài tử Nam Bộ khoản 136 bài bản, nhưng chủ yếu vẫn là 20 bài bản
chính (còn gọi là 20 bài tổ) và một số bài bản ph. Bao gồm: 3 Nam, 6 Bắc, 7
Bài, 4 Oán:
Ba Nam: Nam Xuân, Nam Ai, Nam Đảo (Đảo ngũ cung).
Sáu Bắc: Lưu Thủy Trường, Phú Lc, Bình Bán, Cổ Bản, Xuân Tình,
Tây Thi.
Bảy Bài: Xàng Xê, Ngũ Đối Thượng, Ngũ Đối Hạ, Long Đăng, Long
Ngâm, Vạn Giá, Tiểu Khúc.
Bốn Oán: Tứ Đại Oán, Cửu Khúc Giang Nam, Phng Cầu, Phng Hoàng.
Ngoài ra còn có các bài Oán Ph (Cải biên): Bình Sa Lạc Nhạn, Thanh
Dạ Đề Uyên, Cung Thềm Ly Oán, Xuân Nữ, Ngươn Tiêu Hội Oán, Võ Văn Hội
Oán và còn nhiều oán nhỏ khác.
Đặc biệt về sau này, còn phát triển nhiều bài, bản ngắn theo hơi điệu
quãng như: Sương Chiều, Tú Anh, Khóc Hoàng Thiên, Sái Phi, Tân Sái Phi,
Phong Ba Đình, Xang Xừ Líu, Liễu Thuận Nương… (Ông Mộng Vân – quê ở
Bạc Liêu có công lớn trong dòng nhạc này).
Mỗi bài bản trong 20 bản tổ của dòng nhạc tài tử Nam Bộ đều phân chia
ra nhiều lớp, thường gọi là lớp 1, lớp 2, lớp 3, lớp 4… Hoặc còn gọi là lớp HÒ,
Nhà Nguyễn lên ngôi, kinh đô đặt ở miền Trung. Các thể chế chính trị,
xã hội và văn hóa nghệ thuận, trong đó có âm nhạc – đặc biệt là nhạc lễ, của
triều đại này có ảnh hưởng không nhỏ tới cả nước, đặc biệt là vùng đất phía
Nam – nơi mà những ảnh hưởng của họ Nguyễn đã hiện diện từ trước đó trên
hai trăm năm khi các chúa Nguyễn cát cứ ở Đàng Trong.
Nửa cuối thế kỉ XIX
16
Thực dân Pháp tiến hành cuộc xâm lăng nước ta. Dân tộc Việt Nam rơi
vào cảnh nước sôi lửa bỏng – chiến tranh, đàn áp, chết chóc và sự áp bức bóc
lột tàn khốc khiến cho cả dân tộc phải rên xiết, khổ đau và căm thù chất chồng.
Trớ trêu thay, chính trong hoàn cảnh đó Đờn ca tài tử lại nảy sinh và chẳng bao
lâu sau khi chào đời nó đã phải cất lên tiếng khóc đau đớn và căm hận quân xâm
lược, nhắc nhở người dân chớ quên nỗi đau mất nước, đồng thời kiên cường
chống chọi với những trào lưu nghệ thuật, âm nhạc mới từ phương Tây tràn vào
cùng những khuynh hướng “Tây phương hóa” ngay trong nước để bảo tồn quốc
hồn quốc túy của dân tộc.
Trở lại bối cảnh của nửa cuối thế kỉ XIX. Trong cơn quốc nạn, cùng với
sự lung lay nghiêm trong của vương triều nhà Nguyễn, ca nhạc cung đình cùng
những thú vui của hoàng gia cũng suy tàn dần. Thể loại nhạc thính phòng của
các ông hoàng bà chúa nhà Nguyễn – Đờn Huế và ca Huế đã theo các nghệ nhân
cung đình truyền ra ngoài dân, rồi phát tán đi các nơi. Một trong những dòng
chảy của nó đã xuôi về phía Nam, qua đất Quảng, vào sau tới tận Nam Bộ. Thể
loại nhạc này tuy không phải là cội nguồn trực tiếp đặt nền móng đầu tiên cho
sự hình thành phong trào Đờn ca tài tử ở Nam Bộ, nhưng là một trong những
tác nhân góp thêm động lực và có sự ảnh hưởng quan trọng tới hướng phát triển
của Đờn ca tài tử Nam Bộ.
Sự giao lưu và thi đua giữa các môn phái tài tử miền Đông và miền Tây
lúc bấy giờ đã góp phần quan trọng vào sự phát triển của đờn ca tài tử - chẳng
Chặng đường này tuy dài và trải qua nhiều bước thăng trầm, nhung về
cơ bản không có những bước chuyển đột biến lớn lao như ở giai đoạn trước.
Trong suốt chặng đường trên nửa thế kỉ ấy, đờn ca tài tử phải đối mặt với những
thách thức mới: sự bành trướng và sức hấp dẫn mãnh liệt của hát cải lương, và
sau đó chẳng bao lâu là của tân nhạc (nhạc mới) Việt Nam. Bên cạnh đó là
những trào lưu văn hóa nghệ thuật Âu Mỹ vẫn tiếp tc xâm nhập và ảnh hưởng
không nhỏ tới tập quán, lối sống, thị hiếu của người dân.
Trong bối cảnh đó, ngay cả thể loại kịch hát “vua” cũng đã phải nhiều
phen chao đảo và dần bị lai tạp – khi Tàu, khi Tây. Tuy nhiên, bất chấp tất cả,
đờn ca tài tử vẫn tiếp tc con đường của mình: thích ứng với thời đại, sẵn sàng
18
tiếp nhận cái mới để phát triển, nhưng kiên cường gìn giữ bản sắc cố hữu của
mình. Nó tồn tại song song dưới cả hai hình thức – sinh hoạt thính phòng tri kỷ
như thuở xữa và những hình thức trình diễn mới: trên sân khấu – trước đông
đảo công chúng, hoặc tách biệt hẳn với công chúng qua phương thức thu – phát
trên các phương tiện truyền thông mới du nhập và các đĩa hát Đáng nể hơn
nữa, nó đã không bị những hình thức hát mới thay thế hoặc làm li tàn. Trái lại,
đờn ca tài tử còn tiếp tc làm chổ dựa vững chắc và là nguồn hỗ trợ đắc lực cho
sự phát triển của sân khấu cải lương.
Trên thực tế, nhiều nghệ sĩ thời đó vừa là thành viên những ban, nhóm
tài tử, vừa tham gia diễn cho các gánh cải lương. Lễ giỗ tổ cổ nhạc không có sự
phân biệt người của giới tài tử hay của giới cải lương. Tuy nhiên, giữ được
nghiêm ngặt nhất những nét tinh tế và các tinh hoa của cổ nhạc vẫn là lối đờn
ca tài tử. Nghệ sĩ Bảy Nhiêu đã có nhận xét: “Ca hát trên sân khấu dễ dàng hơn
ca tài tử”. Còn về phần đờn, nhà nghiên cứu Đắc Nhân đánh giá: “ kỹ thuật biểu
diễn bài bản nhạc của các dàn nhạc tài tử ất là tế nhị so với lối biểu diễn trên
sân khấu và có một sức hấp dẫn kỳ diệu”. Bởi vậy, trở nên dễ hiểu là đờn ca tài
tử không những tiếp tc là “lò” đào tạo nhiều danh ca, danh cầm cho chính
đó.
Cũng không thể quên nhắc nhớ rằng, sự phát triển của phong trào đờn ca
tài tử và hát cải lương không chỉ tạo động lực cho sự phát triển của nghệ thuật
đờn, ca và sáng tác, mà còn tạo đà cho cả nghề làm đàn cũng như việc nghiên
cứu biên soạn các sách về cổ nhạc. Thành của của hoạt động này trổ bông kết
trái với những công trình suy tầm, biên soạn và nghiên cứu được xuất bản trong
những thập niên 50 – 60 ở miền Nam của Trịnh Thiên Tư (ca nhạc cổ điển), Võ
Tấn Hưng (Cổ nhạc tầm nguyên), nhóm nhạc sĩ Hậu Giang (Nhạc cổ điển Việt
Nam), Lê Văn Tiến (Hướng dẫn sử dng một số nhạc c dân tộc qua bài bản
Cải lương), Đắc Nhẫn – Ngọc Thới (Bài bản cải lương) ở miền Bắc – dẫu bàn
về âm nhạc cải lương, song cũng đã đem lại cho công chúng nhiều hiểu biết sau
hơn về cổ nhạc Nam bộ. Đó là chưa kể nhiều bài viết rất có giá trị trên các báo
và tạp chí
20
Cùng với cải lương, giới tài tử cũng đã rất nhanh nhạy trong việc tiếp
nhận thể nghiệm nhiều nhạc c mới của phương Tây như violon, mandoline,
guitare và Việt hóa chúng để trình diễn cổ nhạc. Tuy nhiên, không xô bồ như
sân khấu cải lương, giới tài tử đã tiếp thu những nhạc c này một cách có chọn
lọc. Thành công nhất là đàn guitare Tây Ban Nha khoét lõm phím với cái tên
nhập tịch “làng” cổ nhạc – “lc huyền cầm”, và violon với cái tên “vĩ cầm” cùng
những cách lên dây riêng. Chúng bổ sung cho dàn đờn ca cổ nhạc những âm
hưởng mới mẻ mà không làm mất chất cố hữu của thể loại ca nhạc cổ truyền
này.
Ở nửa sau thế kỉ XX – tuy có phần giảm sút hơn trước, song phong trào
sáng tác và nghiên cứu cổ nhạc vẫn tiếp diễn. Những tìm tòi nghiên cứu để áp
dng Âm – Dương ngũ hành vào sáng tác và bản Ngũ châu minh Phổ chào đời
năm 1979 của nhạc sư Nguyễn Văn Thinh ở miền Đông trong sự đăng đối với
Tứ bửu Liên thành của nhạc sư Lê Tài Khí (Nhạc Khị) ở miền Tây thuở trước,
thì được một âm cao hơn âm gốc một quãng 5 đúng. Cũng khoảng thời gian này,
tại Trung Quốc, Quản Tử đã thực hiện như trên với các ống hơi và cũng thu
được kết qủa tương tự. Ông nêu quy tắc nổi tiếng: Chia ba, bớt một, thêm một.
Hai cách làm trên đều cho ta một loại thang âm trong đó các nốt nhạc được liên
tiếp chồng theo quãng 5 đúng tự nhiên:
a) Lấy Do (C) làm âm khởi đầu và với tỷ tần bằng 1 = 0,000 xen, ta có:
f c g d
1
a
1
e
2
h
2
2
3
1
3
2
(
3
2
)
2
(
3
2
27
16
243
128
2
Xen: 0 203,910 407,820 498,045 701,955 905,865 1109,775 1200
c) Khoảng cách giữa các bậc:
c d e f g a h c
1Tỷ tần:
9
8
9
8
256
243
9
8
9
8
Phan = (2
6/7
x 16/9
1/2
= 1.79453359 = 1012.331 cents
Khác với các bài bản thuộc điệu Bắc mà thang âm của chúng có thể quy
về cùng một dạng cơ bản, thang âm của các bài bản thuộc các hơi trong điệu
Nam không thể làm như vậy vì chúng không giống nhau.
Thang âm quá dộ Xuân: Sự thâm nhập đầu tiên của thang bồi âm vào
thang bảy bậc chia 6đều xảy ra ở âm quãng năm trên âm cơ bản, tức bồi âm số
12. Âm này đã chia quãng tám thành hai phần không bằng nhau, do đó sự chia
đều chỉ có thể xảy ra trong nội bộ từng phần (quãng 5 đúng và quãng 4 đúng)
Thang âm Xuân: Để có màu sắc tươi tắn hơn, tạo được những giai điều
nhẹ nhàng, sảng khoái và nghiêm trang của hơi Xuân, người ta đẩy âm Xừ cao
ngang với bồi âm số 10 và hạ thấp Xang bằng cách “mượn” âm Xang ở thang
bảy bậc chia đều. Đồng thời nâng cao hai bậc Xự, Cống để chúng có cao độ
đứng giữa Xự, Cống của thang âm quá đô Xuân và thang âm Bắc:
Xự = [(3/2)
1/4
x 9/8]
1/2
= 1.11580337 = 198.699 cents
23
Bảng 1.2. Thang âm Xuân
Bảng 1.3. Thang âm quá độ Ai
Công = [3/2(4/3)
1/3
x 27/16]