ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NÔNG VĂN TOÀN
“NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ PHÂN BỐ
CỦA LOÀI MÃ TIỀN LÔNG (STRYCHNOSIGNATII BERG)
TẠI VƯỜN QUỐC GIA BA BỂ, HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành
: Quản lí tài nguyên rừng
Khoa
: Lâm nghiệp
Khóa học
: 2011 - 2015
THÁI NGUYÊN – 2015
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NÔNG VĂN TOÀN
“NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ PHÂN BỐ
CỦA LOÀI MÃ TIỀN LÔNG (STRYCHNOSIGNATII BERG)
TẠI VƯỜN QUỐC GIA BA BỂ, HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành
: Quản lí tài nguyên rừng
Khoa
: Lâm nghiệp
Khóa học
: 2011 - 2015
Giảng viên hướng dẫn : Ths.Trần Thị Hương Giang
THÁI NGUYÊN – 2015
LỜI CẢM ƠN
Trong các trường Đại học, thời gian thực tập tốt nghiệp là khoảng thời
gian rất quan trọng vì mỗi sinh viên đều có điều kiện, thời gian tiếp cận đi sâu
Bảng 2.5. Diện tích, năng suất và sản lượng một số cây trồng chính huyện Ba
Bể năm 2010 ................................................................................... 22
Bảng 2.6. Tình hình sản xuất của ngành chăn nuôi huyện Ba Bể .................. 23
Bảng 3.1. Các tuyến điều tra đã khảo sát tại VQG Ba Bể .............................. 27
Bảng 4.1. Kích thước cây Mã tiền lông tại VQG Ba Bể, Tỉnh Bắc Kạn ........ 35
Bảng 4.2. Bảng số liệu đo độ dốc các OTC .................................................... 36
Bảng 4.3. Đặc điểm cơ bản về cấu trúc quần xã thực vật rừng nơi loài Mã tiền
lông phân bố ở đai độ cao dưới 500m ............................................ 38
Bảng 4.4. Cấu trúc tổ thành tầng cây gỗ nơi Mã tiền lông phân bố ở đai độ
cao dưới 500m................................................................................. 39
Bảng 4.5. đặc điểm cơ bản về cấu trúc quần xã thực vật rừng nơi loài Mã tiền
lông phân bố ở đai độ cao từ 500m -1000m ................................... 40
Bảng 4.6. Cấu trúc tổ thành tầng cây gỗ nơi Mã tiền lông phân bố ở đai độ
cao từ 500m – 1000m ..................................................................... 41
Bảng 4.7. Mật độ lâm phần của tầng cây cao ................................................. 42
Bảng 4.8. Thành phần các loài cây gỗ đi kèm với Mã tiền lông .................... 43
Bảng 4.9. Đặc điểm cây bụi thảm tươi và dây leo tại khu vực nghiên cứu .... 43
Bảng 4.10. Cấu trúc tổ thành và mật độ cây tái sinh nơi có loài Mã tiền lông
phân bố ở độ cao dưới 500m........................................................... 46
Bảng 4.11. Cấu trúc tổ thành và mật độ cây tái sinh nơi có loài Mã tiền lông
phân bố ở độ cao từ 500 – 1000m................................................... 47
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1. Sơ đồ nghiên cứu tổng quát ............................................................ 26
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CTTT
Mã tiền lông
ODB
Ô dạng bản
OTC
Ô tiêu chuẩn
VQG
Vườn quốc gia
MỤC LỤC
Phần 1. PHẦN MỞ ĐẦU ................................................................................ 1
1.1. Đặt vấn đề ................................................................................................. 1
1.2. Mục đích nghiên cứu .............................................................................. 2
1.3. Mục tiêu nghiên cứu ............................................................................... 2
1.3.1. Về lý luận ......................................................................................... 2
1.3.2. Về thực tiễn ...................................................................................... 2
1.4. Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài ................................................................ 3
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập ....................................................................... 3
1.4.2. Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học ................................................. 3
1.4.3. Ý nghĩa thực tiễn .............................................................................. 3
PHẦN 2. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ..................................... 4
2.1. Cơ sở khoa học nghiên cứu .................................................................... 4
2.2. Tình hình nghiên cứu trên Thế giới và Việt nam. .................................. 5
năm 2015
NGƯỜI VIẾT CAM ĐOAN
Nông Văn Toàn
XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN CHẤM PHẢN BIỆN
Xác nhận sinh viên đã sửa theo yêu cầu
của hội đồng chấm Khóa luận tốt nghiệp!
1
Phần 1
PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Rừng có vai trò rất quan trọng không những cung cấp hàng hóa, lâm sản
đặc sản quý cho con người mà còn có tác dụng bảo vệ đất đai, chống xói mòn,
duy trì nguồn nước, điều hòa dòng chảy, chống lũ lụt. Rừng còn có tác dụng
điều hòa khí hậu, nhiệt độ, chống ô nhiễm môi trường, dự trữ tính đa dạng
sinh học, bảo vệ môi trường sinh thái và nhiều lợi ích văn hóa xã hội khác.
Tài nguyên rừng nước ta hiện nay đang bị tàn phá nghiêm trọng gây nên
không ít những hiểm họa về đời sống và môi trường của chúng ta, nguyên
nhân chính là chặt phá và khai thác rừng không hợp lý làm cho diện tích rừng
bị giảm đi nhanh chóng, chất lượng bị suy thoái và tạo nên những vùng đất
trống đồi trọc ngày càng rộng lớn gây ra ô nhiễm nguồn nước, suy thoái môi
trường sinh thái.
Bảo vệ và và phát triển rừng có vai trò rất quan trọng trong việc chống
biến đổi khí hậu và hạn chế các thiên tai của tự nhiên. Bên cạnh vấn đề trồng
rừng để phủ xanh đất trống đồi núi trọc. Chúng ta cần chú ý đến việc bảo tồn,
Berg) tại vườn quốc gia Ba Bể, Huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn” nhằm góp
phần nâng cao hiểu biết, đề xuất những hướng bảo tồn và phát triển loài cây
có triển vọng và hiếm này tại Vườn Quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Dựa trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm lâm học loài Mã tiền lông tại Vườn
quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn nhằm cung cấp thêm thông tin, cơ sở khoa học
để bảo tồn và phát triển loài cây Mã tiền lông.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
1.3.1. Về lý luận
Xác định được một số đặc điểm lâm học như: sinh thái, phân bố, hình
thái, cấu trúc, tái sinh của Mã tiền lông (Strychnos ignatii Berg) tại VQG Ba
Bể, tỉnh Bắc Kạn.
1.3.2. Về thực tiễn
- Nâng cao nhận thức của các nhà quản lý có cái nhìn tổng thể hơn về
công tác quản lý bảo vệ rừng tại khu vực nghiên cứu, từ đó có những điều
3
chỉnh hợp lý nhằm đem lại hiệu quả cao trong quản lý bảo vệ tài nguyên rừng.
- Xây dụng cơ sở khoa học đưa ra giải pháp bảo tồn và phát triển loài cây
Mã tiền lông (Strychnos ignatii Berg), nâng cao tính đa dạng sinh học.
- Cung cấp những thông tin nghiên cứu giúp mọi người hiểu biết thêm về
loài cây Mã tiền lông.
- Có được một tài liệu tham khảo cho một số công tác nghiên cứu về cây
Mã tiền lông (Strychnos ignatii Berg).
1.4. Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập
- Việc nghiên cứu đề tài có ý nghĩa to lớn trong việc áp dụng lý thuyết đã
học vào thực tiễn, đây là một phương pháp hệ thống củng cố những kiến thức
Việt Nam cũng công bố trong Sách đỏ Việt Nam năm 2007 [1] phần II Thực
vật để hướng dẫn, thúc đẩy công tác bảo vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên
phân chia ra các thứ hạng sau:
+ Bị tuyệt chủng: (EX)
+ Tuyệt chủng trong tự nhiên: (EW)
Nhóm các loài nguy cấp được chú trọng bảo vệ hàng đầu gồm các phân
hạng chính sau:
+ Cực kì nguy cấp: (CR)
+ Nguy cấp: (EN)
+ Sẽ nguy cấp: (VU)
Nhóm các loài ít nguy cấp
+ Ít nguy cấ: (LR)
- Phụ thuộc bảo tồn: (LR/cd)
- Sẽ bị đe dọa: (LR/nt)
- Ít quan tâm: Least Concern (LR/lc)
+ Thiếu dữ liệu: Data Deficient (DD)
+ Không đánh giá: Not Evaluated (NE)
5
Để bảo vệ và phát triển các loài Động thực vật quý hiếm Chính phủ đã
ban hành Nghị định số 32/2006/NĐ-CP [3]. Nghị định quy định các loài động
thực vật quý, hiếm gồm 2 nhóm chính:
+ IA,B Thực vật rừng, động vật rừng nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì
mục đích thương mại (IA đối với thực vật rừng).
+ IIA,B Thực vật rừng, động vật rừng hạn chế khai thác, sử dụng vì mục
đích thương mại (IIA đối với thực vật rừng).
Căn cứ vào phân cấp bảo tồn loài và ĐDSH tại VQG Ba Bể, tỉnh Bác
Kạn có nhiều loài động thực vật được xếp vào cấp bảo tồn CR, EN và VU cần
công tác lâm sinh hướng vào mục tiêu xây dựng và nâng cao vốn rừng về lượng
và chất.
Prodan (1952) nghiên cứu quy luật phân bố rừng, chủ yếu theo đường
kính D1.3 có liên hệ với giai đoạn phát dục và các biện pháp kinh doanh. Theo
tác giả, sự phân bố số cây theo đường kính có giá trị đặc trưng nhất cho rừng,
đặc biệt là rừng hỗn loại, nó phản ảnh các đặc điểm lâm sinh của rừng (dẫn
theo Trần Mạnh Cường, 2007). Phân bố cây rừng tư nhiên mà ông xác định
đã được kiểm chứng ở rất nhiều nơi trên thế giới. Đó là phân bố số cây theo
đường kính của rừng tự nhiên có một đỉnh lệch trái. Số cây tập trung nhiều ở
cấp đương kính nhỏ do có nhiều loài cây khác nhau và nhiều thế hệ cùng tồn
tại trong kiểu rừng. Nếu xét về một loài cây, do đặc tính sinh thái nên lớp cây
kế cận (cây nhỏ) bao giờ cũng nhiều hơn các lớp cây lớn do quy luật cạnh
tranh không gian dinh dưỡng và đào thải tự nhiên: những nơi thuận lợi trong
rừng cây mới vươn lên để tồn tại và phát triển.
- Nghiên cứu về khả năng tái sinh:
Tái sinh rừng là một quá trính sinh học mang tính đặc thù và diễn ra liên
tục của hệ sinh thái rừng. Sự xuất hiện của cây con của các loài cây đang phát
triển dưới tán rừng, lỗ trống trong rừng sau khai thác chọn, sau phát nương
làm rẫy. Vai trò quan trọng của lớp tái sinh này là nguồn thay thế lớp cây đã
già cỗi, là quá trình phục hồi thành phần cơ bản của rừng.
7
Theo quan điểm của các nhà lâm học thì hiệu quả tái sinh rừng là xác
định được mật độ tái sinh, chất lượng cây tái sinh (cây triển vọng), tổ thành
loài và phân bố của cây tái sinh…Sự tương đồng hay khác biệt trong tổ thành
của loài cây tái sinh với tổ thành loài cây gỗ đã được các nhà khoa học quan
tâm (Richards (1933, 1939); Baur (1976) [13]. Do tính phức tạp của tổ thành
loài cây, nên khi khảo sát người ta chỉ đo đếm, nghiên cứu các loài có giá trị
Quy luật về cấu trúc rừng: Là cơ sở quan trọng để nghiên cứu sinh thái
học, sinh thái rừng và đặc biệt là để xây dựng những mô hình lâm sinh cho
hiệu quả sản xuất cao. Trong nghiên cứu cấu trúc rừng người ta chia ra làm 3
dạng cấu trúc là: cấu trúc sinh thái, cấu trúc không gian và cấu trúc thời gian.
Cấu trúc của thảm thực vật là kết quả của quá trình đấu tranh sinh tồn giữa
thực vật với thực vật và giữa thực vật với hoàn cảnh sống. Trên quan điểm
sinh thái thì cấu trúc rừng chính là hình thức bên ngoài phản ánh nội dung bên
trong của hệ sinh thái rừng, thực tế cấu trúc rừng nó có tính quy luật và theo
trật tự của quần xã. Các nghiên cứu về cấu trúc sinh thái của rừng mưa nhiệt
đới đã được P. W. Richards (1952) [18], G. N. Baur (1976) [13], E. P. Odum
(1987) [17]… tiến hành. Những nghiên cứu này đã nêu lên quan điểm, các
khái niệm và mô tả định tính về tổ thành, dạng sống và tầng phiến của rừng.
G. N. Baur (1976) [13] đã nghiên cứu các vấn đề về cơ sở sinh thái nói chung
và về cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng nói riêng, trong đó đi sâu
nghiên Số hóa bởi Trung tâm cứu cấu trúc rừng, các kiểu xử lý về mặt lâm
sinh áp dụng cho rừng mưa tự nhiên.
Từ đó tác giả đưa ra các nguyên lý tác động xử lý lâm sinh cải thiện
rừng. P. Odum (1978) [17], đã hoàn chỉnh học thuyết về hệ sinh thái trên cơ
sở thuật ngữ hệ sinh thái (ecosystem) của Tansley (1935). Khái niệm sinh thái
được làm sáng tỏ là cơ sở để nghiên cứu các nhân tố cấu trúc trên quan điểm
sinh thái học. Công trình nghiên cứu của R. Catinot (1965) [14], J. Plaudy
(1987) [16], đã biểu diễn cấu trúc hình thái rừng bằng các phẫu đồ rừng,
LỜI CẢM ƠN
Trong các trường Đại học, thời gian thực tập tốt nghiệp là khoảng thời
gian rất quan trọng vì mỗi sinh viên đều có điều kiện, thời gian tiếp cận đi sâu
vào thực tế, củng cố lại kiến thức đã học, học hỏi kinh nghiệm, phương pháp
nghiên cứu, trau dồi kiến thức, kỹ năng của thực tế vào trong công việc.
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, được sự nhất trí của nhà trường
đặc trưng như cấu trúc và dạng sống, độ ưu thế, kết cấu hệ thực vật hoặc năng
suất thảm thực vật. Ngay từ đầu thế kỷ 19, Humboldt và Grinsebach đã sử
dụng dạng sinh trưởng của các loài cây ưu thế và kiểu môi trường sống của
chúng để biểu thị cho các nhóm thực vật. Phương pháp của Humboldt và
Grinsebach được các nhà sinh thái học Đan Mạch (Warming, 1094;
Raunkiaer, 1934) tiếp tục phát triển. Raunkiaer (1934) đã phân chia các loài
cây hình thành thảm thực vật thành các dạng sống và các phổ sinh học (phổ
sinh học là tỉ lệ phần trăm các loài cây trong quần xã có các dạng sống khác
nhau). Tuy nhiên, nhiều nhà sinh thái học cho rằng phân loại hình thái, các
phổ dạng sống của Raunkiaer kém ý nghĩa hơn các dạng sinh trưởng của
Humboldt và Grinsebach. Trong các loại rừng dựa theo cấu trúc và dạng sống
của thảm thực vật, phương pháp dựa vào hình thái bên ngoài của thảm thực
vật được sử dụng nhiều nhất.
Kraft (1884) lần đầu tiên đưa ra hệ thống phân cấp cây rừng, ông phân
chia cây rừng thành 5 cấp dựa vào khả năng sinh trưởng, kích thước và chất
lượng cây rừng. Phân cấp của Kraft phản ánh được tình hình phân hoá cây
rừng, tiêu chuẩn phân cấp rõ ràng, đơn giản và dễ áp dụng nhưng chỉ phù hợp
với rừng thuần loài đều tuổi. Việc phân cấp cây rừng cho rừng tự nhiên hỗn
loài nhiệt đới là một vấn đề phức tạp, cho đến nay vẫn chưa có tác giả nào
đưa ra phương án phân cấp cây rừng cho rừng nhiệt đới tự nhiên được chấp
nhận rộng rãi.
11
Như vậy, hầu hết các tác giả khi nghiên cứu về tầng thứ thường đưa ra
những nhận xét mang tính định tính, việc phân chia tầng thứ theo chiều cao mang
tính cơ giới nên chưa phản ánh được sự phân tầng của rừng tự nhiên nhiệt đới.
Tóm lại, trên thế giới các công trình nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc
rừng nói chung và rừng nhiệt đới nói riêng rất phong phú, có nhiều công trình
sinh tự nhiên phục hồi sau nương rẫy tại hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn đã
cho thấy khả năng tái sinh của thảm thực vật trên đất rừng còn nguyên trạng
có số lượng loài cây gỗ tái sinh nhiều nhất, chỉ số đa dạng loài của thảm cây
gỗ là khá cao.
Đối với hệ sinh thái rừng nhiệt đới ở Việt Nam, Thái Văn Trừng (2000)
[10], dựa vào sự ghép nối của 2 hệ thống phân loại: hệ thống phân loại đặc
điểm cấu trúc ngoại mạo làm tiêu chuẩn và hệ thống phân loại thảm thực vật
dựa trên yếu tố hệ thực vật làm tiêu chuẩn đã phân chia thảm thực vật Việt
Nam thành 5 nhóm kiểu thảm (gọi là 5 nhóm quần hệ) với 14 kiểu quần hệ
(gọi là 14 quần hệ). Mặc dù còn một số điểm cần bàn luận và chỉnh lý bổ sung
thêm nhưng bảng phân loại thảm thực vật Việt Nam của Thái Văn Trừng từ
bậc quần hệ trở lên gần phù hợp với hệ thống phân loại của UNESCO (1973).
Trần ngũ phương (1970) [8], khi đề cập đến rừng ở Miền Bắc Việt Nam
đã xếp rừng trên núi đá vôi vào đai rừng nhiệt đới mưa mùa với kiểu rừng nhiệt
đới lá rộng thường xanh núi đá vôi, và có 4 kiểu phụ: Thổ nhưỡng nguyên sinh
tầng cây gỗ, trong đó cây nghiến là cây chiếm ưu thế, đai rừng á nhiệt đới mưa
mùa với kiểu rừng á nhiệt đới lá kim trên núi đá vôi.
Đặng Kim Vui (2002) [12], nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng phục hồi
sau nương rẫy để làm cơ sở đề xuất giải pháp khoanh nuôi, làm giàu rừng ở
huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã kết luận đối với giai đoạn phục hồi từ 1 - 2
tuổi (hiện trạng là thảm cây bụi) thành phần thực vật 72 loài thuộc 36 họ và họ
Hoà thảo (Poaceae) có số lượng lớn nhất (10 loài), sau đó đến họ Thầu dầu
(Euphorbiaceae) 6 loài, họ Trinh nữ (Mimosaceae) và họ Cà phê (Rubiaceae)
mỗi họ có 4 loài. Bốn họ có 3 loài là họ Long não (Lauraceae), họ Cam
13
(Rutaceae), họ Khúc khắc (Smilacaceae) và họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae).
Ngoài ra, cấu trúc trạng thái thảm thực vật cây bụi này có số cá thể trong ô tiêu
Bảng 2.3. Thành phần loài động vật có xương sống ở VQG Ba Bể và vùng
phụ cận ............................................................................................ 19
Bảng 2.4. Thổ nhưỡng huyện Ba Bể ............................................................... 20
Bảng 2.5. Diện tích, năng suất và sản lượng một số cây trồng chính huyện Ba
Bể năm 2010 ................................................................................... 22
Bảng 2.6. Tình hình sản xuất của ngành chăn nuôi huyện Ba Bể .................. 23
Bảng 3.1. Các tuyến điều tra đã khảo sát tại VQG Ba Bể .............................. 27
Bảng 4.1. Kích thước cây Mã tiền lông tại VQG Ba Bể, Tỉnh Bắc Kạn ........ 35
Bảng 4.2. Bảng số liệu đo độ dốc các OTC .................................................... 36
Bảng 4.3. Đặc điểm cơ bản về cấu trúc quần xã thực vật rừng nơi loài Mã tiền
lông phân bố ở đai độ cao dưới 500m ............................................ 38
Bảng 4.4. Cấu trúc tổ thành tầng cây gỗ nơi Mã tiền lông phân bố ở đai độ
cao dưới 500m................................................................................. 39
Bảng 4.5. đặc điểm cơ bản về cấu trúc quần xã thực vật rừng nơi loài Mã tiền
lông phân bố ở đai độ cao từ 500m -1000m ................................... 40
Bảng 4.6. Cấu trúc tổ thành tầng cây gỗ nơi Mã tiền lông phân bố ở đai độ
cao từ 500m – 1000m ..................................................................... 41
Bảng 4.7. Mật độ lâm phần của tầng cây cao ................................................. 42
Bảng 4.8. Thành phần các loài cây gỗ đi kèm với Mã tiền lông .................... 43
Bảng 4.9. Đặc điểm cây bụi thảm tươi và dây leo tại khu vực nghiên cứu .... 43
Bảng 4.10. Cấu trúc tổ thành và mật độ cây tái sinh nơi có loài Mã tiền lông
phân bố ở độ cao dưới 500m........................................................... 46
Bảng 4.11. Cấu trúc tổ thành và mật độ cây tái sinh nơi có loài Mã tiền lông
phân bố ở độ cao từ 500 – 1000m................................................... 47
15
karst dưới tán rừng thứ sinh; Cabisol có ở các sườn bóc mòn trong rừng thứ
sinh hoặc cum dân cư; Acrisols có ở các sườn bóc mòn, nơi đất trống cỏ hoặc
Hệ thống thuỷ văn VQG Ba Bể bao gồm 4 con sông, suối chính nối với
hồ Ba Bể. Phía Nam và Tây Nam có song Chợ Lèng, suối Bó Lù và Tà Han
đổ nước vào hồ với tổng diện tích lưu vực là 420 km2 (sông Chợ Lèng: 194
km2, suối Bó Lù: 137 km2 và suối Tà Han: 89km2). Ba con sông, suối này đổ
nước vào hồ, sau khi được điều tiết, một phần nước hợp lưu với sông Năng ở
phía Bắc hồ, tiếp tục chảy về sông Gâm. Sông Năng là thượng nguồn của
sông Hồng, chảy theo hướng Đông Tây. Tổng diện tích lưu vực sông Năng là
1.420 km2. Vào mùa lũ, ngoài 3 con sông, suối ở phía Nam, nước từ sông
Năng có thể chảy vào hồ và mực nước ở hồ có thể dâng lên từ 2 –3 m. Khi
nước lũ sông Năng giảm xuống, nước trong hồ lại tiếp tục chảy vào sông
Năng. Mực nước tích lại trong hồ có thể đạt tới 80-90 triệu m3, có tác dụng
phân lũ sông Năng, sông Gâm và sông Hồng.
Cả 4 con sông, suối nói trên đều bắt nguồn từ những đỉnh núi cao, địa
hình dốc, thường gây ra lũ lớn. Theo kết quả điều tra cơ bản của Viện Khoa
học Thuỷ lợi, thực hiện trong năm 2002, lưu lượng của ba con sông, suối phía
Nam khoảng gần 1.000 m3/s đổ vào hồ, còn sông Năng, lưu lượng nước chảy
vào hồ đo được vào tháng 8/1971 là 942 m3/s.
2.3.3. Điều kiện kinh tế - xã hội
Vườn Quốc gia Ba Bể nằm trong địa giới hành chính huyện Ba Bể, tỉnh
Bắc Kạn nhưng phía Tây lại giáp huyện Nà Hang, tỉnh Tuyên Quang, có
chung vùng đệm với KBTTN Nà Hang (xã Đà Vị, huyện Nà Hang). Xung
quanh VQG hiện có 25.510 người sinh sống trong 5.248 hộ thuộc 99 thôn của
9 xã, trong đó có 87 thôn của 8 xã thuộc vùng đệm với 4.561 hộ, 22.924 khẩu.
Vùng lõi của VQG bao gồm xã Nam Mẫu, 2 thôn của xã Khang Ninh và 2
thôn của xã Quảng Khê; có 2.856 người sinh sống trong 687 hộ.
Các dân tộc sinh sống ở đây có người Tày chiếm 44%, người H’mông
chiếm 54%, người Dao, Nùng và Kinh chiếm 2%. Tuy có nhiều dân tộc khác
nhau nhưng dân cư ở đây có tính cộng đồng cao, sống đoàn kết. Mỗi dân tộc
đều có bản sắc văn hoá độc đáo riêng của mình. Người Tày thường làm nhà