Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và phân bố của loài cây bình vôi tại vườn quốc gia ba bể tỉnh bắc kạn - Pdf 35

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HOÀNG THỊ DIỆU

“NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ PHÂN BỐ
CỦA LOÀI CÂY BÌNH VÔI (STEPHANIA BRACHYANDRA DIELS)
TẠI VƯỜN QUỐC GIA BA BỂ TỈNH BẮC KẠN”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo

: Chính quy

Chuyên ngành

: Lâm nghiệp

Khoa

: Lâm nghiệp

Khóa học

: 2011 - 2015

THÁI NGUYÊN – 2015


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN


THÁI NGUYÊN – 2015


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HOÀNG THỊ DIỆU

“NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ PHÂN BỐ
CỦA LOÀI CÂY BÌNH VÔI (STEPHANIA BRACHYANDRA DIELS)
TẠI VƯỜN QUỐC GIA BA BỂ TỈNH BẮC KẠN”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo

: Chính quy

Chuyên ngành

: Lâm nghiệp

Khoa

: Lâm nghiệp

Lớp

: K43LN – N02




iii

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Dân số, thành phần dân tộc và tình trạng đói nghèo ở vùng đệm ........... 15
Bảng 2.2. Diện tích, năng suất và sản lượng một số cây trồng chính huyện Ba Bể
năm 2010 .............................................................................................. 17
Bảng 2.3. Tình hình sản xuất của ngành chăn nuôi huyện Ba Bể ........................... 18
Bảng 2.4. Thành phần loài động vật có xương sống ở VQG Ba Bể và vùng
phụ cận ...................................................................................... 19
Bảng 2.5. Thống kê hệ thực vật VQG Ba Bể ......................................................... 20
Bảng 2.6. Thổ nhưỡng huyện Ba Bể ...................................................................... 21
Bảng 3.1. Các tuyến điều tra đã khảo sát tại VQG Ba Bể ....................................... 25
Bảng 4.1. Bảng số liệu đo độ dốc các OTC ............................................................ 31
Bảng 4.2: Cấu trúc tổ thành tầng cây gỗ nơi Bình vôi phân bố ở đai độ cao
dưới 500m ................................................................................. 32
Bảng 4.3: Cấu trúc tổ thành tầng cây gỗ nơi Bình vôi phân bố ở đai độ cao từ
500m – 1000m ........................................................................... 34
Bảng 4.4: Mật độ lâm phần của tầng cây cao ......................................................... 35
Bảng 4.5: Đặc điểm cây bụi thảm tươi tại khu vực nghiên cứu .............................. 35
Bảng 4.6: Cấu trúc tổ thành và mật độ tái sinh của các loài cây gỗ ở độ cao
dưới 500m ................................................................................. 37
Bảng 4.7: Cấu trúc tổ thành và mật độ tái sinh của các loài cây gỗ ở độ cao từ
500 – 1000m .............................................................................. 38
Bảng 4.8. Đặc điểm cơ bản về cấu trúc quần xã thực vật rừng nơi loài Bình vôi
phân bố ở đai độ cao dưới 500m ........................................................... 40
Bảng 4.9. Đặc điểm cơ bản về cấu trúc quần xã thực vật rừng nơi loài Bình vôi
phân bố ở đai độ cao từ 500m -1000m .................................................. 40



HST

Hệ sinh thái

OTC

Ô tiêu chuẩn

ODB

Ô dạng bản

QLBVR

Quản lý bảo vệ rừng

NC

Nghiên cứu

BV

Bình vôi

CTTT

Công thức tổ thành





i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi, các
số liệu được thu thập khách quan và trung thực. Kết quả nghiên cứu chưa
được sự dụng công bố trên tài liệu nào khác. Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu
trách nhiệm!
Thái Nguyên, ngày 25
XÁC NHẬN CỦA GVHD

Ths.Trần Thị Hương Giang

tháng 5

năm 2015

NGƯỜI VIẾT CAM ĐOAN

Hoàng Thị Diệu


1

Phần 1
PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Rừng là tài nguyên quý báu của đất nước, có khả năng tái tạo, là bộ phận
quan trọng của môi trường sinh thái, có giá trị to lớn đối với nền kinh tế quốc

Bảo tồn nội vi hay nguyên vị ( Insitu conservation ) và bảo tồn ngoại vi hay
chuyển vị ( Exsitu conservation ) tại 128 khu bảo tồn trên cả nước cùng với
việc đề ra những biện pháp, chính sách kèm theo nhằm bảo vệ tốt hơn tài
nguyên đa dạng sinh học của đất nước thể hiện sự quan tâm của Chính phủ
trong vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học.
Loài Bình Vôi (Stephania brachyandra Diels) là một trong 134 loài cây
thuốc có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam. Cây Bình Vôi có diện tích phân bố
rộng trên cả 3 miền Bắc, Trung, Nam. Thường tập trung ở các vùng núi đá vôi
như Tuyên Quang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Thanh Hóa,
Vũng Tàu… Đây là một loài dược liệu quý mọc hoang ở các vùng núi đá vôi
có độ cao 100m trở lên. Loài này mang nhiều ý nghĩa về sinh thái, giá trị
thương mại, giá trị sử dụng, giá trị văn hóa cảnh quan. Hiện nay vùng phân bố
tự nhiên bị thu hẹp nhanh chóng và một số cá thể trưởng thành của loài bị
giảm sút nghiêm trọng do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do khai thác
vì mục đích thương mại, điều kiện hoàn cảnh sống thay đổi, quần thể bị chia
cắt, khả năng tái sinh kém. Vì vậy loài này đang đứng trước nguy cơ tuyệt
chủng. Cần phải có ngay biện pháp kịp thời để bảo tồn và hướng tới phát triển
nhân rộng loài cây thuốc quý, hiếm này.
Những nghiên cứu về cây Bình Vôi ở nước ta còn hạn chế, các nghiên
cứu mới chỉ tập trung vào vào việc sơ bộ mô tả đặc điểm hình thái, sinh thái,
những thông tin về khả năng tái sinh ngoài tự nhiên còn rất ít. Để bảo tồn loài
quý hiếm này cần phải có những nghiên cứu sâu về đặc điểm sinh thái hoc,


3

hình thái và vật học. Vì vậy việc nghiên cứu hiện trạng phân bố, đặc điểm lâm
học và khả năng tái sinh tự nhiên là điều cần thiết, góp phần giải quyết các
vấn đề đang đặt ra cho công tác bảo tồn một loài quý hiếm, có giá trị về nhiều
mặt nhưng đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng.

ĐDSH của Việt Nam đã và đang bị suy giảm. Nhiều hệ sinh thái và môi
trường sống bị thu hẹp diện tích và nhiều Taxon loài và dưới loài đang đứng
trước nguy cơ bị tuyệt chủng trong một tương lại gần.
Dựa trên các tiêu chẩn đánh giá tình trạng các loài của IUCN 1987 [19],
Việt Nam cũng công bố trong Sách đỏ Việt Nam năm 2007 [1] phần II thực
vật để hướng dẫn, thúc đẩy công tác bảo vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên
phân chia ra các thứ hạng như sau :
+ Bị tuyệt chủng (EX)
+ Tuyệt chủng trong tự nhiên (EW)
Nhóm các loài nguy cấp được chú trọng bảo vệ hàng đầu gồm các phân
hạng chính sau:
+ Cực kì nguy cấp (CR)
+ Nguy cấp (EN)
+ Sắp nguy cấp (VU)
Nhóm các loài ít nguy cấp
+ Ít nguy cấp (LR)
- Phụ thuộc bảo tồn: (LR/lc)
- Sắp bị đe dọa: (LR/nt)
- Ít quan tâm: Least Concern (LR/lc)
+ Thiếu dẫn liệu: Data Deficient (DD)
+ Không đánh giá: Not Evaluated (NE)


5

Để bảo vệ và phát triển các loài Động thực vật quý hiếm Chính phủ đã
ban hành Nghị định 32/2006/NĐ-CP [3]. Nghị định quy định các loài động,
thực vật quý, hiếm gồm 2 nhóm chính:
+ IA,B Thực vật, động vật rừng nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục
đích thương mại (IA đối với thực vật rừng).

loài và phân bố của cây tái sinh…Sự tương đồng hay khác biệt trong tổ thành
của loài cây tái sinh với tổ thành loài cây gỗ đã được các nhà khoa học quan
tâm (Richards (1933, 1939); Baur (1964). Do tính phức tạp của tổ thành loài
cây, nên khi khảo sát người ta chỉ đo đếm, nghiên cứu các loài có giá trị thực
tiễn và có ý nghĩa nhất định (QPN 6-84). Trong cuốn “rừng mưa nhiệt đới”,
P.W. Richards nêu lên ý kiến của nhiều tác giả cho rằng theo diễn thế tự nhiên
thì sau khi cây tầng trên đỗ diễn thế xấu đi và sau đó có thể diễn thế lại đi lên
vì cây gỗ tốt bao giờ cũng mọc sau cây tiên phong ưa sáng (Nguyễn Văn
Trương, 1983). Điều này chúng ta đã từng thấy khi khai thác tạo ra những lỗ
trống thì cây tiên phong bao giờ cũng mọc lại rất nhanh chỉ trong vòng 1- 2
năm đầu. Điều quan trọng mà chúng ta quan tâm là lớp tái sinh kế cận có đủ
mật độ để diễn thế rừng đi lên hay không. Đây là công việc chúng ta phải
nghiên cứu, đánh giá. Theo Ashton (1983), cây Dầu rái (Dipterocarpus alatus)
mọc cụm ở ven sông, chỉ tái sinh sau những trận lụt lớn. Nhiều nhà nghiên
cứu còn cho rằng, kiểu cách tái sinh phổ biến của cây gỗ rừng mưa là tái sinh
theo vệt hay theo lỗ trống (dẫn theo Lâm Xuân Xanh, 1986) Van Steenis
(1956) đã nghiên cứu hai đặc điểm tái sinh phổ biến của rừng mưa nhiệt đới là
tái sinh phân tán liên tục của các loài cây chịu bóng và tái sinh theo vệt của
các loài cây ưa sáng (dẫn theo Thái Văn Trừng, 1978)[16]. Theo Mar’tin và
cộng sự (2005) cho rằng sự tái sinh lớn lên cây rừng có liên quan chặt chẽ đến
sức sản xuất của đất. Đặc biệt là những nơi nhạy cảm: dải ven sông, đường
xá, rìa rừng và đỉnh núi.


7

- Nghiên cứu quy luật phân bố:
Theo Meryer đã xây dựng rừng chuẩn với phương trình hồi quy để tính
toán cho chu kỳ khai thác ổn định số cây và cấp đường kính; Richards trong
quyển “ Rừng mưa nhiệt đới” cũng đề cập đến phân bố số cây theo cấp kính,

khoa Lâm Nghiệp, xin cảm các Thầy giáo, Cô giáo đã tận tình dạy dỗ tôi
trong suốt bốn năm qua.
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô giáo ThS. Trần Thị Hương Giang người
đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới ban quản lý VQG Ba Bể, các cấp chính quyền
và bà con nhân dân Huyện Ba Bể đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi
cho tôi trong suốt thời gian thực tập.
Mặc dù đã cố gắng, nhưng do thời gian thực tập có hạn cộng với kiến
thức còn nhiều hạn chế nên bản khóa luận không tránh khỏi những sai sót. Vì
vậy tôi rất mong được sự chỉ bảo và góp ý của các thầy cô giáo và các bạn
đồng nghiệp để khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 25 tháng 5 năm 2015
Sinh viên

Hoàng Thị Diệu


9

Từ đó tác giả đưa ra các nguyên lý tác động xử lý lâm sinh cải thiện
rừng. P. Odum (1978) [9], đã hoàn chỉnh học thuyết về hệ sinh thái trên cơ sở
thuật ngữ hệ sinh thái (ecosystem) của Tansley (1935). Khái niệm sinh thái
được làm sáng tỏ là cơ sở để nghiên cứu các nhân tố cấu trúc trên quan điểm
sinh thái học. Công trình nghiên cứu của R. Catinot (1965) [4], J. Plaudy
(1987) [12], đã biểu diễn cấu trúc hình thái rừng bằng các phẫu đồ rừng,
nghiên cứu các cấu trúc sinh thái thông qua việc mô tả phân loại theo các khái
niệm dạng sống, tầng phiến.
Kết cấu của quần thụ lâm phần có ảnh hưởng đến tái sinh rừng. I.D.Yurkevich
(1960) đã chứng minh độ tàn che tối ưu cho sự phát triển bình thường của đa số các

nhiều tầng (thường có 3 tầng, trừ tầng cây bụi và tầng cây cỏ). Trong rừng
mưa nhiệt đới, ngoài cây gỗ lớn, cây bụi và các loài thân thảo còn có nhiều
loại dây leo cùng nhiều loài thực vật phụ sinh trên thân hoặc cành cây.
Hiện nay, nhiều hệ thống phân loại thảm thực vật rừng đã dựa vào các
đặc trưng như cấu trúc và dạng sống, độ ưu thế, kết cấu hệ thực vật hoặc năng
suất thảm thực vật. Ngay từ đầu thế kỷ 19, Humboldt và Grinsebach đã sử
dụng dạng sinh trưởng của các loài cây ưu thế và kiểu môi trường sống của
chúng để biểu thị cho các nhóm thực vật. Phương pháp của Humboldt và
Grinsebach được các nhà sinh thái học Đan Mạch (Warming, 1094;
Raunkiaer, 1934) tiếp tục phát triển. Raunkiaer (1934) đã phân chia các loài
cây hình thành thảm thực vật thành các dạng sống và các phổ sinh học (phổ
sinh học là tỉ lệ phần trăm các loài cây trong quần xã có các dạng sống khác
nhau). Tuy nhiên, nhiều nhà sinh thái học cho rằng phân loại hình thái, các
phổ dạng sống của Raunkiaer kém ý nghĩa hơn các dạng sinh trưởng của
Humboldt và Grinsebach. Trong các loại rừng dựa theo cấu trúc và dạng sống
của thảm thực vật, phương pháp dựa vào hình thái bên ngoài của thảm thực
vật được sử dụng nhiều nhất.


11

Kraft (1884) lần đầu tiên đưa ra hệ thống phân cấp cây rừng, ông phân
chia cây rừng thành 5 cấp dựa vào khả năng sinh trưởng, kích thước và chất
lượng cây rừng. Phân cấp của Kraft phản ánh được tình hình phân hoá cây
rừng, tiêu chuẩn phân cấp rõ ràng, đơn giản và dễ áp dụng nhưng chỉ phù hợp
với rừng thuần loài đều tuổi. Việc phân cấp cây rừng cho rừng tự nhiên hỗn
loài nhiệt đới là một vấn đề phức tạp, cho đến nay vẫn chưa có tác giả nào
đưa ra phương án phân cấp cây rừng cho rừng nhiệt đới tự nhiên được chấp
nhận rộng rãi.
Như vậy, hầu hết các tác giả khi nghiên cứu về tầng thứ thường đưa ra những

chế với phân chia theo lô và dựa vào 5 nhân tố: Nhóm sinh thái tự nhiên, các
giai đoạn phát triển và suy thoái của rừng, khả năng tái tạo rừng bằng con
đường tái sinh tự nhiên, đặc điểm về địa hình, thổ nhưỡng với một bảng mã
hiệu dùng để tra trong quá trình phân chia.
Đối với hệ sinh thái rừng nhiệt đới ở Việt Nam, Thái Văn Trừng (2000)
[15], dựa vào sự ghép nối của 2 hệ thống phân loại: hệ thống phân loại đặc
điểm cấu trúc ngoại mạo làm tiêu chuẩn và hệ thống phân loại thảm thực vật
dựa trên yếu tố hệ thực vật làm tiêu chuẩn đã phân chia thảm thực vật Việt
Nam thành 5 nhóm kiểu thảm (gọi là 5 nhóm quần hệ) với 14 kiểu quần hệ
(gọi là 14 quần hệ). Mặc dù còn một số điểm cần bàn luận và chỉnh lý bổ sung
thêm nhưng bảng phân loại thảm thực vật Việt Nam của Thái Văn Trừng từ
bậc quần hệ trở lên gần phù hợp với hệ thống phân loại của UNESCO (1973).
Tác giả Lâm Phúc Cố (1994) [5], Nhiên cứu rừng thứ sinh sau nương rẫy ở
Phú Luông, Mù Cang Chải, Yên Bái đã chia thành năm giai đoạn và kết luận:
diễn thế thứ sinh sau nương rẫy theo hướng đi lên tiến tới cao đỉnh. Tổ thành loài
tang dần theo thời gian.
Trần ngũ phương(1970) [10], khi đề cập đến rừng ở Miền Bắc Việt Nam
đã xếp rừng trên núi đá vôi vào đai rừng nhiệt đới mưa mùa với kiểu rừng nhiệt
đới lá rộng thường xanh núi đá vôi, và có 4 kiểu phụ: Thổ nhưỡng nguyên sinh


13

tầng cây gỗ, trong đó cây nghiến là cây chiếm ưu thế, đai rừng á nhiệt đới mưa
mùa với kiểu rừng á nhiệt đới lá kim trên núi đá vôi.
Đặng Kim Vui (2002) [18], nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng phục hồi
sau nương rẫy để làm cơ sở đề xuất giải pháp khoanh nuôi, làm giàu rừng ở
huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã kết luận đối với giai đoạn phục hồi từ 1 - 2
tuổi (hiện trạng là thảm cây bụi) thành phần thực vật 72 loài thuộc 36 họ và họ
Hoà thảo (Poaceae) có số lượng lớn nhất (10 loài), sau đó đến họ Thầu dầu

Lù và Tà Han đổ nước vào hồ với tổng diện tích lưu vực là 420 km2 (sông
Chợ Lèng: 194 km2, suối Bó Lù: 137 km2 và suối Tà Han: 89km2). Ba con
sông, suối này đổ nước vào hồ, sau khi được điều tiết, một phần nước hợp lưu
với sông Năng ở phía Bắc hồ, tiếp tục chảy về sông Gâm. Sông Năng là
thượng nguồn của sông Hồng, chảy theo hướng Đông Tây. Tổng diện tích lưu
vực sông Năng là 1.420 km2. Vào mùa lũ, ngoài 3 con sông, suối ở phía Nam,
nước từ sông Năng có thể chảy vào hồ và mực nước ở hồ có thể dâng lên từ 2
–3 m. Khi nước lũ sông Năng giảm xuống, nước trong hồ lại tiếp tục chảy vào
sông Năng. Mực nước tích lại trong hồ có thể đạt tới 80-90 triệu m3, có tác
dụng phân lũ sông Năng, sông Gâm và sông Hồng.
Cả 4 con sông, suối nói trên đều bắt nguồn từ những đỉnh núi cao, địa
hình dốc, thường gây ra lũ lớn. Theo kết quả điều tra cơ bản của Viện Khoa
học Thuỷ lợi, thực hiện trong năm 2002, lưu lượng của ba con sông, suối phía
Nam khoảng gần 1.000 m3/s đổ vào hồ, còn sông Năng, lưu lượng nước chảy
vào hồ đo được vào tháng 8/1971 là 942 m3/s.
2.3.2. Điều kiện dân sinh kinh tế - xã hội
VQG Ba Bể nằm trong địa giới hành chính huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn,
phía Tây giáp huyện Na Hang thuộc tỉnh Tuyên Quang, có chung vùng đệm
với khu BTTN Na Hang (xã Đà Vị, huyện Na Hang).
Xung quanh VQG hiện có 25.510 người sinh sống trong 5.248 hộ thuộc
99 thôn của 9 xã, trong đó có 87 thôn của 8 xã thuộc vùng đệm với 4.561 hộ,
22.924 khẩu. Vùng lõi của VQG bao gồm xã Nam Mẫu, 2 thôn của xã Khang
Ninh và 2 thôn của xã Quảng Khê; có 2.856 người sinh sống trong 687 hộ.


15

98% dân số xung quanh VQG là dân tộc thiểu số và sống tập trung thành
các vùng. Nhóm người Dao, Tày đã định cư từ lâu đời trong khi đó người Mông
đến định cư ở khu vực này vào những năm chiến tranh biên giới phía bắc.


Nam Mẫu

8

425

2.145

208 (49)

100%

2

Khang Ninh

13

921

4.115

257 (28)

98%

3

Cao Trĩ


674

3.327

264 (39)

98%

6

Hoàng Trĩ

6

264

1.267

81 (31)

99%

7

Đồng Phúc

14

576


341 (54)

100%

99

5.281

25.510

2.004 (38)

98%

Tổng số:

Tên dân tộc
Mông, Dao,
Tày, Nùng
Mông, Dao,
Tày, Nùng
Dao, Tày,
Nùng
Mông, Dao,
Tày, Nùng
Dao, Tày
Dao, Tày,
Nùng
Mông, Dao,

- Diện tích dong riềng: 100 ha
- Diện tích đỗ tương: 309 ha
- Diện tích cây lạc: 152 ha
- Diện tích chè chất lượng cao có khoảng 7 ha đang cho thu hái, trồng
chủ yếu ở các xã Mỹ Phương, Chu Hương.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status