BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
----&----
TẠ THỊ THU XUÂN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
VÀ BẢO TỒN GIỐNG CHUỐI NGỰ ĐẠI HOÀNG
TẠI HUYỆN LÝ NHÂN, TỈNH HÀ NAM
Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 60.42.01.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN THỊ HỒNG LIÊN
HÀ NỘI - 2014
2
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn Thị
Hồng Liên, người đã tận tâm, nhiệt tình chỉ bảo, động viên và hướng dẫn tác giả
trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này.
Tác giả xin trân trọng cảm ơn tới các thầy, cô giáo trong Khoa Sinh đặc biệt
là Tổ bộ môn thực vật, Phòng sau đại học trường Đại học Sư Phạm Hà Nội đã
giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt quá trình lựa chọn và hoàn
thiện đề tài luận văn.
Cuối cùng, xin gửi lời biết ơn chân thành đến gia đình, bạn bè và các đồng
Qua việc tổng hợp các phiếu điều tra, phỏng vấn lấy ý kiến của 60
hộ trồng chuối ngự Đại Hoàng, 5 cơ sở chế biến, 10 cửa hàng tiêu
thụ chuối ngự và 10 cán bộ quản lý các cấp (3 thành viên trong Hội
sản xuất và tiêu thụ chuối ngự , 3 thành viên của hợp tác xã Hòa
Hậu, 2 cán bộ Sở Khoa học và công nghệ Hà Nam, 2 cán bộ Sở
Nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Nam), chúng tôi tổng hợp
kết quả như sau:...........................................................................107
3.3.2.1. Sản xuất............................................................................ 107
a) Điều tra đánh giá hiện trạng sản xuất chuối ngự Đại Hoàng....107
1.KẾT LUẬN..................................................................................................117
Từ kết quả nghiên cứu, chúng tôi rút ra một số kết luận sau:..............................117
1.1.Chuối ngự Đại Hoàng tại huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam có 3 loại: chuối ngự
trắng, chuối ngự trâu, chuối ngự mít, thuộc loài Musa paradisiaca......................117
1.2.Các bộ phận của cây chuối ngự mang đặc trưng cho loài. Trong cấu trúc của rễ,
thân, lá đều có cấu trúc đặc trưng cho thực vật một lá mầm, thích nghi với đời sống
ii
trên cạn, nhu cầu nước cao. Quả chuối ngự có kích thước nhỏ hơn các loại quả
chuối khác, màu sắc vàng óng, hương thơm dịu, vị ngọt mát..............................117
1.3.Trong những năm gần đây, tại huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam diện tích trồng
chuối ngự có xu hướng tăng lên, nhưng chất lượng giảm xuống. Nguyên nhân của
tình trạng này đã được người sản xuất thừa nhận: do việc tuỳ tiện trong việc chọn
cây giống, trong việc áp dụng cách trồng và chăm bón chuối của những vườn mới;
đặc biệt là chủ vườn chạy theo nhu cầu tiêu thụ chuối vào các ngày rằm, mồng một
hàng tháng, vào các dịp lễ tết giá tăng cao, nên đã thu hoạch chuối không đúng
tuổi, thu cưỡng cả những buồng chuối còn non, dù được giấm đúng kỹ thuật thì
chuối vẫn là chín ép, chất lượng kém.................................................................117
1.4. Sản phẩm từ chuối ngự chủ yếu là ăn tươi. Huyện Lý Nhân có nhiều cơ sở chế
biến (rấm) chuối ngự sau thu hoạch, nhưng hầu hết các cơ sở chế biến vẫn theo
trên cạn, nhu cầu nước cao. Quả chuối ngự có kích thước nhỏ hơn các loại quả
chuối khác, màu sắc vàng óng, hương thơm dịu, vị ngọt mát..............................117
1.3.Trong những năm gần đây, tại huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam diện tích trồng
chuối ngự có xu hướng tăng lên, nhưng chất lượng giảm xuống. Nguyên nhân của
tình trạng này đã được người sản xuất thừa nhận: do việc tuỳ tiện trong việc chọn
cây giống, trong việc áp dụng cách trồng và chăm bón chuối của những vườn mới;
đặc biệt là chủ vườn chạy theo nhu cầu tiêu thụ chuối vào các ngày rằm, mồng một
hàng tháng, vào các dịp lễ tết giá tăng cao, nên đã thu hoạch chuối không đúng
tuổi, thu cưỡng cả những buồng chuối còn non, dù được giấm đúng kỹ thuật thì
chuối vẫn là chín ép, chất lượng kém.................................................................117
1.4. Sản phẩm từ chuối ngự chủ yếu là ăn tươi. Huyện Lý Nhân có nhiều cơ sở chế
biến (rấm) chuối ngự sau thu hoạch, nhưng hầu hết các cơ sở chế biến vẫn theo
phương pháp thủ công. Sản phẩm chuối được tiêu thụ qua nhiều kênh khác nhau,
tuy nhiên các kênh tiêu thụ đều không ổn định...................................................117
2.KIẾN NGHỊ..................................................................................................118
iv
DANH MỤC HÌNH
5.4.2. Thu thập thông tin sơ cấp............................................................................5
3.3.1. Định hướng.............................................................................................103
Để có định hướng đúng đắn về vấn đề bảo tồn chuối ngự Đại Hoàng trong thời gian
tới, chúng tôi đã xây dựng mô hình phân tích SWOT:........................................103
Bảng 3.18. Mô hình phân tích SWOT của chuối ngự Đại Hoàng.......................104
Bảng 3.19. Số mẫu và đối tượng điều tra, phỏng vấn thu thập thông tin..............107
1.KẾT LUẬN..................................................................................................117
Từ kết quả nghiên cứu, chúng tôi rút ra một số kết luận sau:..............................117
1.1.Chuối ngự Đại Hoàng tại huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam có 3 loại: chuối ngự
trắng, chuối ngự trâu, chuối ngự mít, thuộc loài Musa paradisiaca......................117
Đông Phi, Tây Phi, Mỹ Latinh… Các loài chuối hoang dại được tìm thấy rất nhiều ở Đông
Nam Á, do đó có thể cho rằng Đông Nam Á là quê hương của cây chuối [60].
Loài chuối (Musa paradisiaca) là loài cây ăn quả nhiệt đới, ngắn ngày, dễ trồng và
cho sản lượng khá cao, trung bình có thể đạt năng suất 20 - 30 tấn/ha, một số quốc gia trên
thế giới có sản lượng chuối lớn như Guatemala đạt năng suất 100 tấn/ha. Việt Nam nằm
trong khu vực nhiệt đới gió mùa, điều kiện khí hậu rất thuận lợi cho cây chuối sinh trưởng,
phát triển. Chuối gần gũi với người nông dân và phổ biến khắp các vùng nông thôn, thành
thị. Chuối được sử dụng như là rau, là quả, là lương thực, thực phẩm. Sản lượng chuối ở
nước ta hàng năm cao, theo Tổng Cục Thống Kê năm 2012: đạt 1,8 triệu tấn, tăng 3% so
với năm 2011. Ngoài việc ăn tươi trong nhân dân, chúng ta còn thu mua được một số
lượng lớn để xuất khẩu tươi.
Ở nước ta, các giống chuối hiện nay được trồng chủ yếu gồm: chuối tiêu, chuối tây
và chuối ngự. Trong đó chuối ngự có tiếng là thơm ngon, trước đây dùng để tiến vua nên
còn gọi là chuối tiến vua.
Chuối ngự là đặc sản nổi tiếng của vùng quê Hà Nam, cách đây khoảng 10 năm về
trước, giống chuối ngự chưa được đầu tư đúng mức nên diện tích trồng còn ít, manh mún.
Thông qua dự án bảo tồn của GEF/SGP/UNDP diện tích chuối ngự được mở rộng từ năm
2001 đến nay, diện tích đã tăng đáng kể [52].
Hơn nữa, việc quản lý và phát triển thương hiệu “Chuối ngự Đại Hoàng ” có nhiều
hạn chế làm cho thị trường chuối ngự Đại Hoàng, ở huyện Lý Nhân Hà Nam còn nhiều
1
bất ổn, chưa thực sự đem lại hiệu quả cho người sản xuất. Vì vậy, công tác bảo tồn chuối
ngự Đại Hoàng là vấn đề thực sự cần thiết.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh lý, hóa sinh, sinh thái
hay kỹ thuật chăm sóc và bảo quản, chế biến chuối nhằm tăng năng suất và giá trị kinh tế
nhưng chưa có một tài liệu nào đầy đủ nghiên cứu về vấn đề bảo tồn giống chuối quý này.
Việc bảo tồn giống chuối ngự Đại Hoàng có ý nghĩa vô cùng quan trọng, không chỉ có ý
phẩm chất lượng ngon nhất trong khu vực. Đất ở vùng này chủ yếu là đất cát pha, đất phù
sa do sông Châu Giang bồi đắp.
- Vùng ven sông Hồng (vùng 2) gồm các xã Nhân Thịnh, Phú Phúc, một phần
xã Tiến Thắng và một phần xã Hòa Hậu. Đây là vùng đất thịt đất thịt nặng, chua.
- Vùng xã Xuân Khê, Nhân Mỹ (vùng 3) là vùng đất cát pha ven sông Châu Giang
có cùng điều kiện về đất đai với vùng trung tâm chuối ngự nhưng cách khoảng 10-12 km.
2.3.2. Thời gian nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu, thu thập thông tin và khảo sát thực địa của chúng tôi tiến
hành từ tháng 06/2013 đến tháng 08/2014.
3. Nội dung nghiên cứu của đề tài
Đề tài tập trung vào những nội dung sau:
- Nghiên cứu một số đặc điểm về hình thái, giải phẫu của giống chuối ngự được
trồng tại huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.
- Nghiên cứu thực trạng trồng và sử dụng nguồn gen giống chuối ngự tại huyện Lý
Nhân tỉnh Hà Nam.
- Đề xuất các biện pháp bảo tồn giống chuối ngự tại huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
4.1. Ý nghĩa khoa học của đề tài
Đề tài hệ thống hoá kiến thức tổng quan về cây chuối và vấn đề bảo tồn
giống chuối ngự tại Hà Nam, góp phần vào nguồn tài liệu khoa học hữu ích cho
những nghiên cứu về bảo tồn chuối ngự sau này.
4.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đề tài góp phần giúp người nông dân hiểu thêm về giá trị của cây chuối, các
yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển giống chuối ngự Đại Hoàng tại Hà
Nam để từ đó có các biện pháp nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả của
giống cây trồng này tại địa phương.
3
4
xác về thực trạng của vấn đề nghiên cứu và đề xuất các giải pháp xác thực giúp cho việc
hoàn thiện công việc nghiên cứu của mình.
5.4.1. Thu thập thông tin thứ cấp
Thông tin thứ cấp là các tài liệu đã công bố, là cơ sở để đề tài kế thừa và phát triển
cũng như khai thác các khía cạnh mà các nghiên cứu trước đây chưa có, để thu thập các
văn bản, tài liệu của Nhà nước có liên quan đến các hộ sản xuất - kinh doanh (qua sách
báo, internet, các ban, ngành của tỉnh, huyện). Niên giám thống kê hàng năm của tỉnh,
luận án tốt nghiệp, các báo cáo, quy hoạch, dự án,... những thông tin này có vai trò
quan trọng làm cơ sở phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài.
5.4.2. Thu thập thông tin sơ cấp
Thông tin sơ cấp là các thông tin được thu thập trực tiếp thông qua các cuộc điều
tra, phỏng vấn các cán bộ, người dân, khách hàng hay tại các cửa hàng, đại lý, tổ chức kinh
doanh chuối ngự Đại Hoàng. Thu thập thông tin này giúp chúng ta thấy được nguyên
nhân của những tồn tại và thành tựu đạt được, đồng thời giúp phân tích rõ được hiện
tượng, qua đó đề xuất các kiến nghị và giải pháp kịp thời.
- Điều tra hộ: chọn những hộ điển hình, trồng nhiều và có kinh nghiệm trồng chuối
ngự nhằm tìm hiểu quá trình sản xuất, tiêu thụ chuối và tác dụng của việc bảo tồn chuối
ngự Đại Hoàng đối với người dân địa phương… Qua đó, tìm hiểu ý kiến của người dân về
việc xây dựng những mô hình trồng chuối đảm bảo đúng yêu cầu kỹ thuật, đáp ứng về
chất lượng cho chuối ngự Đại Hoàng, thấy những thuận lợi và khó khăn cũng như nhu cầu
của người dân trồng chuối ngự.
Điều tra trên toàn xã diện tích trồng giống chuối ngự, cách trồng, nguồn giống,
phương pháp nhân giống bằng các phiếu điều tra soạn sẵn (phụ lục 2, 4).
- Điều tra các cửa hàng, đại lý, các tổ chức kinh doanh mục tiêu để thấy được vai
trò của các đơn vị trong quá trình bảo tồn, đặc biệt là trong việc xây dựng và phát triển
thương hiệu.
- Phỏng vấn: tiến hành phỏng vấn các cán bộ, nông dân điển hình trong Hội và các
lắng nghe, chia sẻ những ý kiến và đề nghị thảo luận để đưa ra các giải pháp, cải thiện tình
hình hiện tại.
Trong phạm vi đề tài nghiên cứu, tác giả tiến hành thảo luận nhóm các hộ trồng
chuối ngự, xã viên hợp tác xã trồng chuối ngự với mục đích thăm dò, tổng hợp các nguyện
vọng, nhu cầu của họ; đề nghị họ cùng tham gia chia sẻ, thảo luận và phân tích kiến thức
của họ về kỹ thuật trồng và chăm sóc, nhu cầu thị trường, các yếu tố ảnh hưởng và những
6
yêu cầu trong việc bảo tồn chuối ngự, cùng với họ đưa ra xu hướng, nhận định mới phù
hợp, làm cơ sở để đưa ra các giải pháp có căn cứ khoa học.
- Phỏng vấn những người cung cấp thông tin chủ yếu (KIP- Key Imformant Panel)
Phỏng vấn KIP để thu thập những hiểu biết đặc biệt về một vấn đề nào đó. KIP là
những người có kiến thức đặc biệt về một chủ đề riêng biệt nào đó. Những người nắm giữ
thông tin (KIP) có thể trả lời các câu hỏi về kiến thức và hành vi của người khác, và đặc
biệt về hoạt động của các hệ thống (chủ đề, vấn đề) rộng hơn.
Trong đề tài, chúng tôi tiến hành phỏng vấn trực tiếp những người cán bộ đứng
đầu, những người nắm giữ nhiều thông tin cơ bản, thu thập có chọn lọc các ý kiến đánh giá
của những người đại diện trong các lĩnh vực chuyên môn như: lãnh đạo Sở Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn Hà Nam, Sở Khoa học - Công nghệ Hà Nam, Hội chuối ngự Đại
Hoàng, Hợp tác xã Hòa Hậu, Hợp tác xã Tiến Thắng, các nhà khoa học để làm cơ sở đưa
ra các giải pháp của bản thân được chính xác và khách quan hơn.
* Dùng mô hình SWOT để phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và hiểm họa
về việc phát triển vùng sản xuất, từ đó xây dựng mô hình phát triển, mở rộng và nâng cao
chất lượng sản phẩm.
Khái niệm ma trận SWOT lần đầu tiên được xây dựng tại Trường kinh doanh
Havard Mỹ vào năm 1965, là từ viết tắt của bốn chữ cái đầu tiên của bốn từ: S là Strength
(Điểm mạnh), W là Weakness (Điểm yếu), O là Opportunity (Cơ hội) và T là Thread
(Hiểm họa). Có thể định nghĩa ma trận SWOT như sau: "Ma trận SWOT là một trong
i =1
i
−X
n
Trong đó:
Xi : giá trị cụ thể
X : giá trị trung bình
n: số mẫu quan sát
δ: độ lệch chuẩn
8
(n < 30)
)
2
(n ≥ 30)
Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan về cây chuối
1.1.1. Nguồn gốc và phân bố
Chuối lần đầu tiên được trồng ở New Ghinea (Simonds, 1966) sau đó chuyển đến
Độ 57 loại … [39].
Trong khi đó, ở Việt Nam các tác giả Persley, G.J và De Longhe, E.Acds (1978)
[40] đã đánh giá: "Việt Nam là một trong những trung tâm xuất xứ của các giống
chuối Musa spp. và có nhiều loài, giống nhân bản .... ".
Việt Nam là một nước nằm trong vùng phát sinh của các loài chuối hoang dại và
chuối trồng.
1.1.2. Hệ thống phân loại
Giới :
Ngành :
Lớp :
Phân lớp :
Bộ :
Họ :
Chi :
Loài:
Thực vật (Plantae)
Ngọc lan (Magnoliophyta)
Một lá mầm ( Monocotyledoneae)
Hành ( Liliidae)
Gừng (Zingiberales)
Chuối (Musaceae)
Chuối (Musa)
Musa paradisiaca
(Hoàng Thị Sản, 2003) [27]
Họ Chuối (Musaceae) thuộc lớp thực vật Một lá mầm gồm 2 chi và 70 loài, chủ
yếu gặp ở các nước nhiệt đới. Đó là:
- Chi chuối ăn (Musa) có nguồn gốc ở Đông Nam Á.
- Chi chuối cảnh (Ensete) có nguồn gốc ở Đông Phi.
và tháng thu hoạch.
Bảng 1.1. Thành phần dinh dưỡng của một số loại chuối trong 100g quả chín
Thành phần dinh dưỡng
Nước (g)
Protein (g)
Lipid (g)
Glucid (g)
Tinh bột (g)
Vitamin C (mg)
Chuối tây
83,2
0,9
0,3
12,4
2,6
6
Chuối tiêu
74,4
1,5
0,2
22,2
0,8
6
Chuối ngự
75
1,8
0,12
hiện trong hình 1.1.
Hình 1.1. Giá chuối 30 năm qua (Nguồn: IMF - Quỹ tiền tệ Thế giới)
Nhiều nước ở Châu Á dùng bột chuối ăn thay một phần lương thực, góp phần đảm
bảo vấn đề an ninh lương thực. Quả chuối xanh, hoa chuối, thân chuối non dùng làm rau
ăn. Thân cây chuối còn dùng làm thức ăn cho lợn. Lá chuối dùng để bao gói làm các lại
bánh. Bẹ chuối lấy sợi làm giấy, bện thừng, pha trộn với sợi khác dùng để dệt bao tải. Tro
thân chuối có chất kiềm, được dùng làm thuốc giữ màu sắc vải nhuộm.
12
Bên cạnh việc dùng quả để ăn tươi là chủ yếu, ở Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ
Latinh quả chuối mềm cũng còn được chế biến nhiều thức ăn như:
- Món canh chuối là món canh chay đơn giản phổ biến ở Việt Nam và nhiều nước
Đông Nam Á.
- Món canh kiểm: phổ biến ở Miền Nam Việt Nam. Món này được nấu bằng chuối
xiêm chín với khoai mì, khoai lang, bí rợ trong nước cốt dừa.
- Chuối nấu: các loài chuối xiêm, chuối sứ, chuối sáp…được để cả vỏ luộc chín
- Chuối phơi khô, chuốt sấy: chuối xiêm, chuối sứ được ép dẹp và phơi khô để ăn
dần. Đây là cách bảo quản có hiệu quả khi chuối chín ăn tươi không hết. Ngoài cách phơi
khô chuối chín còn được sấy khô để làm mứt chuối. Quả chuối cứng dùng làm lương thực.
a. Canh chuối
b. Canh kiểm nước cốt dừa
Hình 1.2. Một số món ăn chế biến từ chuối
Ở Châu Phi và Nam Mỹ, quả chuối cứng hay chuối bột được trồng phổ biến để
dùng làm lương thực chính trong bữa ăn hàng ngày. Các loài chuối này khi ăn phải gọt vỏ,
luộc, chiên, nấu như khoai tây. Ngoài ra chuốt bột còn được sấy khô xay thành bột đun với
nước sôi để có món hồ bột chuối, dùng làm thức ăn cho trẻ em và người lớn. Ngoài ra, quả
14
Nam, cũng như toàn quốc.
1.1.3.4. Giá trị văn hóa thẩm mĩ
Mỗi dịp tết đến xuân về nhân dân nhiều nơi có tập tục chuẩn bị một vài nải chuối
đẹp để bày biện mâm ngũ quả, có ý nghĩa tâm linh hay cầu may mắn. Đó là nét đẹp văn
hóa truyền thống của dân tộc ta mà còn là hình ảnh quen thuộc của làng quê Việt Nam,
tượng trưng cho quê hương (Gió đưa bụi chuối sau hè…)
Giống chuối ngự Đại Hoàng cùng với giống quýt hương Văn Lý, giống hồng Nhân
Hậu là những cây ăn quả đặc sản của đất Lý Nhân tỉnh Hà Nam, được người dân địa
phương lưu giữ và phát triển hàng trăm năm nay trong vườn hộ. Chuối ngự gắn liền với
truyền thuyết các đời vua Trần, chuối tiến Vua. Dân vùng Đại hoàng hầu như 100% người
mang họ Trần. Theo người dân trong vùng, chuối ngự là sản phẩm quí hiếm dành làm quà
biếu vào những trường hợp quan trọng tỏ lòng tôn kính với người nhận quà. Chuối ngự
được dùng biếu thầy giáo và bà mụ (bà đỡ đẻ thời xưa) những người thân yêu trong dịp lễ
tết. Chính nét văn hóa này mà giống chuối ngự quí hiếm từ bao đời nay vẫn được người
dân gìn giữ bảo tồn.
Với truyền thống văn hoá và tập quán của một vùng quê thuần nông, người dân ở
đây siêng năng, cần mẫn và quí khách; làng quê còn giữ được nhiều nét mang bản sắc dân
tộc sâu sắc (lễ hội, hát chèo, văn nghệ dân gian...). Cùng với việc phát triển các vùng cây
ăn quả đặc biệt là chuối ngự, trong tương lai Lý Nhân có thể xây dựng nội dung Du lịch
văn hoá và sinh thái kết hợp cảnh quan thơ mộng, phát triển kinh tế nông nghiệp đa dạng
của địa phương.
1.1.4. Tình hình sản xuất và tiêu thụ chuối trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.4.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ chuối trên thế giới
a. Các loài và giống chuối trên thế giới
Hầu hết các giống chuối ăn quả hiện đại là giống lai đa bội của các loài chuối
hoang dại của chúng là loài chuối hột hoang Musa acuminata và loài chuối hột
Chuối được xem là giống cây trồng thứ tư trên thế giới về sản lượng. Theo số liệu
của FAO [50], hàng năm toàn thế giới sản xuất trên 88 triệu tấn chuối. Khoảng 98% sản
lượng chuối của thế giới thuộc các nước đang phát triển. Các nước phát triển là địa chỉ cho
các nước xuất khẩu. Những năm 1970, sản lượng chuối của châu Mỹ chiếm tới 50%, châu
Á gần 34%, châu Phi khoảng 13% tổng sản lượng chuối thế giới. Đến năm 2007 sản lượng
chuối châu Á chiếm 58%, châu Mỹ khoảng gần 31%. Hiện nay khu vực châu Á vượt lên
dẫn đầu, tiếp theo là các nước Nam Mỹ và cuối cùng là châu Phi (hình 1.4).
16
Nguồn: UNCTAD Secretariat from FAO statistics
Hình 1.4. Phân bố sản lượng chuối ở những vùng sản xuất chính
* Tình hình sản xuất chuối trên thế giới
Hiện nay, chuối được trồng ở hầu hết các vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới, phân bố từ
30o vĩ độ Bắc đến 30o vĩ độ Nam. Chuối chủ yếu được trồng chủ yếu ở những nước đang
phát triển. Khoảng 98% sản lượng chuối của thế giới được trồng ở những nước đang phát
triển và được xuất khẩu tới các nước phát triển. Tuy nhiên, về việc sản xuất cũng như xuất
nhập khẩu chuối thường là tập trung vào một số nước nhất định. Trong đó thì Ấn Độ,
Ecuador, Braxin và Trung Quốc chiếm một nửa của toàn thế giới. Điều này càng ngày
càng tăng lên cho thấy sự tập trung hóa về phân phối chuối trên toàn thế giới. Vào năm
2007, tổng cộng có 130 quốc gia sản xuất chuối [1], [49].
+ Cơ cấu sản xuất chuối trên thế giới
Theo thống kê của FAO, 10 quốc gia sản xuất chuối và chuối bột hàng đầu thế giới
trong năm 2011 gồm có:
1-Ấn Độ, 2-Uganda, 3-Trung Quốc, 4-Philippine, 5-Ecuador, 6-Braxin, 7Inđônêxia, 8-Côlômbia, 9- Cameroon và 10- Tanzania đã sản xuất được 59,9 triệu
tấn chuối, so toàn thế giới là 145,5 triệu tấn, chiếm 66%. Trong đó dẫn đầu là Ấn Độ sản
xuất 29,7 triệu tấn, đạt 23% so thế giới.
Việc trồng chuối xuất khẩu thành công nhất là ở nước Ecuador. Trong năm
2011, Ecuador là nước sản xuất chuối hàng thứ 5 trên thế giới chiếm khoảng 9% tổng