Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và năng lực trí tuệ cơ bản của học sinh từ 6 đến 17 tuổi người dân tộc Kinh, H’mong, Dao ở tỉnh Yên Bái - Pdf 11


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

TRẦN LONG GIANG Chuyên đề
HORMONE SINH DỤC NỮ Đề tài
Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và năng lực trí tuệ cơ bản
của học sinh từ 6 đến 17 tuổi người dân tộc Kinh, H’mong, Dao
ở tỉnh Yên Bái
Người hướng dẫn chuyên đề:
TS.BS. Nguyễn Thị Thanh Hương
HÀ NỘI, 2014
MỤC LỤC

3.4. Mãn kinh 16
3.4.1. Sự biến đổi nồng độ estrogen trong máu 16
3.4.2. Một số biến đổi do thiếu estrogen gây ra ở thời kỳ mãn kinh 16
TÀI LIỆU THAM KHẢO 20 CÁC CHỮ VIẾT TẮT

TT
Chữ viết tắt
Thuật ngữ được viết tắt
1
ACTH
Adrenocorticotropin hormone
2
FSH
Follicle stimulating hormone
3
i
Chuyên đề Tiến sĩ Page 1

Hệ nội tiết tham gia điều hòa chức năng cơ thể thông qua sản phẩm bài
tiết của nó là hormone. Về mặt bản chất hóa học, hormone được chia làm ba loại
là steroid, peptid, dẫn xuất của axit amin và protein. Hầu hết hormone có bản
chất protein, peptid và và dẫn xuất của axit amin có receptor nằm ngay trên
màng tế bào và tác động theo cơ chế thông qua chất truyền tin thứ hai, trong khi
đó hormone có bản chất là steroid và hormone T
3
– T
4
lại có receptor nằm ngay
trong tế bào và tác động theo cơ chế hoạt hóa hệ thống gen tế bào gây tổng hợp
protein [4].
Hormone được điều hòa bài tiết theo nhịp sinh và chịu sự tác động của
một số một số chất truyền đạt thần kinh. Tuy nhiên cơ chế chính gây bài tiết
hormone là cơ chế điều khiển từ tuyến chỉ huy đến tuyến đích và cơ chế điều hòa
ngược (feedback) từ tuyến đích đến tuyến chỉ huy. Hệ thống điều hòa đó tạo
thành các trục nội tiết vùng dưới đồi – tuyến yên – tuyến giáp, vùng dưới đồi –
tuyến yên – tuyến thượng thận, vùng dưới đồi – tuyến yên – tuyến sinh dục [4].
1. Cấu trúc vùng dưới đồi – tuyến yên – buồng trứng
1.1. Vùng dưới đồi
Vùng dưới đồi (hypothalamus)
là một cấu trúc thuộc não trung gian
nằm quanh não thất ba và giữa hệ viền
(limbic). Vùng dưới đồi có đường liên
hệ trực tiếp theo hai hướng [4], [10]:

thích tuyến sinh dục chiếm 3 – 5%.
Chuyên đề Tiến sĩ Page 3

Thùy sau liên quan với vùng dưới đồi qua bó sợi thần kinh dưới đồi – yên.
Về mô học, thùy sau cấu thạo chủ yếu bởi các tế bào giống tế bào thần kinh đệm
(glial like cell) không có khả năng chế tiết hormone.
1.3. Buồng trứng
Mỗi phụ nữ có hai buồng trứng. Kích thước mỗi buồng trứng khi trưởng
thành là 2,5 – 5x2x1cm, nặng 4 – 8g, trọng lượng của chúng thay trong chu kỳ
kinh nguyệt. Vào tuần thứ 30 của thai nhi, cả hai buồng trứng có khoảng 6 triệu
noãn nguyên thủy. Sau đó phần lớn chúng bị thoái hoá chỉ còn lại khoảng 2 triệu
nang và lúc mới sinh và đến tuổi dậy thì còn lại khoảng 300.000 đến 400.000
nang. Trong suốt thời kỳ sinh sản của phụ nữ (khoảng 30 năm) chỉ có khoảng
400 nang phát triển tới chin và xuất noãn hàng tháng. Số còn lại bị thoái hóa [5].

Chuyên đề Tiến sĩ Page 4

2. Hormone trục vùng dưới đồi – tuyến yên – buồng trứng
2.1. Hormone GnRH của vùng dưới đồi
2.1.1. Nguồn gốc và bản chất hóa học của GnRH
GnRH là một peptid có 10 acid amin được bài tiết theo nhịp từ các tận
cùng thần kinh vùng lồi giữa, than của những neuron này khu trú ở nhân (arcuate
nuclei) của vùng dưới đồi. Nhịp bài tiết là 1 – 3 giờ một lần, mỗi lần kéo dài
trong vài phút [4].
2.1.2. Tác dụng của GnRH
GnRH kích thích tế bào thùy trước tuyến yên bài tiết cả FSH và LH. Tuy
nhiên, nhịp bài tiết LH liên quan chặt chẽ với nhịp bài tiết GnRH hơn là FSH.
Có lẽ chính vì lý do này mà nhiều khi người ta gọi GnRH là LHRH. Vắng mặt
GnRH hoặc nếu đưa GnRH liên tục vào máu đến tuyến yên thì cả FSH và LH
đều không được bài tiết [4].

chu kỳ kinh nguyệt còn ở nam giới thì không thấy hiện tượng này [4]. Nồng độ
hai hormone này ở người Việt Nam được trình bày ở bảng 1 [2].
Bảng 1. Nồng độ FSH và LH ở phụ nữ Việt Nam
Thời gian
LH (IU/L)
FSH (IU/L)
Giai đoạn đầu của chu kỳ kinh nguyệt
3,94 – 7,66
1,45 – 2,33
Nồng độ đỉnh
44,12 – 59,60
8,87 – 11,43
Ngày xuất hiện
16,54 ± 3,86
16,06 ± 2,89
Giai đoạn hai của chu kỳ kinh nguyệt
2,44 – 4,09
0,43 – 0,84
Chuyên đề Tiến sĩ Page 6

2.2.4. Điều hòa bài tiết FSH và LH ở nữ
Tác dụng feedback âm ở estrogen và progesteron: cả estrogen và
progesteron đều gây ức chế bài tiết FSH và LH, tuy nhiên khi có mặt
progesteron thì tác dụng ức chế của estrogen được nhân lên nhiều lần. Estrogen
và progesteron điều hòa bài tiết FSH và LH bằng cách tác dụng trực tiếp lên
tuyến yên còn tác dụng lên vùng dưới đồi thì yếu và chủ yếu để làm thay đổi
nhịp bài tiết GnRH [4].
Tác dụng feedback dương tính của estrogen vào thời điểm 24 – 28 giờ
trước khi phóng noãn nồng độ estrogen trong máu rất cao đã kích thích tuyến
yên bài tiết FSH và đặc biệt là LH, dẫn tới nồng độ của hai hormone này tăng

estriol yếu. Do vậy, nếu chức năng gan yếu, hoạt tính estrogen sẽ tăng và đôi khi
có thể gây ra cường estrogen [5].

Chuyên đề Tiến sĩ Page 8

2.3.3. Tác dụng của estrogen
Receptor của estrogen nằm
trong bào tương tế bào [4]. Có hai
loại receptor là α và β [14]. Khi
estrogen đến tuyến đích, nó sẽ đi qua
màng tế bào vào gắn lên receptor.
Phức hợp hormone – receptor sẽ tác
động lên gen làm hoạt hóa quá trình
sinh tổng hợp protein của tế bào [4].
Tuy nhiên, estrogen cũng có những
tác động rất nhanh gọi là những ảnh
hưởng không qua gen, không phụ
thuộc và receptor như tác dụng chống
oxi hóa giúp bảo vệ cơ thể chống lại
sự thoái hóa thần kinh và xơ vữa động mạch [14].
Các tác dụng chính của estrogen là [5], [11], [13], [14], [17]:
Làm xuất hiện và bảo tồn các đặc tính sinh dục nữ thứ phát từ tuổi dậy
thì, bao gồm phát triển cơ quan sinh dục, phát triển lớp mỡ dưới da, giọng nói
trong, dáng mềm mại, cách mọc lông, tóc,
Tác dụng lên tử cung:
Làm tăng kích thước tử cung ở tuổi dậy thì và khi có thai;
Kích thích sự phân chia lớp nền là lớp tái tạo ra lớp chức năng trong nửa
đầu chu kỳ kinh nguyệt;
Tăng tạo các mạch máu mới ở lớp chức năng và làm cho các mạch máu
này trở thành các động mạch xoắn cung cấp máu cho lớp niêm mạc chức năng.

hormone trên hủy cốt bào (osteoclast).
Chuyên đề Tiến sĩ Page 10

Tác dụng lên mạch máu: estrogen làm giảm nồng độ cholesterol trong
huyết tương và gây giãn mạch do kích thích sản xuất NO. Những tác dụng này
ức chế hình thành mảng xơ vữa do đó làm giảm nguy cơ mắc các bệnh tim mạch
ở phụ nữ trước mãn kinh. Tuy nhiên nếu sử dụng estrogen theo đường uống với
liều cao có thể gây huyết khối.
Ngoài ra, estrogen còn có những ảnh hưởng lên hệ thần kinh trung ương
như vấn đề học tập, trí nhớ, khả năng nhận thức, kỹ năng vận động chính xác,
điều hòa than nhiệt, xúc cảm, điều hòa bài tiết các hormone hướng sinh dục và
cả hormone GH, prolactin [14] và người ta còn cho rằng estrogen làm chậm sự
tiến triển của bênh Alzheimer [17].
2.3.4. Điều hòa bài tiết estrogen
Nồng độ estradiol trong huyết thanh của phụ nữ bình thường ở nửa đầu
chu kỳ kinh nguyệt là 158,74 – 268,73 pmol/L, ở nửa sau chu kỳ kinh nguyệt là
236,14 – 325,69 pmol/L và vào giữa chu kỳ kinh nguyệt (ngày thứ 15,09 ± 2,93)
nồng độ estradiol đạt giá trị cao nhất là 725,18 – 925,28 pmol/L [2].
Estrogen được bài tiết nhiều hay ít tùy thuộc vào nồng độ LH của tuyến
yên. Nồng độ LH tăng sẽ kích thích các tế bào của lớp áo trong nang trứng bài
tiết estrogen. Ngược lại, nồng độ LH giảm thì estrogen cũng được bài tiết ít đi
[5], [13].
2.4. Hormone progesteron của buồng
trứng
2.4.1. Nguồn gốc và bản chất hóa học
của progesteron
Progesteron được bài tiết chủ yếu
từ hoàng thể trong nửa sau của chu kỳ
kinh nguyệt. Nang trứng ở nửa đầu chu
Chuyên đề Tiến sĩ Page 11

Tác dụng lên tuyến vú: làm phát triển thùy tuyến, kích thích các tế bào
tăng sinh, to lên và trở lên có khả năng bài tiết.
Làm tăng tái hấp thu ion Na
+
, Cl
-
và nước ở ống lượn xa.
Tác dụng lên than nhiệt: làm tăng nhiệt độ cơ thể, do vậy ở nửa sau chu kỳ
kinh nguyệt, thân nhiệt người phụ nữ thường cao hơn nửa đầu chu kỳ kinh
nguyệt khoảng 0,3 – 0,5
o
C.
2.4.4. Điều hòa bài tiết progesteron
Ở nửa đầu chu kỳ kinh nguyệt, nồng độ progesteron trong huyết tương rất
thấp, chỉ vào khoảng 2,228 – 2,710 nmol/L. Trong nửa sau của chu kỳ kinh
nguyệt, nồng độ progesteron tăng gấp 3 đến 5 lần và vào khoảng 7,89 – 13,27
nmol/L [2].
Sự bài tiết progesteron chịu ảnh hưởng điều khiển trực tiếp của hormone
LH do tuyến yên bài tiết. Nồng độ LH tăng trong máu, hoàng thể sẽ được nuôi
dưỡng và bài tiết nhiều progesteron. Ngược lại, nếu tuyến yên bài tiết ít LH,
hoàng thể sẽ bị thoái hóa và progesteron được bài tiết ít đi [5], [13], [17].
3. Thay đổi nồng độ hormone trục vùng dưới đồi – tuyến yên – buồng trứng
trong một số trạng thái sinh lý
3.1. Giai đoạn dậy thì
Sau khi buồng trứng không hoạt động cho tới khi nhận được những kích
thích phù hợp từ tuyến yên. Hai buồng trứng bắt đầu hoạt động, thể hiện bằng
hoạt động giao tử và bài tiết hormone sinh dục nữ dẫn đến những thay đổi về thể
chất, tâm lý, sự trưởng thành và hoàn thiện về chức năng sinh dục. Thời kỳ phát
triển và trưởng thành này được gọi là thời kỳ dậy thì [5].
Chuyên đề Tiến sĩ Page 13

đổi thành hoàng thể và bài tiết progesteron, estrogen. Progesteron làm niêm mạc
Chuyên đề Tiến sĩ Page 15

tử cung dày nhanh, động mạch xoắn lại, các tuyến dài ra cong queo và bài tiết
dịch. Khoảng hai ngày cuối của chu kỳ kinh nguyệt, hoàng thể đột nhiên bị thoái
hóa. Nồng độ progesteron và estrogen đột ngột giảm xuống mức thấp nhất. Hiện
tượng này làm niêm mạc tử cung bị thoái hóa tời 65% chiều dày, bong ra và gây
hành kinh [5].
3.3. Mang thai, chuyển dạ và cho con bú
Khi có thai, tuyến yên người mẹ to gấp rưỡi so với bình thường. Tuyến
yên tăng bài tiết một số hormone như ACTH, TSH, prolactin; ngược lại giảm bài
tiết FSH, LH. Trong lúc đó, estrogen và progesteron được bài tiết từ hoàng thể
trong khoảng 10 – 12 tuần đầu, sau đó các tế bào lá nuôi của rau thai tiếp tục bài
tiết với nồng độ tăng dần [5].
Estrogen do rau thai bài tiết hầu hết là loại estriol, có tác dụng làm tăng
kích thước và trọng lượng cơ tử cung, phát triển ống tuyến vú và mô đệm, giãn
khớp mu, giãn dây chằng, tăng tốc độ sinh sản tế bào ở các mô của thai.
Progesteron đóng vai trò làm phát triển tế bào màng rụng ở niêm mạc tử cung,
giảm co bóp cơ tử cung, tăng bài tiết dịch vòi trứng và niêm mạc tử cung để
cung cấp chất dinh dưỡng cho phôi, ảnh hưởng đến quá trình phân chia của
trứng đã thụ tinh, làm phát triển thùy và bọc tuyến vú. Progesteron ức chế co cơ
tử cung giúp thai yên ổn phát triển trong tử cung. Ngược lại, estrogen làm tăng
co cơ tử cung. Cả hai hormone này đều được bài tiết tăng dần trong thời kỳ có
thai. Tuy nhiên từ tháng thứ 7, trong khi estrogen tiếp tục tăng thì progesteron lại
không tăng hoặc có khi còn giảm và người ta cho rằng sự thay đổi về tỷ lệ giữa
hai hormone này đã làm tăng co cơ tử cung, tạo điều kiện cho sự chuyển dạ [5].
Bên cạnh đó, khi mang thai estrogen và progesteron làm phát triển tuyến
vú chuẩn bị cho tác dụng tạo sữa của prolactin sau này. Nhưng đồng thời,
estrogen và progesteron lại ức chế bài tiết sữa nên tuyến sữa chỉ bài tiết vài
Chuyên đề Tiến sĩ Page 16

tính [3].
* Các biến đổi trên chuyển hóa xương
Lượng chất khoáng trong xương đạt 90% vào tuổi 18 và đạt tới đỉnh ở tuổi
30. Sauk hi đạt tới giá trị tối đa, khối xương giảm dần theo tuổi. Như vậy, mất
xương được xem là một hiện tượng sinh lý bình thường của cơ thể [1]. Sự mất
xương sinh lý một cách rõ rang xảy ra ở cả nam giới và phụ nữ khi quá 50 tuổi,
tuy nhiên phụ nữ mất xương với tốc độ nhanh hơn [9], [11]. Tiêu xương là hiện
tượng tất yếu xảy ra ở tất cả phụ nữ mãn kinh và lượng estrogen thấp được xem
là thủ phạm làm tăng tốc độ mất xương ở thời kỳ này [1], [6], [9], [12]. Cơ chế
của thiếu estrogen gây mất xương vẫn chưa biết đầy đủ. Khi mãn kinh có sự gia
tăng tái tạo xương nhưng theo chiều hướng mất cân bằng giữa tiêu xương và tạo
xương mà trong đó hoạt động của hủy cốt bào mạnh hơn. Một số nghiên cứu đã
ghi nhận vai trò của các cytokine như IL-1, 6, 11 và THF-α làm tăng sự tiêu
xương do kích hoạt hủy cốt bào khi thiếu estrogen. Đồng thời, các nghiên cứu
cũng xác nhận vai trò của liệu pháp hormone thay thế trong việc làm giảm bớt sự
mất kinh ở thời kỳ mãn kinh và xem đây là một biện pháp điều trị dự phòng
loãng xương [1], [6], [8], [11], [12].
* Các biến đổi trên chuyển hóa lipid
Trong thời kỳ mãn kinh có sự gia tăng nồng độ cholesteron toàn phần, low
density lipoprotein cholesteron (LDL – cholesteron), triglyceride và giảm high
density lipoprotein cholesteron (HDL – cholesteron) trong máu. Những thay đổi
này làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch và bắt đầu xảy ra khoảng hai năm trước khi
mãn kinh. Ở cả hai giới, cholesteron toàn phần tăng theo tuổi; tuy nhiên với phụ
nữ trên 50 tuổi mức tăng này trở lên đột biến. Các nghiên cứu cho thấy LDL
Chuyên đề Tiến sĩ Page 18

tăng rất nhanh trong khi HDL giảm từ từ và loại LDL lưu hành chủ yếu là loại
nhỏ, đặc dễ gây xơ vữa động mạch hơn so với loại LDL ở phụ nữ trước mãn
kinh [1], [9], [15], [16], [18].
Người ta cho rằng các biến đổi chuyển hóa lipid có liên quan một phần

estradiol, progesterone theo vòng kinh”, Kết quả bước đầu nghiên cứu một số
chỉ tiêu sinh học người Việt Nam, Nxb Y học, tr 129.
3. Columbia University (1996), Thiếu hụt estrogen và mãn kinh, nhóm bác sĩ
Bệnh viện Từ Dũ, Tp. Hồ Chí Minh.
4. Phạm Thị Minh Đức (2005), “Sinh lý nội tiết”, Sinh lý học, 2, Nxb Y học, tr
32 – 118.
5. Phạm Thị Minh Đức (2005), “Sinh lý sinh sản”, Sinh lý học, 2, Nxb Y học, tr
119 – 164.
6. Nguyễn Gia Đức (1995), “Chứng loãng xương ở tuổi mãn kinh và hormone
liệu pháp thay thế”, Nội san Phụ sản, 1, Hội Phụ sản Việt Nam, Hà Nội, tr 21
– 25.
7. Nguyễn Thị Hà (2001), “Chuyển hóa Lipid”, Hóa sinh, Nxb Y học, tr 318 –
376.
8. Nguyễn Khắc Liêu (2000), “Sinh lý sự mãn kinh”, Chẩn đoán và điều trị phụ
nữ tuổi mãn kinh, Viện Bảo vệ bà mẹ và trẻ sơ sinh, Hà Nội, tr 1 – 11.
9. Trần Minh Mẫn (1993), “Rối loạn mãn kinh”, Một số vấn đề lý luận và thực
tiễn về lão khoa cơ bản, Viện Bảo vệ sức khỏe người cao tuổi, tr 181 – 186.
10. Nguyễn Quang Quyền (1997), “Gian não”, Giải phẫu học, tập 2, Nxb Y học,
tr 323 – 332.
11. Trần Đức Thọ (1999), Bệnh loãng xương ở người cao tuổi, Nxb Y học, Hà
Nội
Chuyên đề Tiến sĩ Page 21

12. Mai Thế Trạch (1998), “Bệnh xương do chuyển hóa”, Nội tiết học đại
cương, Nxb Tp.Hồ Chí Minh, tr 674 – 686.
13. Nguyễn Thị Xiêm (1998), Nội tiết học về sự sinh sản người, Nxb Y học, Hà
Nội.
14. Jan – Ake Gustafsson, Stefan Nilson (2002), “Physiological role of estrogen
and estrogen receptors”, International position paper on Women’s health and
Menopause: A comprehensive approach, NIH publication, No. 02 – 3284. pp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status