LỜI NÓI ĐẦU
Nhằm củng cố kiến thức học tập, vận dụng những lý thuyết vào thực tế
và hoàn thành chương trình học tập theo quy trình đào tạo của nhà trường.
Được sự đồng ý của Ban giám hiệu trường Đại học Lâm nghiệp, chủ nhiệm
khoa Lâm học, bộ môn Lâm sinh và sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo
GS.TS Ngô Quang Đê, tôi thực hiện khóa luận nghiên cứu với nội dung:
“Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên và ảnh hưởng của các nhân
tố sinh thái tới tái sinh tự nhiên ở các trạng thái rừng III
A1
, III
A2
và III
A3
tại
vườn quốc gia Ba Vì – Hà Nội”.
Nhân dịp hoàn thành khóa luận, tôi xin chân thành cảm ơn:
Thầy giáo GS.TS Ngô Quang Đê đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong
suốt quá trình thực tập và viết báo cáo. Đồng cám ơn các thầy, cô giáo trong
bộ môn Lâm sinh đã giúp tôi hoàn thành khóa luận này.
Ban quản lý Vườn Quốc gia Ba Vì – Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi
trong suốt thời gian thực tập tại đó.
Bạn bè, gia đình luôn động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và
thực hiện khóa luận.
Mặc dù có sự cố gắng, nỗ lực song do thời gian thực tập có hạn, trình độ
bản thân còn hạn chế nên bài khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót. Vì
vậy, tôi rất mong nhận được sự nhận xét và đóng góp ý kiến của các thầy, cô
giáo và các bạn để bài khóa luận được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà nội, ngày 13 tháng 5 năm 2011
Sinh viên thực hiện
Trần Thị Phượng
thỏa đáng khi có những hiểu biết và kiến thức về tái sinh tự nhiên diễn ra dưới
tán rừng. Đó là cơ sở khoa học cho những tác động lâm sinh hợp lý và việc
quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
3
Xúc tiến tái sinh tự nhiên là phương pháp có thể áp dụng trên diện
rộng, những nơi con người khó có thể trồng trực tiếp. Hơn nữa xúc tiến tái
sinh tự nhiên cho cây con phẩm chất tốt, năng lực sinh trưởng mạnh, khả năng
sống cao, duy trì được nguồn gen những loài cây bản địa có giá trị và giảm
được chi phí cho phát triển vốn rừng.
Từ thực tế đó việc nghiên cứu các đặc điểm tái sinh tự nhiên và những
tác động của các yếu tố đến tái sinh tự nhiên là rất cần thiết. Vì vậy, tôi thực
hiện đề tài : “Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên và ảnh hưởng của các
nhân tố sinh thái tới tái sinh tự nhiên ở các trạng thái rừng III
A1
, III
A2
và
III
A3
tại vườn quốc gia Ba Vì – Hà Nội”. Nhằm đánh giá chất lượng và số
lượng cây tái sinh ở các trạng thái rừng III
A1
, III
A2
và III
A3
phục vụ cho việc
đánh giá khả năng tái sinh tự nhiên. Từ đó đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm
sinh xúc tiến tái sinh rừng tại Vườn Quốc gia Ba Vì - Hà Nội.
Phần I
chỉ tiêu gián tiếp đó là độ tàn che của rừng hoặc độ khép tán của tầng cây gỗ.
Chỉ tiêu độ tàn che được sử dụng rộng rãi trên thế giới là chỉ tiêu đo theo
David; P.W.Richard (1934, 1935)
Đối với rừng mưa nhiệt đới, có nhiều công trình nghiên cứu cách thức xử
lý lâm sinh tại Châu Phi, Châu Mỹ, Châu Úc… Riêng khu vực Đông Nam Á
chưa được nghiên cứu nhiều. Kết quả nghiên cứu của G. Baur [16] đã chỉ ra
rằng, sự thiếu hụt ánh sáng ảnh hưởng chủ yếu đến sinh trưởng và phát triển
của cây con.
Tầng cây bụi thảm tươi cũng có ảnh hưởng lớn tới quá trình tái sinh của
các loài cây gỗ. Ghent.A.W (1969) sau khi nghiên cứu ảnh hưởng của các
5
nhân tố đến tái sinh rừng đã đưa ra nhận xét: Thảm mục, chế độ thủy nhiệt và
tầng đất mặt đều có quan hệ với tái sinh rừng ở mức độ khác nhau.
Ảnh hưởng của cấu trúc quần thụ tới tái sinh được Andel.S (1981) cho
thấy độ đầy tối ưu cho sự phát triển bình thường của cây gỗ là từ 0,6 – 0,7. Độ
khép tán của quần thụ có quan hệ với mật độ và sức sống của cây con.
V.Gkarpov (1969) nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa cây con và quần thụ
đã chỉ ra đặc điểm phức tạp trong quan hệ cạnh tranh về dinh dưỡng khoáng
trong đất, ánh sáng, độ ẩm và tính chất thuần nhất của quan hệ qua lại giữa
các thực vật tùy thuộc vào đặc tính sinh vật học, tuổi và điều kiện sinh thái
của quần thể thực vật.
Bannikov (1967), Vipper (1973) chỉ ra rằng: Những quần thụ kín tán, đất
khô và nghèo dinh dưỡng khoáng, thảm cỏ phát triển kém ảnh hưởng đến cấu
trúc cây gỗ non không đáng kể. Ngược lại, những lâm phần thưa, rừng đã qua
khai thác, thảm cỏ có điều kiện phát sinh mạnh mẽ, trong điều kiện này chúng
là nhân tố gây trở ngại lớn cho quá trình tái sinh rừng.
Về điều tra và đánh giá tái sinh tự nhiên trong rừng nhiệt đới,
M.Loeschau (1977) [17] đã đưa ra một số đề nghị: Để đánh giá một khu rừng
có tái sinh đạt yêu cầu hay không phải áp dụng phương pháp điều tra rút mẫu
ngẫu nhiên, trừ trường hợp đặc biệt có thể dựa vào những nhận xét tổng quát
1ha có đến 100 loài, cùng một lúc không thể kể hết được, vì vậy người ta chỉ
kể đến loài nào có số lượng cá thể nhiều nhất trong các tầng quan trọng (tính
theo loài cây ưu thế hoặc nhóm loài ưu thế).
Theo Phùng Ngọc Lan (1986) [8], do cây mạ có tính chịu bóng nên một
số lượng lớn cây tái sinh phân bố chủ yếu ở cấp chiều cao thấp, trừ một số
7
loài cây ưa bóng cực đoan, tổ thành loài cây tái sinh dưới tán rừng ít nhiều
đều lặp lại gần giống tổ thành tầng cây cao của quần thể.
Ở nước ta, việc nghiên cứu về cường độ ánh sáng cho cây tái sinh dưới
tán rừng còn hạn chế. Cho đến nay, việc nghiên cứu cường độ ánh sáng dưới
tán rừng được thực hiện chủ yếu theo chiều hướng định tính như vẽ trắc đồ,
thông qua độ tàn che của rừng mà chưa có nghiên cứu định lượng…
Phùng Tửu Bôi (1978) [6] khi nghiên cứu về tái sinh tự nhiên ở Kon Hà
Nừng đã nhận xét: Dưới tán rừng thường xanh loài cây phong phú, trên 100m
2
có từ 15 – 20 loài, về cơ bản thành phần loài cây tái sinh dưới tán rừng trùng
lặp với thành phần loài cây mẹ tầng trên, mặc dù cũng có sự khác nhau nhất
định. Số lượng cây tái sinh giảm theo chiều cao, chỉ có một số loài phân bố
liên tục. Khả năng gieo giống và nảy mầm của các loài cây là rất mạnh.
Nguyễn Duy Chuyên (1985) [7] khi nghiên cứu quy luật phân bố cây tái sinh
tự nhiên cho rằng trong các ô đo đếm có 35% cây tái sinh có chiều cao từ 2m
trở lên, 47% cây tái sinh chất lượng tốt, 37% cây tái sinh chất lượng trung
bình, còn lại là xấu. Trần Xuân Thiệp (1995) [12] cho rằng rừng tự nhiên
miền Bắc có khả năng tái sinh tự nhiên khá tốt về số lượng, có khả năng đảm
bảo cho phục hồi rừng tự nhiên.
Nghiên cứu đặc điểm tái sinh rừng tự nhiên, Vũ Tiến Hinh (1991) [1] đã
đề cập đến tái sinh theo thời gian của cây rừng và ý nghĩa của nó trong kinh
doanh rừng. Tác giả cho biết hệ số tổ thành tính theo phần trăm của tầng cây
cao và tầng cây tái sinh có liên hệ chặt chẽ với nhau theo phương trình:
n% = a + b.N% (1.1)
2.1.2. Địa hình, địa thế
Ba Vì là vùng núi trung bình, núi thấp và vùng đồi nối tiếp với vùng bán
sơn địa. Vùng này có thể coi như vùng núi dải nổi lên giữa đồng bằng, chỉ
cách nơi hợp lưu của sông Đà và sông Hồng 30km về phía Nam. Ba đỉnh cao
nhất là đỉnh Vua (1270m), đỉnh Tản Viên (1227m) và đỉnh Ngọc Hoa
(1131m) ngoài ra còn có các đỉnh thấp hơn như Hang Hùm (776m), đỉnh Gia
Dễ (714m).
Khối núi Ba Vì nằm theo hai dải dông chính:
- Dải dông theo hướng Đông – Tây, từ suối Ổi đến cầu Lặt qua đỉnh Tản Viên
và Hang Hùm dài 9km.
9
- Dải dông theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, từ đỉnh Yên Sơn qua đỉnh Tản
Viên đến núi Quyết dài 11km.
Nói chung, Ba Vì là vùng đồi núi khá dốc. Sườn phía Tây đổ xuống sông
Đà dốc hơn so với sườn Tây Bắc và Đông Nam, độ dốc trung bình của khu
vực là 25
0
. Càng lên cao độ dốc càng tăng, từ cote 400m trở lên độ dốc trung
bình 35
0
và có nhiều vách đá. Ba Vì là một vùng cảnh quan đẹp, một vùng
sơn thủy hữu tình.
2.1.3. Đặc điểm khí hậu, thủy văn
a, Khí hậu
Đặc điểm chung của khí hậu Ba Vì được quyết định bởi các yếu tố: Vĩ
độ, cơ chế gió mùa, địa hình.
Khu vực Ba Vì nằm ở khoảng vĩ tuyến 21
0
Bắc, chịu tác động của cơ chế
gió mùa. Tác động phối hợp của vĩ độ và gió mùa tạo nên khí hậu nhiệt đới
thấp có kết von dạng hạt màu thẫm. Trong khu vực Ba Vì có những loại đất
chính sau:
+ Ở độ cao 800m – 1300m: Đất Feralit màu vàng trên núi trung bình, tầng đất
mỏng, phát triển trên đá poocfiarit, độ dốc lớn (25
0
– 35
0
), có nhiều nơi trên
35
0
, có nhiều đá lẫn và đá lộ đầu, đất chua (pH = 4 - 4,5).
+ Từ 400m – 800m: Đất Feralit vàng đỏ có mùn trên núi thấp tầng đất mỏng,
phát triển trên poocfiarit, độ dốc lớn, bình quân từ 25
0
– 35
0
, nhiều nơi lớn
hơn 35
0
, tầng đất mỏng, xói mòn rất mạnh, tỉ lệ đá lẫn cao, độ chua lớn (pH =
4 - 4,5).
11
+ Ở độ cao nhỏ hơn 400m: Đất Feralit điển hình nhiệt đới ẩm vùng đồi, màu đỏ
đến đỏ vàng phát triển trên phiến thạch sét, tầng dày đến trung bình, thành
phần cơ giới nặng.
2.1.5. Tài nguyên rừng
a, Rừng và thực vật rừng
Hiện trạng các loại đất đai và tài nguyên rừng:
Diện tích các loại đất đai:
Tổng diện tích đất tự nhiên của Vườn Quốc gia Ba Vì là 6.816 ha
thập mẫu, hệ thực vật khu vực Ba Vì có khoảng 812 loài thực vật bậc cao
thuộc 472 chi, 99 họ.
d, Hệ động vật
Năm 1962 đã thống kê có 44 loài thú, 115 loài chim, 11 loài bò sát, 8
loài lưỡng cư. Trong đó, có 24 loài quý hiếm.
Năm 1993 qua điều tra của Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh Vật cho
thấy ở đây còn có 35 loài thú, 113 loài chim, 49 loài bò sát, 27 loài lưỡng cư
và 87 loài côn trùng.
Ba Vì là vùng núi độc lập nổi lên giữa vùng đồng bằng với diện tích
rừng tự nhiên chỉ còn trên 1.700 ha chủ yếu tập trung ở trên đỉnh núi do vậy
sự di cư của thú rừng từ nơi khác đến là rất hạn chế.
2.2. Đặc điểm kinh tế -xã hội
Trước năm 1991 Ba Vì trực thuộc Sở Nông lâm Thành phố Hà Nội có
tên là Rừng cấm Quốc gia Ba Vì có nhiệm vụ quản lý, bảo vệ, phục hồi lại tài
nguyên rừng đã mất. Trên địa bàn có các Lâm trường như: Lâm trường Ba Vì,
Xí nghiệp Kanh Ki Na, Lâm trường trồng rừng Thanh Niên, Trung tâm giáo
dục hướng nghiệp Lâm nghiệp. Từ ngày 18/12/1991 Rừng cấm Quốc gia Ba
Vì đổi tên thành Vườn Quốc gia Ba Vì trực thuộc Bộ Lâm nghiệp nay là Bộ
Nông nghiệp & PTNT quản lý do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nay là Thủ
tướng Chính phủ quyết định.
13
2.2.1. Đặc điểm dân cư
Đất thổ cư nằm dưới cote 75m với tổng dân số là 46.547 người trong
10.125 hộ. Trong đó, dân tộc Kinh là 27.369 người (7.105 hộ), dân tộc
Mường có 17.502 người (2.720 hộ), dân tộc Dao có 1.676 người (300 hộ)
BIỂU THỐNG KÊ DÂN SỐ 7 XÃ VÙNG ĐỆM
ST
T
Xã Số hộ Số khẩu Lao động Dân tộc
1 Khánh Thượng 1.634 7.112 3.094 Kinh, Mường
Các loại cây ăn quả, cây công nghiệp dài ngày còn ít, những vùng có độ
dốc và tầng đất dày rất thích hợp với trồng chè, vải, nhãn, xoài … Hiện nay,
sắn vẫn là cây chiếm diện tích lớn và là cây lương thực quan trọng sau lúa.
Phần III
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên và ảnh hưởng của một số nhân tố
sinh thái tới tái sinh rừng. Từ đó đề xuất biện pháp lâm sinh tác động hợp lý
để nâng cao hiệu quả tái sinh phục hồi rừng tại Vườn Quốc gia Ba Vì.
3.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài chủ yếu là lớp cây tái sinh của rừng tự
nhiên tại Vườn Quốc gia Ba Vì trước kia bị tác động nhưng đã có thời gian
phục hồi.
15
3.2.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên dưới tán rừng ở các trạng
thái rừng III
A1
, III
A2
và III
A3
(Theo phân loại trạng thái rừng của Loeschau) tại
Vườn Quốc gia Ba Vì – Hà Nội.
3.3. Nội dung nghiên cứu
Căn cứ vào mục tiêu, đối tượng và giới hạn nghiên cứu đề tài thực hiện
các nội dung chính sau:
3.3.1. Nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc tầng cây cao
Tái sinh rừng tự nhiên là quá trình tái sinh xảy ra ở rừng tự nhiên nhưng
có sự định hướng và điều khiển của các nhà lâm học dựa trên sự hiểu biết quy
luật phát triển của rừng. Đa số rừng tự nhiên hiện nay bị tác động của con
người nhưng đã có thời gian phục hồi. Nếu đối tượng rừng này để tái sinh tự
nhiên không có tác động của con người thì rừng vẫn trở lại trạng thái tự nhiên
ổn định như ban đầu, song thời gian phục hồi là rất dài, tùy thuộc vào hoàn
cảnh rừng và mức độ tác động trước kia của con người. Vì vậy, để rút ngắn
được thời gian đó và nâng cao hiệu quả của việc tái sinh thì cần phải có sự
định hướng, điều khiển của các nhà lâm học trên cơ sở sự hiểu biết về các quy
luật phát triển của rừng nói chung và tái sinh rừng nói riêng. Tái sinh tự nhiên
có quy luật riêng, tái sinh rừng là một quy luật cơ bản nhất trong đời sống của
rừng. Tái sinh tự nhiên là quá trình thế hệ cây con của tầng cây gỗ được sinh
ra để chuẩn bị thay thế cho những cây gỗ già cỗi và tiêu vong. Do đó, cây tái
sinh là tương lai của rừng, nên tái sinh rừng là quy luật cơ bản của đời sống
rừng. Nó quyết định tính bền vững, lâu dài và chiều hướng diễn thế của rừng.
Tái sinh rừng là một hiện tượng sinh học, là biểu hiện của một cơ thể
sống, cho nên nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó nhân tố quan trọng là
tiểu hoàn cảnh rừng như điều kiện tiểu khí hậu, đây là nhân tố có ảnh hưởng
quyết định đến số lượng và chất lượng của quá trình tái sinh rừng, mà tầng
cây cao và cây bụi, thảm tươi là nhân tố chi phối tiểu hoàn cảnh rừng. Vì vậy,
việc nghiên cứu ảnh hưởng của tầng cây cao và cây bụi thảm tươi đến cây tái
sinh là việc làm cần thiết.
3.4.2. Phương pháp thu thập số liệu
a, Phương pháp kế thừa
Đề tài đã kế thừa những thông tin cơ bản về khu vực nghiên cứu:
17
Ô1
Ô4
Trong mỗi OTC tiến hành đánh số thứ tự tất cả các cây gỗ trong OTC để
điều tra các chỉ tiêu cần thiết sau:
- Xác định tên cây từng cá thể theo tên phổ thông.
- Đo đường kính ở vị trí 1,3m (D
1.3
) cho tất cả các cây gỗ trong OTC (D
1.3
≥
6cm) bằng thước kẹp kính với độ chính xác cao. Đo theo hai chiều Đông –
Tây, Nam – Bắc sau đó lấy giá trị trung bình.
18
- Đo chiều cao vút ngọn (Hvn) và chiều cao dưới cành (Hdc) các cây đã đo
đường kính bằng thước Blumleiss.
- Đo đường kính tán (Dt) bằng thước dây theo hai chiều vuông góc sau đó lấy
trung bình.
Kết quả điều tra tầng cây cao được ghi vào biểu 01:
Biểu 01: BIỂU ĐIỀU TRA TẦNG CÂY CAO
Vị trí: Ngày điều tra:
Hướng dốc: Người điều tra:
Độ dốc: Số hiệu OTC:
TT Loài cây
D
1.3
(cm) D
t
(m)
Hvn
(m)
Hdc
(m)
- Trong mỗi ODB điều tra tình hình sinh trưởng của cây bụi, thảm tươi theo ba
cấp chất lượng: Tốt, trung bình và xấu.
Kết quả được ghi vào biểu 03:
Biểu 03: BIỂU ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH CÂY BỤI, THẢM TƯƠI
Vị trí: Ngày điều tra:
Hướng dốc: Người điều tra:
Độ dốc: Số hiệu OTC:
TT ODB
Loài cây
chủ yếu
Chiều
cao bình
quân(m)
Độ che
phủ
(%)
Độ
nhiều
Chất lượng
Tốt TB Xấu
1
2
• Điều tra đặc điểm tái sinh.
Khi điều tra cây bụi thảm tươi, tôi tiến hành điều tra tình hình tái sinh
trong mỗi ODB. Cần xác định các chỉ tiêu sau:
- Xác định tên phổ thông của các loài cây tái sinh.
20
TT
điểm đo
Giá trị
cây
Chiều cao (m) Sinh trưởng
Số
lượn
g
Nguồn gốc
<
0,5
0,5 -1 >1
Tố
t
T
B
Xấ
u
Hạt
Chồ
i
1
2
3.4.3. Phương pháp xử lý số liệu
Sử dụng phương pháp thống kê toán học trong Lâm nghiệp kết hợp với
sự trợ giúp của bảng tính excel để xử lý số liệu.
a, Đối với tầng cây cao.
• Xác định tổ thành tầng cây cao
Xác định tỷ lệ tổ thành loài theo phương pháp xác định chỉ số IV%
(Important value) của Daniel Mamillud, công thức IV% được tính như sau:
21
IV% = (1.2)
Trong đó:
- Để xác định xem loài nào được tham gia vào công thức tổ thành cây tái sinh
tôi dựa vào công thức sau: = (1.5)
Trong đó: là số lượng cá thể bình quân của một loài trong OTC.
N là tổng số lượng cá thể của các loài trong 1OTC.
m là tổng số loài trong 1OTC.
Loài nào có tổng số cây (n) lớn hơn số lượng cá thể bình quân của một
loài trong 1OTC (n ≥ ) thì được tham gia vào công thức tổ thành cây tái sinh.
- Xác định hệ số tổ thành của từng loài theo công thức:
Ki = × 10 (1.6)
Trong đó: Ki là hệ số tổ thành của loài i trong mỗi OTC.
Xi là số lượng cá thể của loài i trong mỗi OTC.
N là tổng số lượng cá thể của các loài trong một OTC.
- Cách viết công thức tổ thành:
+ Loài nào có Ki ≥ 0,5 được ghi vào công thức tổ thành và mang dấu dương.
+ Loài nào có Ki < 0,5 thì cộng gộp lại và mang dấu âm.
+ Loài nào có hệ số tổ thành lớn thì viết trước, loài nào có hệ số tổ thành nhỏ thì
viết sau.
+ Viết xong phải chú giải cho công thức tổ thành.
• Xác định mật độ cây tái sinh
Mật độ cây tái sinh được tính theo công thức:
23
N
ts
/ha = n (1.7)
Trong đó: N
ts
/ha là mật độ cây tái sinh trên 1ha.
n là tổng số cây tái sinh trong các ODB của 1 OTC.
là tổng diện tích của các ODB trong 1 OTC.
• Phân bố cây tái sinh theo chiều cao
24
Để có khu rừng tốt thì phải có các cây tái sinh có phẩm chất tốt. Vì vậy,
phẩm chất cây tái sinh là một yếu tố không thể bỏ qua khi nghiên cứu về tái sinh.
Đánh giá chất lượng cây tái sinh, đề tài dựa vào phẩm chất: Tốt, trung bình, xấu.
Tỷ số cây tái sinh theo từng cấp chất lượng được tính theo công thức sau:
n% = × 100 (1.11)
Trong đó:
n% là tỷ lệ phần trăm số cây của một cấp chất lượng trong một OTC
là số lượng cây tái sinh một của cấp chất lượng trong một OTC.
N là tổng số cây của các cấp chất lượng trong một OTC.
- Nguồn gốc cây tái sinh:
Có 2 loại tái sinh tự nhiên: Tái sinh hạt và tái sinh chồi. Tái sinh chồi tạo
ra những cây trong những năm đầu sinh trưởng nhanh hơn cây tái sinh hạt
nhưng về sau tốc độ sinh trưởng chậm dần lại, cuối cùng sinh trưởng kém hơn
cây hạt. Khi gốc mẹ chết, hệ rễ cây mẹ bị thối, cây chồi dễ bị sâu bệnh. Sức
chống chịu với hoàn cảnh sống của cây tái sinh chồi kém hơn cây tái sinh hạt.
Nguồn gốc cây tái sinh là một chỉ tiêu cho việc lựa chọn các biện pháp kỹ
thuật lâm sinh.
• Xác định cây tái sinh có triển vọng.
Cây tái sinh có triển vọng là cây có chiều cao lớn hơn hoặc bằng chiều
cao trung bình của cây bụi, thảm tươi. Tỷ lệ cây tái sinh có triển vọng được
xác định theo công thức:
N
tv
% = × 100 (1.12)
25