Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
LÊ ĐỨC THIỆN NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM TÁI SINH TỰ NHIÊN
TRONG MỘT SỐ QUẦN XÃ THỰC VẬT PHỤC HỒI
SAU NƢƠNG RẪY TẠI XÃ MỸ YÊN - HUYỆN ĐẠI TỪ -
TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. MA THỊ NGỌC MAI
THÁI NGUYÊN - 2014
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin can đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi. Các
số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công
bố trong bất kỳ công trình nào khác. Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2014
Tác giả
Lê Đức Thiện
ii
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ chuyên
ngành Sinh thái học, khoa Sinh - KTNN Trường Đại học sư phạm - Đại học
Thái Nguyên, tôi đã nhận được sự ủng hộ giúp đỡ của các thầy cô giáo, các
đồng nghiệp, bạn bè và gia đình.
Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến TS. Ma Thị Ngọc
Mai - người thầy đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm
1.1.3. Phục hồi rừng 6
1.2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 6
1.2.1. Trên thế giới 6
1.2.2. Ở Việt Nam 13
Chƣơng 2: NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1. Nội dung nghiên cứu 21
2.1.1. Đặc điểm hệ thực vật và thảm thực vật xã Mỹ Yên. 21
2.1.2. Đặc điểm cấu trúc tổ thành loài và mật độ cây gỗ tái sinh sau
nương rẫy 21
2.1.3. Đặc điểm cấu trúc theo chiều đứng của các quần xã thực tái sinh
vật sau nương rẫy 21
2.1.4. Đặc điểm cấu trúc theo mặt phẳng nằm ngang của các quần xã
thực tái sinh vật sau nương rẫy 21
2.1.5. Đặc điểm tái sinh tự nhiên của các quần xã thực vật sau nương
rẫy 21
2.1.6. Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phục hồi rừng tại địa
phương nghiên cứu. 21
iv
2.2. Phương pháp nghiên cứu 21
2.2.1. Phương pháp lý thuyết 21
2.2.2. Phương pháp điều tra ngoài thực địa 21
2.2.3. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng 26
2.2.4. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm tái sinh rừng 26
Chƣơng 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KINH TẾ, XÃ HỘI KHU VỰC
NGHIÊN CỨU 30
3.1. Điều kiện tự nhiên 30
3.1.1. Vị trí địa lí 30
3.1.2. Địa hình 31
3.1.3. Khí hậu - Thủy văn 31
PHỤ LỤC
iv
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Cơ cấu kinh tế huyện Đại Từ 34
Bảng 4.1. Phân bố các taxon thực vật tại KVNC 36
Bảng 4.2. Tỉ lệ các dạng sống thực vật tại KVNC 42
Bảng 4.3. Phân bố số loài theo nhóm tần số 43
Bảng 4.4. Phân bố số loài theo cấp đường kính ở thảm thực vật xã Mỹ Yên 46
Bảng 4.5.Phân bố số cây theo cấp đường kính ở thảm thực vật tại KVNC 48
Bảng 4.6. Phân bố số cây theo cấp chiều cao trong thảm thực vật tại
KVNC ở thảm thực vật tại KVNC 51
Bảng 4.7. Phân bố số loài theo cấp chiều cao trong thảm thực vật tại
KVNC 53
Bảng 4.8. Chỉ số đa dạng sinh học tầng cây tái sinh xã Mỹ Yên 55
Bảng 4.9. Cấu trúc tổ thành và mật độ cây tái sinh tại KVNC 56
Bảng 4.10. Phân bố cây tái sinh theo mặt phẳng nằm ngang 59
Bảng 4.11. Chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh 60
Bảng 4.12. Dạng sống thực vật tại xã Mỹ Yên 63
Bảng 4.12. Dạng sống thực vật tại KVNC 63 v
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1. Sơ đồ bố trí các ô dạng bản trong OTC 23
Hình 3.1. Bản đồ vị trí địa lí huyện Đại Từ 30
Hình 4.1. Biểu đồ phân bố các taxon thực vật tại KVNC 37
Hình 4.2. Cấu trúc tầng phiến thảm thực vật tại KVNC 42
thì con người cũng ngày càng hiểu rõ vai trò của rừng đối với cuộc sống và có
ý thức hơn trong việc bảo vệ và phục hồi rừng. Nhiều tổ chức chính phủ và phi
chính phủ trên thế giới chuyên về tuyên truyền, đấu tranh, bảo vệ rừng ra đời
như IUCN, UNDP, WWF… đã thúc đẩy nỗ lực bảo vệ và phục hồi rừng. Ở
Việt Nam, từ khi Chính phủ ra chỉ thị 286/TTg (05/1997) về tăng cường các
biện phấp cấp bách để bảo vệ và phát triển rừng,cấm khai thác rừng tự
nhiên,diện tích rừng đã dần được phục hồi. Đến năm 2003 diện tích rừng cả
nước đã tăng lên 12 triệu ha (10 triệu ha rừng tự nhiên và 2 triệu ha rừng trồng),
tương đương với độ che phủ là 36%.
2
Để việc quản lý, khai thác và phục hồi rừng đạt hiệu quả cao cần có cơ
sở khoa học đúng đắn và hợp lý. Trong đó nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự
nhiên là một vấn đề cơ bản không thể thiếu.
Ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên diện tích đất có rừng là 27.764,8 ha
chiếm 48,5% diện tích tự nhiên của huyện, trong đó diện tích rừng tự nhiên là
13.466,4 ha chiếm 48,5%, còn lại là rừng trồng. Trước đây, do điều kiện kinh tế
còn khó khăn và thiếu đất sản xuất cùng tập quán canh tác của bà con dân tộc
nhiều diện tích rừng tự nhiên đã bị khai thác, làm rừng bị thoái hóa nghiêm
trọng, quá trình diễn thế xảy ra theo hướng thoái bộ nhất là ở những nơi không
được quản lý tốt.
Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu
đặc điểm tái sinh tự nhiên trong một số quần xã thực vật phục hồi sau
nương rẫy tại xã Mỹ Yên - Huyện Đại Từ - Tỉnh Thái Nguyên”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Về lý luận
Bổ sung thêm những hiểu biết về cấu trúc và tái sinh tự nhiên một số
quần xã thực vật phục hồi sau nương rẫy tại xã Mỹ Yên - Huyện Đại Từ - tỉnh
Thái Nguyên. Từ đó đề xuất các biện pháp tác động thích hợp nhằm đẩy nhanh
quá trình phục hồi rừng.
Như vậy thảm thực vật là một khái niệm chung chưa chỉ rõ đối tượng cụ
thể nào. Nó chỉ có ý nghĩa và giá trị cụ thể khi có định nghĩa kèm theo như:
thảm thực vật cây bụi, thảm thực vật rừng ngập mặn, thảm thực vật rừng mưa
nhiệt đới…
1.1.2. Tái sinh rừng
Tái sinh (Regeneration) là một thuật ngữ dùng để chỉ khả năng tái tạo,
hay tự hồi sinh từ mức độ tế bào đến mức độ mô, cơ quan, cá thể và thậm chí
cả một quần lạc sinh vật tự nhiên. Hiện nay, cùng với thuật ngữ này còn có một
số thuật ngữ được sử dụng rộng rãi như: “Rehabitilation” để chỉ sự phục hồi lại
bằng biện pháp quản lý, điều chế lại rừng đã bị suy thoái; “Restoration” để diễn
tả sự hoàn trả, sự lặp lại của toàn bộ quần xã sinh vật giống như nó đã xuất hiện
trong tự nhiên.
Tái sinh rừng (forestry regeneration) là một thuật ngữ được nhiều nhà
khoa học sử dụng để mô tả sự tái tạo (phục hồi) của lớp cây con dưới tán rừng.
Đó là sự xuất hiện các thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở những nơi còn
hoàn cảnh rừng như dưới tán rừng, khoảng trống trong rừng, trên đất rừng sau
khai thác hoặc sau khi làm nương rẫy, các cây con sẽ thay thế các cây già cỗi.
5
Theo nghĩa hẹp, tái sinh rừng là quá trình phục hồi lại thành phần cơ bản của
rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ.
Sự xuất hiện lớp cây con mới làm phong phú thêm số lượng và thành
phần loài trong quần thể thực vật đóng góp vào việc làm thay đổi cả quá trình
trao đổi vật chất và năng lượng trong hệ sinh thái rừng. Do đó theo nghĩa rộng
tái sinh rừng là sự tái sinh nhằm bảo đảm cho sự tồn tại liên tục của một hệ sinh
thái rừng. Theo Nguyễn Xuân Cự và Đỗ Đình Sâm có 3 phương thức cơ bản để
tái sinh rừng là:
+ Tái sinh tự nhiên: là quá trình tạo thành thế hệ cây rừng bằng con
đường tự nhiên, về cơ bản không sự tác động của con người. Kết quả tái sinh
phụ thuộc hoàn toàn vào các quy luật và điều kiện tự nhiên dựa trên nguồn
đoạn và kết thúc bằng sự xuất hiện một thế hệ mới thảm cây gỗ bắt đầu khép
tán (Trần Đình Lý ; (1995), [22].
Để tái tạo lại rừng người ta có thể sử dụng các biện pháp khác nhau
tùy theo mức độ tác động của con người, đó là: phục hồi nhân tạo (trồng
rừng), phục hồi tự nhiên và phục hồi tự nhiên có tác động của con người
(xúc tiến tái sinh).
Theo Hà Văn Tuế - Đỗ Hữu Thư - Lê Đồng Tấn (1985) [5] phục hồi
rừng sau nương rẫy là quá trình phục hồi lại hệ sinh thái rừng trên đất nương
rẫy đã bỏ hóa.
1.2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.2.1. Trên thế giới
1.2.1.1. Những nghiên cứu về cấu trúc rừng
Cấu trúc rừng là sự sắp xếp có tính quy luật của tổ hợp các thành phần cấu
tạo nên quần thể thực vật rừng theo không gian và thời gian. Cấu trúc rừng biểu
hiện quan hệ sinh thái giữa thực vật rừng với nhau với với các nhân tố môi trường
xung quanh gồm: Cấu trúc sinh thái tạo thành loài cây, dạng sống, tầng phiến; cấu
trúc hình thái tầng tán rừng; cẩu trúc đứng; cấu trúc theo mặt phẳng ngang (mật độ
và dạng phân bố cây trong quần thể); cấu trúc theo thời gian (theo tuổi).
7
Cấu trúc rừng phản ánh điều kiện sinh thái, những nơi có điều kiện môi
trường khắc nghiệt, cấu trúc trúc rừng đơn giản chỉ gồm những loài cây chống
chịu được môi trường đó. Nơi có môi trường thuận lợi, cấu trúc rừng phức tạp
và gồm nhiều loài cạnh tranh, có phần cộng sinh, kí sinh Vùng ôn đới , cấu
trúc rừng thường là thuần loài, đều tuổi, một tầng, rụng lá. Vùng nhiệt đới như
Việt Nam, cấu trúc rừng tự nhiên điển hình là rừng hỗn loài, nhiều tầng, thường
xanh quanh năm.
Nghiên cứu về cấu trúc rừng đã được các nhà lâm nghiệp và các nhà sinh
thái học trên thế giới quan tâm từ lâu. Có nhiều phương pháp nghiên cứu cấu
trúc rừng khác nhau tùy theo mục tiêu nghiên cứu nào đó. Tuy nhiên, nhìn
nhiều loại thực vật phụ sinh trên thân hoặc cành.
Phân tích bản chất sinh thái của mỗi hệ thực vật, thì từ đầu thế kỉ 19,
Humboldt và Grinsebach đã sử dụng dạng sinh trưởng của các loại cây chiếm
ưu thế và kiểu môi trường sống của chúng để biểu thị cho các nhóm thực vật.
Phương pháp này được các nhà sinh thái học Warming (1904) và Raunkiaer
(1934) tiếp tục phát triển. Đặc biệt hệ thống của Raunkiaer về sắp xếp các loài
của hệ thực vật vào một nhóm dạng sống nhất định vẫn được sử dụng rộng rãi
hiện nay. Cơ sở phân chia dạng sống của ông là sự khác nhau về khả năng
thích nghi của thực vật qua thời gian bất lợi trong năm. Từ tổ hợp các dấu
hiệu thích nghi, Raunkiaer chỉ chọn một dấu hiệu là vị trí của chồi nằm ở đâu
trên mặt đất trong suốt thời gian bất lợi trong năm. Raunkiaer đã chia 5 nhóm
dạng sống cơ bản:
1. Phanerophytes (Ph): Nhóm cây có chồi trên mặt đất
2. Chamaetophytes (Ch): Nhóm cây có chồi sát mặt đất
3. Hemicryptophytes (Hệ): Nhóm cây có chồi nửa ẩn
4. Cryptophytes (Cr): Nhóm cây có chồi ẩn
5. Therophytes (Th): Nhóm cây sống một năm
9
Với kiểu phân chia dạng sống này có ý nghĩa quan trọng trong việc phân
biệt được các kiểu thảm thực vật ở vùng ôn đới, đó là kết quả tác động tổng
hợp của các yếu tố môi trường tạo nên. Tuy nhiên đối với rừng nhiệt đới rất
khó áp dụng.
Theo Assmann (1968) "Một rừng cây là tổng thể các cây rừng sinh
trưởng và phát triển trên một diện tích tạo thành một hoàn cảnh nhất định và có
một cấu trúc bên ngoài cũng như bên trong, khác biệt với diện tích rừng khác"
(dẫn theo Trần Mạnh Cường, 2004). Với cách nhìn nhận này thì một kiểu rừng
phải có đầy đủ số lượng cây rừng nhất định để tạo ra tầng tàn, diện mạo nhằm
phân biệt với một rừng cây khác.
Khi đưa ra hệ thống phân cấp cây rừng Kraft (1984), đã chia cây rừng
Các tác giả này đã xây dựng được các phương trình hồi quy cho các kiểu
rừng khác nhau (số cây theo đường kính). Từ các nhân tố điều tra có thể suy ra
được các biến số khác thông qua phương trình hồi quy. Đây là cơ sở quan trọng
để ứng dụng trong điều chế rừng góp phần tìm ra một số kết luận bổ ích cho
công tác lâm sinh hướng vào mục tiêu xây dựng và nâng cao vốn rừng về lượng
và chất.
Theo Prodan (1952) nghiên cứu quy luật phân bố rừng theo đường kính
D1.3 có liên hệ với giai đoạn phát dục và các biện pháp kinh doanh. Theo tác
giả, sự phân bố số cây theo đường kính có giá trị đặc trưng nhất cho rừng, đặc
biệt là rừng hỗn loài, nó phản ánh các đặc điểm lâm sinh của rừng (dẫn theo
Trần Mạnh cường, 2007). Phân bố cây rừng tự nhiên mà ông xác định đã được
kiểm chứng ở rất nhiều nơi trên thế giới. Đó là phân bố số cây theo cấp đường
kính của rừng tự nhiên có một đỉnh lệch trái. Số cây tập trung nhiều ở cấp
đường kính nhỏ do có nhiều loài cây khác nhau và nhiều thế hệ cùng tồn tại
trong một kiểu rừng. Nếu xét về một loài cây, do đặc tính sinh thái nên lớp cây
kế cận (cây nhỏ) bao giờ cũng nhiều hơn lớp cây lớn đó quy luật cạnh tranh
không gian dinh dưỡng và đào thải tự nhiên; những nơi thuận lợi trong rừng
cây mới vươn lên để tồn tại và phát triển.
11
Còn phân bố số cây theo cấp chiều cao, rừng tự nhiên thường có quy luật
nhiều đỉnh do có nhiều thế hệ cùng tồn tại và đặc tính di truyền của một số loại
cây rừng chỉ lớn đến một kích cỡ nhất định nào đó sẽ không lớn nữa. Đồng
thời, việc phân bổ nhiều đình cũng là kết quả của việc khai thác chọn không
đúng quy tắc để lại.
1.2.1.2. Những nghiên cứu về tái sinh rừng
Tái sinh rừng là một quá trình sinh học diễn ra liên tục và mang tính đặc
thù của hệ sinh thái rừng. Sự xuất hiện của cây non của các loại cây đang phát
triển dưới tán rừng, lỗ trống trong rừng sâu khai thác chọn, sau phát nương làm
rẫy Vai trò quan trọng của lớp cây tái sinh này là nguồn thay thế cho lớp cây
Barnard (1955) xác định số lượng cây tái sinh trong rừng nhiệt đới thiếu hụt
cần thiết phải bổ sung bằng trong rừng nhân tạo. Ngược lại, các tác giả nghiên
cứu về tái sinh rừng nhiệt đới Châu Á như Bava (1954), Budowski (1956),
Atinot (1965) lại nhận định dưới tán rừng nhiệt đới nói chung có đủ số lượng
cây tái sinh có giá trị kinh tế, do vậy các biện pháp làm sinh đề ra cần thiết để
bảo vệ và phát triển cây tái sinh có sẵn dưới tán rừng (dẫn theo Nguyễn Duy
Chuyên, 1995).
Tác giả H. Lamprecht (1969) [67] căn cứ vào nhu cầu ánh sáng của các
loại cây trong suốt quá trình sinh sống để phân chia cây rừng nhiệt đới thành
các nhóm cây ưa sáng, nhóm cây bán chịu bóng và nhóm cây chịu bóng. G.N.
Baur (1976) [2] cho rằng, sự thiếu hụt ánh sáng ảnh hướng đến phát triển của
cây mắm ảnh hưởng này thường không rõ ràng và thảm cỏ, cây bụi có ảnh
hưởng đến sinh trưởng của cây tái sinh. Ở những quần thụ kín tán, thảm cỏ và
cây bụi kém phát triển nhưng chúng vẫn có ảnh hưởng đến cây tái sinh. Nhìn
chung ở rừng nhiệt đới, tổ thành và mật độ cây tái sinh thường khá lớn nhưng
số lượng loài cây tái sinh thường không nhiều và được chú ý hơn, còn các loài
cây có giá trị kinh tế thấp thường ít được nghiên cứu, đặc biệt là đối với tái sinh
ở các trạng thái rừng phục hồi sau nương rẫy.
13
Trong nghiên cứu tái sinh rừng người ta nhận thấy rằng thảm cỏ và cây
bụi quả thu nhận ánh sáng, độ ẩm và các nguyên tố dinh dưỡng của tầng đất
mặt đã ảnh hưởng xấu đến cây con tái sinh của các loại cây gỗ. Những quần thụ
kín tán, đất khô và nghèo chất dinh dưỡng khoáng do đó thảm cỏ và cây bụi
sinh trưởng và phát triển kém nên ảnh hưởng của nó đến các cây gỗ tái sinh
không đáng kể. Ngược lại, nhưng lâm phần thưa, rừng đã qua khai thác thì
thầm có có điều kiện phát sinh mạnh mẽ. Trong điều kiện này chúng là nhân tố
gây trở ngại rất lớn cho tái sinh rừng (Xannikov, 1967; Vipper, 1973).
Tái sinh tự nhiên của thảm thực vật sau nương rẫy được một số tác giả
nghiên cứu. Saldarriaga (1991) nghiên cứu tại rừng nhiệt đới ở Clombia và
than cây theo cấp đường kính, cấu trúc thân cây và tổng thiết diện ngang trên
mặt đất, cấu trúc của các loài cây gỗ…từ đó đưa ra kết luận và đề xuất các biện
pháp xử lý, điều tiết rừng nhằm cừa cung cấp gỗ vừa nuôi dưỡng, tái sinh là cơ
sở để phát triển rừng bền vững ở nước ta.
Trong nghiên cứu cấu trúc đứng, Nguyễn Văn Trương đã chia chiều cao
cây rừng từ đỉnh cây cao nhất đến đỉnh cây thấp nhất thành các cấp chiều cao,
tính số đỉnh tán cây trong từng cấp chiều cao. Mô tả phân bố ông có nhận xét:
Tuy diện tích tán cây lớp dưới thường nhỏ hơn lớp trên kế tiếp nhưng tổng tán
thì rất nhiều đã làm cho diện tích tán lớp dưới cũng rất lớn nên năng lượng ánh
sáng mặt trời xuống dưới thấp làm cho cây phát triển kém.
Để đảm bảo cho rừng phát triển liên tục trong điều kiện đào thải thì số
lượng lớp dưới phải nhiều hơn lớp trên. Trong lớp cây dày đặc này cũng có cây
già, riêng của nó và những cây trẻ đang sống tạm ở đó sẽ vươn lên. Theo
nghiên cứu của tác giả các nhà lâm sinh có thể điều tiết khéo léo trong khai
thác, thực hiện các giải pháp lâm sinh để thay đổi cấu trúc rừng tự nhiên nhằm
tiến tới cấu trúc của rừng chuẩn.
Theo xu hướng hiện đại, Nguyễn Văn Trương để khong chỉ dừng lại ở
việc chỉ mô tả định tính mà dùng phương pháp toán học để tiếp cận. Từ biểu
15
diễn quy luật tự nhiên của rừng bằng phương pháp định lượng theo mô hình
tương quan toán học phù hợp với quy luật sinh trưởng và phát triển của rừng.
Đây là công trình đầu tiên ở nước ta về nghiên cứu cấu trúc rừng tự nhiên hỗn
loại bằng phương pháp toán sinh học, góp phần quan trọng và bổ ích trong
nghiên cuu, quản lý tài nguyên bền vững có hiệu quả ở nước ta.
Phùng Ngọc Lan (1986), cấu trúc rừng là quy luật sp xếp tổ hợp của các
thành phần cấu tạo nên quần thể thực vật rừng theo không gian và thời gian,
cấu trúc rừng bao gồm cả về sinh thái lẫn hình thái quần thể thực vật. Nghiên
cứu cấu trúc rừng là nội dung quan trọng để phục vụ cho việc áp dụng các giải
pháp lâm sinh, lập kế hoạch kinh doanh rừng lâu dài.
sau nương rẫy để làm cơ sở đề xuất giải pháp khoanh nuôi, làm giàu rừng ở
huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã kết luận: giai đoạn phục hồi từ 1 - 2 tuổi
(hiện trạng là thảm cây bụi) thành phần thực vật 72 loài thuộc 36 họ và họ Hòa
thảo (Poaceae) có số lượng lớn nhất (10 loại), sau đó đến họ Thầu dầu
(Euphorbiaceae) 6 loài, họ Trinh nữ (Mimosaceae) và họ Cà phê (Rubiaceae)
mỗi hộ có 4 loài. Bốn họ có 3 loài là họ Long não (Lauraceae), Họ cam
(Rutaceae), họ Khúc khắc (Smilacaceae) và họ Cỏ roi ngựa (Verbrnaceae).
Ngoài ra, cấu trúc trạng thái thảm thực vật cây bụi này có số cá thể trong ô tiêu
chuẩn cao nhất nhưng lại có cấu trúc hình thái đơn giản, độ che phủ thấp nhất
75 - 80%, chủ yếu tập trung vào các loại cây bụi.
1.2.2.2. Những nghiên cứu về tái sinh rừng
Rừng Việt Nam bị tác động rất khác nhau về cường độ như: khai thác lấy
gỗ trái phép, khai thác chọn không đúng quy trình, phát rừng làm rẫy nên khả
năng tái sinh bị xáo trộn lớn. Vì thế, vấn đề tái sinh đã được Viện điều tra quy
hoạch rừng tiến hành nghiên cứu từ những năm 60 của thế kỷ XX tại một số địa
bàn như Quảng Ninh, Yên Bái, Nghệ An, Hà Tĩnh, các kết quả nghiên cứu
ban đầu đã được Nguyễn Vạn Thường (1991) [40] tổng kết và kết luận về tình
hình tái sinh tự nhiên của một số khu rừng miền Bắc Việt Nam.