MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Tính c p thi t c a t iấ ế ủ đề à 1
2. M c ích nghiên c u ụ đ ứ 2
3. M c tiêu nghiên c uụ ứ 2
4. i t ng v th i gian nghiên c uĐố ượ à ờ ứ 3
5. Ý ngh a c a t iĩ ủ đề à 3
Chương 1 4
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài 4
1.2. Nghiên c u ngo i n c ứ à ướ 5
1.2.1. Nghiên c u v c i m tái sinhứ ề đặ đ ể 6
1.2.2. Nghiên c u v nhân t nh h ng n tái sinhứ ề ố ả ưở đế 7
1.2.3. Nghiên c u v i u tra, ánh giá tái sinh t nhiênứ ề đ ề đ ự 9
1.2.4. V phân lo i r ng nghèo v i t ng r ng tác ngề ạ ừ à đố ượ ừ để độ
9
1.2.5. Ph ng th c lâm sinh liên quan n tái sinh ph c h iươ ứ đế ụ ồ
r ngừ 10
1.3. Nghiên c u trong n cứ ở ướ 11
1.3.1. Nghiên c u v c i m tái sinh r ngứ ề đặ đ ể ừ 11
1.3.2. Nghiên c u v nhân t nh h ng n tái sinhứ ề ố ả ưở đế 13
1.3.4. Nghiên c u v i u tra, ánh giá tái sinh t nhiênứ ề đ ề đ ự 16
1.3.5. Nghiên c u v phân chia các ki u tr ng thái r ng v phânứ ề ể ạ ừ à
lo i i t ng r ng th sinh nghèo áp d ng bi n phápạ đố ượ ừ ứ để ụ ệ
ph c h iụ ồ 18
1.3.6. Nghiên c u v gi i pháp v tái sinh ph c h i r ngứ ề ả ề ụ ồ ừ 19
1.4. T ng quan v i u ki n t nhiên, dân sinh kinh t - xã h iổ ề đ ề ệ ự ế ộ
i
khu v c nghiên c uự ứ 21
1.4.1. i u ki n t nhiên Đ ề ệ ự 21
1.4.2. i u ki n kinh t , xã h iĐ ề ệ ế ộ 24
3.1.2 K t qu ánh giá hi n tr ng qu n lý r ng v t r ng t iế ả đ ệ ạ ả ừ à đấ ừ ạ
khu v c nghiên c uự ứ 44
3.1.3. c i m m t s tr ng thái r ng v t r ng t i khuĐặ đ ể ộ ố ạ ừ à đấ ừ ạ
v c nghiên c uự ứ 46
3.1.4 c i m chung các ô nghiên c uĐặ đ ể ứ 47
3.2. K t qu ánh giá c i m c u trúc v tái sinh t nhiên ế ả đ đặ đ ể ấ à ự ở
m t s tr ng thái r ng v các y u t nh h ng n tái sinhộ ố ạ ừ à ế ố ả ưở đế
48
3.2.1. C u trúc t th nh lo i cây gấ ổ à à ỗ 49
3.2.2. Ch s a d ng sinh h c t ng cây gỉ ố đ ạ ọ ầ ỗ 52
3.2.3. c i m c u trúc cây g theo ng kính D1.3 vĐặ đ ể ấ ỗ đườ à
chi u caoề 52
3.2.4. C u trúc t th nh cây tái sinhấ ổ à 57
3.2.5. M t cây tái sinhậ độ 58
3.2.6. Phân b cây tái sinhố 60
3.2.7. Ch s a d ng sinh h c c a cây tái sinhỉ ố đ ạ ọ ủ 67
3.2.8. Ch t l ng v ngu n g c cây tái sinh ấ ượ à ồ ố 68
3.2.9. K t qu xác nh v phân tích các y u t nh h ngế ả đị à ế ố ả ưở
n tái sinh t i khu v c nghiên c u đế ạ ự ứ 71
3.3. Phân lo i i t ng r ng v t r ng theo kh n ng ph cạ đố ượ ừ à đấ ừ ả ă ụ
h i t nhiênồ ự 78
3.4. xu t m t s gi i pháp k thu t lâm sinh cho tr ng tháiĐề ấ ộ ố ả ỹ ậ ạ
tr ng thái th c v t t i khu v c nghiên c uạ ự ậ ạ ự ứ 80
3.4.1. i v i tr ng thái ch a có r ng IcĐố ớ ạ ư ừ 80
3.4.2. i v i tr ng thái r ng IIa, IIbĐố ớ ạ ừ 82
iii
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 85
1. K t lu nế ậ 85
2. Tôn taì ̣ 88
3. Kiên nghí ̣ 88
B ng 3.3. T th nh v m t r ng tr ng thái IIa ả ổ à à ậ độ ừ ạ 49
B ng 3.4: T th nh v m t r ng tr ng thái IIb ả ổ à à ậ độ ừ ạ 50
B ng 3.5. T ng h p công th c t th nh tr ng thái r ng IIa, ả ổ ợ ứ ổ à ạ ừ
IIb 51
B ng 3.6: Ch s a d ng cây g t i tr ng thái IIa, IIb t i 2 ả ỉ ố đ ạ ỗ ạ ạ ạ
xã nghiên c uứ 52
B ng 3.7: Phân b s cây theo c p ng kính D1.3 tr ng ả ố ố ấ đườ ạ
thái IIa 53
B ng 3.8: Phân b s cây theo c p ng kính D1.3 tr ng ả ố ố ấ đườ ạ
thái IIb 53
B ng 3.9: Phân b s cây theo c p chi u cao tr ng thái IIaả ố ố ấ ề ạ 55
B ng 3.10: Phân b s cây theo c p chi u cao tr ng thái IIbả ố ố ấ ề ạ
56
B ng 3.11: C u trúc t th nh cây tái sinh tr ng thái r ng ả ấ ổ à ạ ừ
t i khu v c nghiên c u ạ ự ứ 57
B ng 3.12: M t cây tái sinh t i khu v c nghiên c uả ậ độ ạ ự ứ 58
B ng 3.13: Phân b cây tái sinh theo c p chi u cao tr ng tháiả ố ấ ề ạ
Ic 60
Bang 3.14: Phân bô cây tai sinh theo cac câp chiêu caó ́ ́ ́ ̀̉ 61
Bang 3.15: Phân bô cây tai sinh theo cac câp chiêu caó ́ ́ ́ ̀̉ 62
B ng 3.16: Phân b s lo i theo c p chi u caoả ố ố à ấ ề 63
Bang 3.17: Phân bô loai theo câp chiêu caó ̀ ́ ̀̉ 64
Bang 3.18: Phân bô loai theo câp chiêu caó ̀ ́ ̀̉ 65
B ng 3.19: nh h ng c a m ng hình phân b cây tái sinhả Ả ưở ủ ạ ố .67
Bang 3.20: ánh giá ch s a d ng sinh h c cây tái sinh̉ Đ ỉ ố đ ạ ọ 67
B ng 3.21: Ch t l ng v ngu n g c cây tái sinhả ấ ượ à ồ ố 68
B ng 3.22: T ng h p nh h ng c a con ng i n tái sinh ả ổ ợ ả ưở ủ ườ đế
r ngừ 71
B ng 3.23: K t qu xác nh các nhân t nh h ng n ả ế ả đị ố ả ưở đế
cây tái sinh 73
hạn chế xói mòn đất và bảo vệ môi trường. Rừng là tài nguyên đặc biệt quan
trọng trong việc hấp thụ CO2 và góp phần giảm hiệu ứng nhà kính, thích ứng
với biến đổi khí hậu. Sự suy giảm của rừng kéo theo sự suy giảm chức năng
phòng hộ, tăng nguy cơ xuất hiện lũ lụt vào mùa mưa, hạn hán vào mùa khô
và gây xói mòn bồi lấp lòng sông, suối, hồ. Việc phục hồi và phát triển rừng
là rất cần thiết, đặc biệt ở những nơi đất trống, trảng cỏ, nương rẫy, cây bụi tại
những vùng xung yếu và rất xung yếu. Trong những năm qua, Việt Nam đã nỗ
lực khôi phục rừng tự nhiên thông qua nhiều chương trình, dự án trọng điểm
quốc gia và thành quả nổi bật của những chương trình và dự án này là đã làm
tăng độ che phủ của rừng (từ 28,2% năm 1995 lên 33,2% năm 1999 và 39,5%
năm 2010). Cũng trong khoảng thời gian này, diện tích rừng tự nhiên tăng
1.200.000 ha là một nỗ lực lớn của ngành lâm nghiệp, khẳng định tính đúng
đắn của các giải pháp phục hồi rừng, trong đó có các giải pháp phục hồi rừng
thứ sinh nghèo, như khoanh nuôi bảo vệ, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự
nhiên, khoanh nuôi làm giàu rừng, v.v. Mặc dù vậy, nhìn chung hiệu quả của
các chương trình, dự án phục hồi và phát triển rừng thứ sinh nghèo ở nước ta
còn thấp. Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng trên là do chưa có những giải
pháp đồng bộ cho hoạt động phục hồi và phát triển rừng. Chúng ta chưa xây
dựng được hệ thống biện pháp kỹ thuật hoàn chỉnh, những quy trình kỹ thuật
có hiệu quả cao cho các hoạt động phục hồi và phát triển rừng trong từng điều
kiện cụ thể; chưa xác định được tập đoàn cây phù hợp và phát triển rừng trong
từng điều kiện cụ thể, những quy trình công nghệ có hiệu quả cao cho các
hoạt động phục hồi và phát triển rừng; thiếu sự hỗ trợ cần thiết để đưa quy
trình vào thực tiễn kinh doanh rừng.
1
Chợ Đồn là một huyện miền núi nằm ở phía Tây của tỉnh Bắc Kạn. Diện
tích tự nhiên là 91.115 ha, chiếm 18,8 % tổng diện tích tự nhiên của tỉnh Bắc
Kạn [4]. Việc sử dụng và phát triển rừng tự nhiên một cách hợp lý sẽ góp
phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế cũng như phát huy tốt chức năng
phòng hộ và sản xuất của rừng.
- Thời gian nghiên cứu từ tháng 7/2012 đến tháng 4 năm 2013.
5. Ý nghĩa của đề tài
Nghiên cứu các quy luật tái sinh tự nhiên và bổ sung thêm tư liệu về tái
sinh rừng, phục hồi rừng để bảo vệ nguồn gen duy trì tính đa dạng sinh học và
cân bằng sinh thái trong vùng là hết sức cần thiết, do đó kết quả nghiên cứu
này sẽ góp phần làm sáng tỏ đặc điểm tái sinh và khả năng phục hồi tự nhiên
thảm thực vật tại khu vực nghiên cứu.
3
Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài
+ Tái sinh rừng: Hiện nay, có rất nhiều khái niệm về tái sinh rừng, dưới
đây là một số những khái niệm dễ hiểu và thường được sử dụng nhất.
Theo Nguyễn Văn Thêm, (2004): “Những hoạt động thay thế những thế
hệ cây già bằng con đường tự nhiên hay nhân tạo được gọi là tái sinh rừng
hay sinh sản của rừng. Tái sinh rừng có thể xảy ra bằng con đường tự nhiên
và nhân tạo. Tái sinh của rừng được hiểu theo 2 nghĩa. Một là, quá trình hình
thành thế hệ mới của rừng trong tự nhiên mà không có sự can thiệp của con
người. Hai là, quá trình hình thành thế hệ mới của rừng trong tự nhiên nhưng
có sự can thiệp (định hướng) của các nhà lâm học [21].
Phùng Ngọc Lan (1986), cho rằng: Tái sinh rừng được coi là một quá
trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái rừng. Biểu hiện đặc trưng
của tái sinh rừng là sự xuất hiện một thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở
nơi còn hoàn cảnh rừng. Theo ông vai trò lịch sử của thế hệ cây con là thay
thế thế hệ cây gỗ già cỗi. Vì vậy tái sinh rừng hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình
phục hồi lại thành phần cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ. Ông cũng
khẳng định tái sinh rừng được hiểu theo nghĩa rộng là sự tái sinh của một hệ
sinh thái rừng [11].
Việc tái sinh rừng diễn ra dưới 3 hình thức: tái sinh hạt, tái sinh chồi, tái
sinh thân ngầm (các loài tre nứa). Mỗi hình thức tái sinh trên có quy luật riêng
vấn đề then chốt trong việc xác định các phương thức kinh doanh rừng. Kết
quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu về tái sinh rừng tự nhiên trên
thế giới rất nhiều, chúng tôi nêu một số nghiên cứu và được tóm tắt như sau:
5
1.2.1. Nghiên cứu về đặc điểm tái sinh
Tái sinh (Regeneration) là một thuật ngữ chỉ khả năng tự tái tạo, hay sự
hồi sinh từ mức độ tế bào đến một quần lạc sinh vật trong tự nhiên, các tác giả
như Jordan, Peter và Allan (1998) sử dụng thuật ngữ này để diễn tả sự lặp lại
của quần xã sinh vật giống như nó đã xuất hiện trong tự nhiên. Tái sinh rừng
(Forestry regeneration) cũng để mô tả sự tái tạo của lớp cây con dưới tán rừng.
Về đặc điểm tái sinh, theo Van Steenis (1956), đối với rừng nhiệt đới có hai
đặc điểm tái sinh phổ biến là tái sinh phân tán liên tục và tái sinh vệt (tái sinh lỗ
trống). Hai đặc điểm này không chỉ thấy ở rừng nguyên sinh mà còn thấy ở cả
rừng thứ sinh - một đối tượng rừng khá phổ biến ở nhiều nước nhiệt đới [38].
Theo Aubréville (1938), nghiên cứu tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới
Châu Phi, ông cho rằng “Cây con của loài cây ưu thế trong rừng mưa có thể
cực hiếm”. Tổ thành loài cây mẹ ở tầng trên và tổ thành loài cây tái sinh ở
tầng dưới thường khác nhau rất nhiều. Trong khi đó nghiên cứu của David, Ri
Sa (1993), Bead (1964) và RôLê (1969) ở rừng nhiệt đới Nam Mỹ nhận định
sự xuất hiện hiện tượng tái sinh tại chỗ và liên tục của các loài cây và tổ thành
loài cây có thể giữ nguyên không đổi trong một thời gian dài [dẫn theo 6]. Sự
khác nhau của hai tác giả này có thể lý giải: nơi tác giả quan sát, khi đó rừng
chưa đạt tới giai đoạn ổn định, tổ thành loài cây chưa ổn định về thành phần
loài và ngược lại.
Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu thì hiệu quả của tái sinh rừng
được xác định bởi mật độ, tổ thành loài, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc
điểm phân bố. Sự tương đồng hay khác biệt giữa lớp cây con và tầng cây gỗ
được nhiều nhà khoa học quan tâm như Mibbre-ad (1930), Richards (1952),
Baur G.N (1964) và Rollet (1969) [dẫn theo 17].
Theo Van Stennit (1956) [38] thì đặc điểm tái sinh là “tái sinh phân tán,
can thiệp của con người: Các nhà lâm học như: Gorxenhin (1972, 1976);
7
Bêlốp (1982) đã xây dựng thành công nhiều phương thức tái sinh và phục hồi
rừng nghèo kiệt; đáng chú ý là một số công trình nghiên cứu của Maslacop
E.L (1981) về "phục hồi rừng trên các khu khai thác", Mêlêkhốp I.C (1966)
về "ảnh hưởng của cháy rừng tới quá trình tái sinh phục hồi rừng",
Pabedinxkion (1966) về "phương pháp nghiên cứu quá trình phục hồi rừng".
Myiawaki (1993), Yu cùng các cộng sự (1994), Goosem và Tucker (1995),
Sun và cộng sự (1995), Kooyman (1996) cũng đã đưa ra nhiều hướng tiếp cận
nhằm phục hồi hệ sinh thái rừng đã bị tác động ở vùng nhiệt đới. Kết quả ban
đầu của những nghiên cứu này đã tạo nên những khu rừng có cấu trúc và làm
tăng mức độ đa dạng về loài. Tuy nhiên, hạn chế của chúng là không thể áp
dụng trên quy mô rộng, bởi các yêu cầu về nhân công và các nguồn lực khác
trong quá trình thực hiện [dẫn theo 10].
* Nhóm yếu tố xã hội ảnh hưởng đến tái sinh, phục hồi rừng
Các nghiên cứu đều khẳng định hiện tượng mất rừng tập trung chủ yếu
tại các nước đang phát triển vùng nhiệt đới. Bên cạnh các lý do khách quan
như chiến tranh, núi lửa ; mất rừng có liên quan mật thiết với tỷ lệ tăng
trưởng dân số. Dân số đông, đói nghèo và sự lạc hậu đã làm cho nhiều người
dân chỉ nghĩ đến cái lợi trước mắt của việc tàn phá tài nguyên rừng mà không
hề có sự suy tính để gìn giữ cho các thế hệ tương lai; trong khi đó các thể chế,
chính sách của các nước này lại không đủ sức để hạn chế, vận động hay
hướng mọi người đến các hoạt động gìn giữ tài nguyên rừng. Hàng loạt những
khu rừng nguyên sinh, thứ sinh vẫn đang tiếp tục bị tàn phá, thay thế vào đó
là những diện tích đất trống hay những khu rừng thứ sinh nghèo kiệt đến mức
tưởng chừng khó có thể phục hồi.
Điển hình cho hướng nghiên cứu về khía cạnh kinh tế - xã hội của
phục hồi rừng thứ sinh nghèo là: David lamb và Dongilmour (2003);
(IUCN (2003) [33].
8
9
rừng bị suy thoái thành 5 loại chính và các biện pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm
phục hồi chúng đó là các lâm phần rừng hỗn loài tự nhiên bị khai thác quá
mức, các lâm phần rừng thứ sinh ở các giai đoạn phát triển khác nhau. Các
đám cây gỗ thứ sinh, trảng cỏ và các dạng thảm thực vật khác trên các loại
hình thổ nhưỡng khác nhau.
* Dựa vào đặc điểm của sự tác động: Quan điểm này được thể hiện rõ
trong hướng dẫn phục hồi rừng của Tổ chức cây gỗ rừng nhiệt đới quốc tế
(ITTO,2002) [34], theo đó rừng nghèo được phân chi thành 3 kiểu phụ là:
Rừng nguyên sinh bị suy thoái (Degraded primary forest); rừng thứ sinh
(Secondary forest); đất rừng bị thoái hóa (Degraded forest land).
* Phân loại đối tượng rừng thứ sinh làm cơ sở cho việc đề xuất các giải
pháp phục hồi và phát triển rừng là việc làm có ý nghĩa thiết thực. Theo IUCN
(2001) [33] để phân chia loại hình kinh doanh rừng thứ sinh, trước tiên cần
xem xét đến loài cây ưu thế hoặc một số loài cây mục đích chủ yếu và tình
hình điều kiện lập địa, sau đó quy nạp chúng vào những biện pháp kinh doanh
tương ứng.
1.2.5. Phương thức lâm sinh liên quan đến tái sinh phục hồi rừng
Vấn đề tái sinh rừng nhiệt đới được thảo luận nhiều nhất là hiệu quả của
các phương thức xử lý lâm sinh liên quan đến tái sinh của các loài cây mục đích
ở các kiểu rừng. Từ kết quả nghiên cứu kiểu tái sinh các nhà lâm sinh học đã xây
dựng thành công nhiều phương thức chặt tái sinh như: Công trình của Bernard
(1954, 1959), Wyatt Smith (1961, 1963) với phương thức kinh doanh rừng đều
tuổi ở Mã Lai; Nicholson (1958) ở Bắc Borneo; Taylor (1954), Jones (1960)
phương thức chặt dần tái sinh dưới tán ở Nijêria và Gana; Barnarji (1959) với
phương thức chặt dần nâng cao vòm lá ở Andamann; Donis và Maudouz (1951,
1954) với phương thức đồng nhất hóa tầng trên ở Java [18].
Các phương thức lâm sinh cho phục hồi và phát triển rừng tự nhiên có
hai dạng chính: (i) Duy trì cấu trúc rừng tự nhiên không đều tuổi bằng cách
10
có chiều cao < 20 cm chiếm ưu thế rõ rệt so với lớp cây ở cấp kích thước khác
nhau. Những loại cây gỗ mềm, ưa sáng mọc nhanh có khuynh hướng phát
triển mạnh và chiếm ưu thế trong lớp cây tái sinh. Những loại cây gỗ cứng,
sinh trưởng chậm chiếm tỷ lệ thấp và phân bố tản mản.
Nguyễn Văn Trương (1983) [28] đã nghiên cứu mối quan hệ giữa lớp
cây tái sinh với tầng cây gỗ và quy luật đào thải tự nhiên dưới tán rừng. Ông
nhận xét: cần phải thay đổi cách khai thác rừng cho hợp lý vừa cung cấp được
gỗ, vừa nuôi dưỡng và tái sinh được rừng. Muốn đảm bảo cho rừng phát triển
liên tục trong điều kiện quy luật đào thải tự nhiên hoạt động thì rõ ràng là số
lượng lớp cây dưới phải nhiều hơn lớp cây kế tiếp nó ở phía trên. Điều kiện này
không thực hiện được trong rừng tự nhiên ổn định mà chỉ có trong rừng chuẩn
có hiện tượng tái sinh liên tục đã được sự điều tiết khéo léo của con người.
Vũ Tiến Hinh (1991) [9] nghiên cứu đặc điểm quá trình tái sinh của rừng
tự nhiên ở Hữu Lũng (Lạng Sơn) và vùng Ba Chẽ (Quảng Ninh) đã nhận xét:
hệ số tổ thành tính theo % số cây của tầng tái sinh và tầng cây cao có liên hệ
chặt chẽ. Đa phần các loài có hệ số tổ thành tầng cây cao càng lớn thì hệ số tổ
thành tầng tái sinh cũng vậy.
Lê Đồng Tấn - Đỗ Hữu Thư (1995) [19] nghiên cứu thảm thực vật tái
sinh trên đất sau nương rẫy tại Sơn La qua 3 giai đoạn phát triển: giai đoạn I
(tuổi từ 4 đến 5), giai đoạn II (tuổi 9 đến 10), giai đoạn III (tuổi 14 đến 15) và
nhận xét: Trong 15 năm đầu, thảm thực vật tái sinh trên đất sau nương rẫy có
số lượng loài đều tăng lên qua các giai đoạn phát triển. Sau 3 giai đoạn phát
triển thảm thực vật tái sinh trên đất sau nương rẫy thể hiện một quá trình thay
thế tổ thành rất rõ ràng, lượng tăng trưởng của thảm thực vật không cao.
Căn cứ vào nguồn giống, người ta phân chia ra 3 mức độ tái sinh: (i) tái
sinh nhân tạo, (ii) tái sinh bán nhân tạo (xúc tiến TSTN), (iii) tái sinh tự
12
nhiên. Theo Phùng Ngọc Lan (1986) [11] biểu hiện đặc trưng của tái sinh
rừng là sự xuất hiện một thế hệ cây của những loài cây ở những nơi còn hoàn
cảnh rừng, còn Trần Xuân Thiệp (1995) [25] cho rằng, nếu thành phần cây tái
tán để gieo giống của bất kỳ cách thức nào cũng không phải là vô hạn, nên
khoảng cách càng xa thì khả năng tái sinh của thực vật càng kém vì càng xa thì
mật độ hạt giống đưa đến càng thấp. Phạm Ngọc Thường (2001) [22] đã nghiên
cứu mối liên quan giữa khoảng cách từ nguồn giống tự nhiên đến khu vực tái
sinh trên đất sau canh tác nương rẫy và kết luận: “khoảng cách từ nơi tái sinh
đến nguồn cung cấp giống càng xa thì mật độ và số loài cây tái sinh càng thấp”.
Theo Phạm Ngọc Thường (2003) [23] đã nghiên cứu ảnh hưởng của
hoàn cảnh rừng đến sự phát triển của nương rẫy tại Thái Nguyên và Bắc Kạn,
theo tác giả khoảng cách đám nương đến vách rừng tự nhiên gieo giống càng
gần thì khả năng gieo giống càng thuận lợi: cách 20 mét mật độ tái sinh cây
hạt là 2622 ± 41cây/ha, cách 70 mét là 2577±32 cây/ha và cách 120 mét là
2310± 57 cây/ha. Vị trí địa hình và độ dốc: ở chân đồi số loài, mật độ cây gỗ
tái sinh là lớn nhất (45 loài, N = 5020±140 cây/ha) và ít nhất là ở đỉnh (39
loài, N = 3540±110 cây/ha). Độ dốc càng lớn thì quá trình phục hồi rừng càng
khó khăn. Mật độ và chất lượng cây tái sinh ở độ dốc cấp I (<150) cao nhất
(N= 5340 ±150 cây/ha, tỷ lệ cây tốt 70,4%), ở độ dốc cấp III (>250) là thấp
nhất (N = 3560 ±120 cây/ha, tỷ lệ cây tốt đạt 64,7%).
Đinh Quang Diệp nghiên cứu tái sinh tự nhiên ở rừng khộp vùng Easup,
Đắc Lắc kết luận: Độ tàn che của rừng, thảm mục, độ dầy của thảm tươi, điều
kiện lập địa, lửa rừng là những nhân tố có ảnh hưởng lớn đến số lượng và chất
lượng cây con tái sinh dưới tán rừng, trong đó lửa rừng là nguyên nhân gây
nên hiện tượng cây chồi. Về quy luật phân bố cây trên bề mặt đất, tác giả
nhận định khi tăng diện tích lên thì lớp cây tái sinh có phân bố cụm.
14
Trần Ngũ Phương (1970) [14] khi nghiên cứu về kiểu rừng nhiệt đới
mưa mùa lá rộng thường xanh đã có nhận xét: “Rừng tự nhiên dưới tác động
của con người khai thác hoặc làm nương rẫy, lặp đi lặp lại nhiều lần thì kết
quả cuối cùng là sự hình thành đất trống, đồi núi trọc. Nếu chúng ta để thảm
thực vật hoang dã tự nó phát triển lại thì sau một thời gian dài trảng cây bụi,
trảng cỏ sẽ chuyển dần lên những dạng thực bì cao hơn thông qua quá trình
hoá đất. Phân bố số cây tái sinh theo cấp chiều cao có dạng một đỉnh, từ giai
đoạn II (3-6 năm), đến giai đoạn V (12-15 năm) được mô tả bởi phân bố
Weibull. Phân bố số cây theo mặt phẳng ngang dưới 7 năm là phân bố cụm, từ
7-15 năm là phân bố ngẫu nhiên và có xu hướng tiến dần đến phân bố đều.
Mật độ tái sinh giảm dần theo thời gian phục hồi. Từ kết quả trên tác giả cho
biết nếu sau nương rẫy thảm thực vật tái sinh không bị phá hoại thì rừng thứ
sinh được phục hồi thông qua con đường tái sinh tự nhiên là thuận lợi. Tuy
nhiên, do tổ thành loài đơn giản nên trong điều kiện cho phép cần xúc tiến tái
sinh tự nhiên bằng biện pháp tra dặm hạt giống, phát dây leo bụi dậm, kết hợp
trồng bổ sung cây có giá trị kinh tế để nâng cao năng suất chất lượng rừng.
1.3.4. Nghiên cứu về điều tra, đánh giá tái sinh tự nhiên
Từ năm 1962 - 1967 Cục điều tra quy hoạch rừng (nay là Viện Điều tra
quy hoạch rừng) đã điều tra tái sinh tự nhiên trên một số vùng thuộc tỉnh
Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Yên Bái và Quảng Ninh với sự tư vấn của
chuyên gia Hà Cự Trung - Trung Quốc. Phương pháp tiến hành là điều tra
khu tiêu chuẩn điển hình của các trạng thái rừng, trên cơ sở sử dụng ô điều tra
2.000 m
2
diện tích đo đếm tái sinh 100 - 125 m
2
kết hợp với điều tra theo
tuyến. Dựa vào các tài liệu đã thu thập ngoài rừng, các tác giả tiến hành phân
tích, tính toán những chỉ tiêu cây đứng và cây tái sinh, phân chia các loại hình
thực vật rừng và dựa trên cơ sở đó nhận xét thực trạng rừng, đánh giá tình
hình tái sinh tự nhiên và đề xuất biện pháp kinh doanh [3].
16
Trong thời gian từ năm 1962 đến năm 1969, Viện Điều tra - Quy hoạch
rừng đã điều tra tái sinh tự nhiên theo các "loại hình thực vật ưu thế" rừng thứ
sinh ở Yên Bái (1965), Hà Tĩnh (1966), Quảng Bình (1969) và Lạng Sơn
(1969). Đáng chú ý là kết quả điều tra tái sinh tự nhiên ở vùng sông Hiếu
Đỗ Thị Ngọc Lệ (2009) [12] thử nghiệm một số phương pháp điều tra tái
sinh rừng tự nhiên. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các phương pháp điều tra tái
sinh khác nhau sẽ thu được những số liệu biểu thị tái sinh khác nhau về tổ
thành, mật độ, nguồn gốc, chất lượng và hình thái phân bố cây tái sinh. Căn
cứ vào sai số giữa các chỉ tiêu biểu thị tái sinh ở các phương pháp điều tra với
phương pháp điều tra toàn diện trên 6 ô tiêu chuấn có diện tích 1.000m
2
, tác
giả đã lựa chọn được hai phương pháp phù hợp là phương pháp điều tra 5 ô
dạng bản với diện tích mỗi ô là 25m
2
(5x5m) và phương pháp điều tra theo
dải để điều tra tái sinh rừng tự nhiên.
1.3.5. Nghiên cứu về phân chia các kiểu trạng thái rừng và phân loại đối
tượng rừng thứ sinh nghèo để áp dụng biện pháp phục hồi
- Hệ thống phân chia các kiểu trạng thái rừng được xây dựng dựa trên cơ
sở hệ thống phân loại trạng thái rừng của Loeischau (1963) [3]. Đây là hệ
thống phân loại đứng trên quan điểm đánh giá tài nguyên rừng. Sau năm
1975, Viện Điều tra - Quy hoạch rừng đã đưa ra hệ thống phân loại mới, có sự
cải tiến cho phù hợp với thực tiễn kinh doanh.
- Phân loại đối tượng để từ đó áp dụng các biện pháp kỹ thuật tác động
phù hợp là một trong những vấn đề hết sức quan trọng, nó đóng vai trò quyết
định đến sự thành công của hoạt động phục hồi rừng thứ sinh nghèo. Chính vì
vậy, các nghiên cứu đã tập trung vào vấn đề này, trong đó có phân loại rừng
của Nguyễn Văn Thông (2001), Phạm Xuân Hoàn, Vũ Tiến Hinh và Phạm
Văn Điển (2005) [10].
Hai văn bản được đánh giá là tiêu biểu cho việc phân loại đối tượng tác
động, và được áp dụng rộng rãi trong thực tiễn kinh doanh rừng ở nước ta
trong một thời gian dài, đó là quy phạm các giải pháp kỹ thuật lâm sinh áp
dụng cho rừng sản xuất gỗ và tre nứa (QPN 14-92) được Bộ lâm nghiệp nay