BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
PHẠM VŨ TUÂN
ðÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH SẢN VÀ THỬ NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT NHẰM NÂNG CAO
KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA ðÀN BÒ CÁI BRAHMAN
NUÔI TẠI TRẠM NGHIÊN CỨU VÀ SẢN XUẤT
TINH ðÔNG LẠNH MONCADA
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan ñây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng ñược công bố
ñể nhận học vị nào khác.
Mọi sự giúp ñỡ cho việc thực hiện luận văn này ñã ñược cảm ơn và các
tài liệu tham khảo trích dẫn trong Luận văn ñều có nguồn gốc xuất xứ thực tế
và ñã ñược chỉ rõ nguồn gốc. Hà Nội, ngày… tháng … năm 2014Tác giả luận văn
Phạm Vũ Tuân Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
ii
LỜI CẢM ƠN
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi ñược bày tỏ lòng biết ơn
sâu sắc tới:
PGS.TS. Nguyễn Xuân Trạch, người hướng dẫn khoa học ñã tận tình
giúp ñỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện ñề tài và hoàn thành luận văn.
Lãnh ñạo và tập thể các thầy cô trong Ban Quản lý ñào tạo, các thầy cô
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH viii
1 MỞ ðẦU 1
1.1 ðặt vấn ñề 1
1.2 Mục ñích nghiên cứu; 2
1.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của ñề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Hoạt ñộng sinh dục ở bò cái 4
2.1.1 Thành thục về tính và tuổi phối giống lần ñầu 4
2.1.2 Dậy thì 6
2.1.3 Chu kỳ ñộng dục 6
2.1.4 Sự ñiều hoà nội tiết trong chu kỳ ñộng dục 10
2.1.5 Vai trò kích dục tố tuyến yên 14
2.1.6 Kích tố buồng trứng, nhau thai và Prostaglandin 15
2.1.7 Sự thụ tinh 18
2.1.8 Quá trình mang thai 21
2.2 Các yếu tố ảnh hưởng ñến khả năng sinh sản 21
2.2.1 Di truyền 21
2.2.2 Yếu tố bên ngoài 22
2.2.3 Bệnh sản khoa 24
2.3 Một số chỉ tiêu ñánh giá khả năng sinh sản của bò cái 25
2.3.1 Tuổi ñộng dục lần ñầu 25
2.3.2 Tuổi phối giống lần ñầu 25
2.3.3 Tuổi ñẻ lứa ñầu 25
2.3.4 Thời gian ñộng dục lại sau ñẻ 26
2.3.5 Khoảng cách giữa hai lứa ñẻ 26
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
4.1.3 Cơ cấu ñàn bò cái Brahman nuôi tại Trạm Moncada 51
4.2 Khả năng sinh sản của ñàn bò cái Brahman nuôi tại Moncada 52
4.2.1 Tuổi phối giống lần ñầu 52
4.2.2 Tuổi ñẻ lứa ñầu 54
4.2.3 Thời gian phối giống có chửa sau khi ñẻ 55
4.2.4 Khoảng cách giữa hai lứa ñẻ 57
4.2.5 Tỷ lệ ñẻ toàn ñàn và khả năng thụ thai 59
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
v
4.2.6 Tỷ lệ sẩy thai và tỷ lệ sót nhau 61
4.2.7 Chậm sinh và vô sinh 62
4.3 Kết quả thử nghiệm biện pháp kỹ thuật nâng cao khả năng sinh sản 63
4.3.1 Kết quả phân loại nguyên nhân rối loạn sinh sản 63
4.3.2 Kết quả gây ñộng dục và phối giống có chửa bằng PGF
2α
kết hợp với
Corpulin trên bò cái có thể vàng tồn lưu 64
4.3.3 Kết quả gây ñộng dục và phối giống có chửa bằng HCG kết hợp với
Corpulin trên bò cái bị u nang buồng trứng 66
4.3.4 Kết quả gây ñộng dục và phối giống có chửa bằng phương pháp ñặt dụng
cụ âm ñạo CIDR kết hợp với Corpulin ñối với bò bị thiểu năng buồng
trứng 67
5. KẾT LUẬN VÀ ðỀ NGHỊ 69
5.1 Kết luận 69
5.2 ðề nghị 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
PHỤ LỤC 74
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
Bảng 4.1 Khẩu phần ăn của ñàn bò, bê (kg/con/ngày) 48
Bảng 4.2 Diễn biến ñàn bò của trại qua các năm 50
Bảng 4.3 Cơ cấu ñàn bò cái brahman tại Moncada 51
Bảng 4.4 Tuổi phối giống lần ñầu của bò cái Brahman nuôi tại
Moncada 52
Bảng 4.5 Tuổi ñẻ lứa ñầu của bò cái Brahman tại Moncada 54
Bảng 4.6 Thời gian phối giống có chửa sau khi ñẻ 56
Bảng 4.7 Khoảng cách lứa ñẻ 58
Bảng 4.8 Khả năng thụ thai và tỷ lệ ñẻ toàn ñàn 59
Bảng 4.9 Tỷ lệ ñẻ, sẩy thai và sót nhau của ñàn bò sinh sản 61
Bảng 4.10 Tỷ lệ bò chậm sinh, vô sinh tạm thời và vô sinh vĩnh viễn 62
Bảng 4.11 Kết quả gây ñộng dục và phối giống có chửa bằng PGF
2α
kết
hợp với Corpulin 64
Bảng 4.12 Kết quả sử dụng HCG trên bò bị u nang buồng trứng 66
Bảng 4.13 Kết quả sử dụng CIDR trên bò bị thiểu năng buồng trứng .67
MỞ ðẦU
1.1 ðặt vấn ñề
Dựa trên những lợi thế ñã có sẵn của ngành chăn nuôi ñại gia súc nước
ta là sử dụng tối ña các nguồn thức ăn, bãi chăn thả cũng như nguồn phụ
phẩm nông nghiệp, chăn nuôi bò ñã trở thành nghề truyền thống gắn với
người dân nước ta từ lâu. Bò ñược nuôi nhằm cung cấp sức cày kéo và cung
cấp thịt cho nhu cầu của xã hội. Tuy nhiên, với sự tiến bộ của khoa học kỹ
thuật ñã sản xuất ra một số loại máy móc nông nghiệp từ ñó ñang thay thế dần
sức cày kéo của bò và phương thức chăn nuôi bò cũng dần ñược chuyển sang
nuôi với phương thức bán thâm canh, thâm canh ñể không ngừng cung cấp
sản phẩm thịt cho nhu cầu của xã hội.
Bò ñịa phương của nước ta có tầm vóc nhỏ bé hay còn gọi là “bò cóc”,
bò có khối lượng thấp (khối lượng con cái trưởng thành 170kg-180kg, con
ñực trưởng thành 250kg - 260kg), tỷ lệ thịt xẻ thấp (43 - 44%) (ðinh Văn Cải,
2007) do vậy khả năng cung cấp nguồn thịt cho xã hội còn hạn chế. Trước
thực tế ñó vào những năm 1970 nước ta ñã bắt ñầu tiến hành công cuộc cải
tạo ñàn bò ñịa phương với chương trình “Sindhi hoá ñàn bò”, ngoài ra, nước
ta ñã chủ ñộng nhập nhóm bò ñực giống Zebu (Bos indicus) (hay còn gọi là
giống bò thịt nhiệt ñới) gồm một số giống như Red Sindhi, Sahiwal,
Droughmaster và Brahman. Hiện nay, ở nước ta giống bò Brahman là một
trong những giống bò u ñược sử dụng rộng rãi với mục tiêu “Zebu hoá ñàn
bò” thông qua kỹ thụ tinh nhân tạo.
Giống bò Brahman là giống bò thịt nhiệt ñới ñược sử dụng ở rất nhiều
nước trên thế giới ñặc biệt tại các nước nhiệt ñới. (Bò Brahman có nguồn gốc
từ bò Bos Indicus thuộc giống bò ZeBu có nguồn gốc từ Ấn ðộ).
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
2
Giống bò Brahman có ngoại hình khỏe mạnh, kết cấu chắc chắn, lưng
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
Việc ñánh giá khả năng sinh sản của ñàn bò cái Brahman sinh ra tại
Việt Nam giúp ñánh giá khả năng thích nghi của chúng, ñồng thời tìm ra
những biện pháp khắc phục những hạn chế nhằm nâng cao khả năng sinh sản
và sức sản xuất của bò Brahman tại Việt Nam.
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Việc ñánh giá khả năng sinh sản của ñàn bò Brahman sinh ra tại Việt
Nam là một trong những cơ sở nhằm nhân rộng và phát triển nhanh về mặt số
lượng giống bò Brahman ở Việt Nam.
Trên cơ sở nghiên cứu ñưa ra một số biện pháp kỹ thuật nhằm cải thiện
khả năng sinh sản và sức sản xuất của bò Brahman, góp phần phát triển nhân
rộng giống bò Brahman ra thực tiễn sản xuất.
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
4
PHẦN II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Hoạt ñộng sinh dục ở bò cái
2.1.1 Thành thục về tính và tuổi phối giống lần ñầu
Khi cơ quan sinh dục của gia súc cái phát triển ñến mức ñộ hoàn thiện,
buồng trứng có noãn bào chín, có trứng rụng và trứng có khả năng thụ thai, tử
cung cũng biến ñổi theo và ñủ ñiều kiện cho thai phát triển trong tử cung, khi
ñó có dấu hiệu ñộng dục xuất hiện, ñối với gia súc ở tuổi như vậy gọi là tuổi
thành thục về tính. Trong thực tế, thành thục về tính thường ñến sớm hơn thành
thục về thể vóc. Nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giống, gia súc, ngoại cảnh
và mức ñộ nuôi dưỡng quản lý. Trong ñiều kiện nuôi dưỡng tốt thì sự sinh
trưởng ñược thúc ñẩy và thành thục về tính sẽ ñến sớm hơn. Bò sữa thành thục
tính dục khi thể trọng ñạt từ 30 – 40 % thể trọng lúc trưởng thành, còn bò thịt
thì mức ñộ cao hơn 45 – 50 % (Nguyễn Quốc ðạt và cs., 1998)
thường là 21 ngày (dao ñộng từ 17 – 24 ngày), của trâu là 25 ngày (tính trung
bình). Những gia súc cái có chu kỳ ñộng dục ngắn hơn 17 ngày hoặc dài hơn
24 ngày thường có tỷ lệ thụ thai thấp, quá trình trứng phát triển chín và rụng
ñều chịu sự ñiều hoà chặt chẽ của hormone. Trong chu kỳ ñộng dục của bò
nhiều tác giả ñã ñề cập ñến các ñợt sóng nang (foliculas wave).
Sóng nang là sự phát triển ñồng loạt của một dố bao noãn ở cùng một
thời gian. Các công trình nghiên cứu, theo dõi sự phát triển của buồng trứng
Invivo bằng phương pháp nội soi và siêu âm ñược nhiều tác giả công bố. Các
tác giả cho thấy ở bò trong một chu kỳ thường có 2-3 ñợt dóng năng phát triển
(một số ít có 4 ñợt ). ðợt 1 bắt ñầu diễn ra sau khi rụng trứng, vào ngày thứ 3-
9 của chu kỳ. ðợt 2 vào ngày thứ 11-17 và ñợt 3 vào ngày 18 . Mỗi ñợt sóng
nang có thể huy ñộng tới 15 nang kích thước từ 5-7 mm phát triển. Sau này có
1 số nang phát triển mạnh hơn gọi là nang trội (nang khống chế), kích thước
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
6
của nang khống chế ở ñợt 1, 2, 3 có thể ñạt tới 12-15 mm và các kích thước
nang tương ứng quan sát thấy vào ngày 6, 13, 21 (Salin, 1987; Mouget, 1994)
ðặc ñiểm quan trọng trong các ñợt phát triển nang là sự phát triển có
tính tự ñiều khiển và canh tranh giữa các nang. Mỗi ñợt có 1-2 nang trội, vài
nang lớn phất triển và sự phát triển của các nang còn lại bị kìm hãm. Tuy vậy
khi thể vàng còn tồn tại, nang khống chế và nang lớn sữ bị thoái hoá, chỉ có
ñợt cuối cùng khi thể vàng không còn thì nang khống chế mới phát triển tới
chín và rụng trứng mới xẩy ra. Do ñặc ñiểm này các ñợt phát triển nang gọi là
sóng phát triển. Trong mỗi ñợt sóng như vậy sự tồn tại của các nang không
phải nang khống chế dao ñộng 5-6 ngày. Riêng nang khống chế có thể phát
triển nhanh sau ngày 18 của chu kỳ, tốc ñộ phát triển của nang khống chế ở
thời ñiểm này cỏ thể ñạt 1,6 mm/ngày (Fortune và cs., 1998; Savio và cs.,
1998; Trích Hoàng Kim Giao và Nguyễn Thanh Dương, 1997).
2.1.2. Dậy thì
Chu kỳ ñộng dục của bò ñược chia làm 4 giai ñoạn (4 pha riêng biệt)
nhưng liên tiếp nhau:
- Giai ñoạn tiền ñộng dục: ðây là giai ñoạn diễn ra ngay trước khi
ñộng dục. Trong giai ñoạn này trên buồng trứng một noãn bao lớn bắt lớn
nhanh (sau khi thể vàng của chu kỳ trước bị thoái hoá). Vách âm ñạo dày
lên, ñường sinh dục tăng sinh, xung huyết. Các tuyến sinh dục phụ tăng tiết
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
8
dịch nhờn trong suốt, khó ñứt. Âm môn hơi bóng mọng. Cổ tử cung hé mở.
Bỏ ăn, hay kêu rống và ñái rắt. Có nhiều bò ñực theo trên bãi chăn, nhưng
chưa chịu ñực
.
- Giai ñoạn ñộng dục: ðây là một thời kỳ ngắn biểu hiện hiện
tượng "chịu ñực" của bò cái. Thời gian chịu ñực dao ñộng trong khoảng
6-30 giờ, bò tơ trung bình 12 giờ, bò cái sinh sản 18 giờ. Lúc này niêm
dịch chảy ra nhiều, càng về cuối càng trắng ñục như hồ nếp, ñộ keo dính
tăng. Âm môn màu hồng ñỏ, càng về cuối càng thẫm, cổ tử cung mở
rộng, hồng ñỏ bò chịu ñực cao ñộ.
- Giai ñoạn hậu ñộng dục: Tính từ lúc con vật thôi chịu ñực ñến
khi cơ quan sinh dục trở lại trạng thái bình thường (khoảng 5 ngày). Con
cái thờ ơ với con ñực và không cho giao phối. Niêm dịch trở thành bã
ñậu. Sau khi thôi chịu ñực 10-12 giờ thì rụng trứng. Khoảng 70% số lần
rụng trứng vào ban ñêm. Có khoảng 50% bò cái và 90% bò tơ bị chảy
máu trong giai ñoạn này.
- Giai ñoạn yên tĩnh: ðây là giai ñoạn yên tĩnh giữa các chu kỳ
ñộng dục ñược ñặc trưng bởi sự tồn tại của thể vàng (corpus luteum).
Nếu không có chửa thì thể vàng sẽ thành thục khoảng 8 ngày sau khi
rụng trứng và tiếp tục hoạt ñộng (tiết progesterone) trong vòng 8-9 ngày
nữa và sau ñó thoái hoá. Lúc ñó một giai ñoạn tiền ñộng dục của một chu
Bớt sưng, hơi thâm, se
dính cỏ rác.
Hết sưng Bình thường
Biến ñổi bên
trong buồng
trứng
Cơ quan trứng phát triển Nang trứng nhô, căng
Ở bò rụng trứng quãng 12 –
14 giờ sau khi kết thúc chịu
ñực
Có thể vàng nhô lên
Tử cung Màng nhầy tử cung dày lên tụ huyết
Màng nhầy tử cung dày,
trương lực tối ña
Trương lực bớt căng Bình thường
Cổ tử cung
Hé mở, ñỏ hồng, bớt ướt, niêm dịch
lỏng, nhiều, trong suốt, dễ ñứt (kéo
dài 1-2 cm)
Mở rộng, niêm dịch ñặc
dính có màu nửa trong
kéo dài 7-10 cm.
Hẹp dần, niêm dịch ñặc,
giảm ñộ keo dính, màu ñục
bã ñậu dễ ñứt
Khép kín bình thường,
không có niêm dịch
Âm ñạo ðỏ hồng, ướt bóng Bớt ñỏ Dần dần trở về bình thường
Bình thường
các quá trình liên hệ với nhau từ những biến ñổi sinh lý bên trong buồng trứng,
các cơ quan của bộ máy sinh dục và những biểu hiện ra bên ngoài, chi phối cả
hoạt ñộng của bò cái trong thời gian ñộng dục. Các quá trình phức tạp này
ñược Nguyễn Xuân Trạch và cs. (2006) phân tích như sau:
*Liên hệ thần kinh-nội tiết giữa vùng dưới ñồi - tuyến yên-buồng trứng
Hoạt ñộng sinh dục của bò cái ñược ñiều hoà sự phối hợp thần kinh-nội
tiết trong trục dưới ñồi - tuyến yên - buồng trứng (hình 2.2). Vùng dưới ñồi
(Hypothalamus) tiết GnRH (Gonadtrophin Releasing Hormone). GnRH tác
ñộng làm chuyển ñổi thông tin thần kinh trong não thành tín hiệu nội tiết ñể
kích thích thuỳ trước tuyến yên tiết FSH (Follicle Stimulating Hormone) và
LH (Luteinizing Hormone). FSH và LH ñược tiết vào hệ tuần hoàn chung và
ñược ñưa ñến buồng trứng, kích thích buồng trứng phân tiết estrogen,
progesterone và inhibin. Các hóc-mon buồng trứng cũng ảnh hưởng ñến việc
tiết GnRH, FSH và LH thông qua cơ chế tác ñộng ngược. Progesterone chủ
yếu tác ñộng lên vùng dưới ñồi ñể ức chế tiết GnRH, trong khi ñó estrogen tác
ñộng lên thuỳ trước tuyến yên ñể ñiều tiết FSH và LH. Inhibin kiểm soát ức
chế tiết FSH.
Hình 2.2 Các liên hệ trong trục dưới ñồi, tuyến yên, buồng trứng
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
11
* ðiều hoà hoạt ñộng chu kỳ tính và ñộng dục
Chu kỳ ñộng dục ở bò cái có liên quan ñến những sự kiện kế tiếp nhau
trong buồng trứng, tức là sự phát triển noãn bao, rụng trứng, sự hình thành và
thoái hoá của thể vàng, dẫn ñến hiện tượng ñộng dục. Các sự kiện này ñược
ñiều hoà bởi trục dưới ñồi - tuyến yên - buồng trứng thông qua các hormone
(Hình 2.2). Những biến ñổi về nội tiết, sinh lý và hành vi liên quan ñến hiện
tượng ñộng dục ñược phác hoạ ở hình 2.3.
Trước khi ñộng dục xuất hiện (tiền ñộng dục), dưới tác dụng của FSH do
Thực ra trong mỗi chu kỳ ñộng dục không phải chỉ có một noãn bao phát
triển mà có nhiều noãn bao phát triển theo từng ñợt sóng với khoảng cách ñều
nhau. ðối với bò thường có 2-3 ñợt sóng/chu kỳ. Mỗi ñợt sóng như vậy ñược
ñặc trưng bởi một số noãn bao có nang nhỏ cùng bắt ñầu phát triển, sau ñó 1
noãn bao ñược chọn thành noãn bao trội, noãn bao trội này sẽ ức chế sự phát
triển tiếp theo của các noãn bao cùng phát triển còn lại trong nhóm ñó. Sự ức chế
của noãn bao trội này thông qua inhibin do nó tiết ra làm ức chế tiết FSH của
tuyến yên. Tuy nhiên, chừng nào còn có mặt của thể vàng (hàm lượng
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
13
progesterone trong máu cao) thì noãn bao trội không cho trứng rụng ñược mà bị
thoái hoá và một ñợt sóng phát triển noãn bao mới lại bắt ñầu (Hình 2.4).
Hình 2.4 Các sóng phát triển noãn bao trong một chu kỳ tính
(Ginther và cs., 1989)
Nếu trứng rụng của chu kỳ trước không ñược thụ thai thì ñến ngày 17-18
của chu kỳ nội mạc tử cung sẽ tiết prostaglandin F 2 alpha, hormone này có tác
dụng làm tiêu thể vàng và kết thúc pha thể vàng của chu kỳ. Noãn bao trội nào
có mặt tại thời ñiểm này sẽ có khả năng cho trứng rụng nhờ có hàm lượng
progesteron trong máu thấp. Việc giảm hàm lượng progesterone sau khi tiêu
thể vàng làm tăng mức ñộ và tần số tiết GnRH và do ñó mà tăng tiết LH của
tuyến yên. Kết quả là noãn bao tiền rụng trứng (trội) tăng sinh tiết estradiol và
gây ra giai ñoạn tiền ñộng dục (pha noãn bao) của một chu kỳ mới.
Tuy nhiên, nếu trứng rụng trước ñó ñã ñược thụ tinh thì thể vàng không
tiêu biến và không có trứng rụng tiếp. Thể vàng trong trường hợp này sẽ tồn
tại cho ñến gần cuối thời gian có chửa ñể duy trì tiết progesterone cần cho quá
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
14
Oxytocin là hormone ñược tiết ra từ thuỳ sau tuyến yên, có tác dụng kích
thích sự co bóp của cơ tử cung, tăng cường sự co bóp cơ tuyến sữa, cơ trơn bàng
quang và cơ trơn ruột. Nó còn kích thích những phản xạ khác nhau trong thời
gian phối như tăng cường sự co bóp của ñường sinh dục, ñặc biệt nhất là sự kích
thích chuyển ñộng của tinh trùng.
2.1.6 Kích tố buồng trứng, nhau thai và prostaglandin
Buồng trứng của gia súc cái ngoài chức năng tạo trứng còn tiết ra một
số loại hormone như: estrogen, progesterone và hormone ức chế inhibin. Các
hormone này trực tiếp tham gia ñiều hòa toàn bộ hoạt ñộng sinh sản của gia
súc cái thông qua tác dụng kích thích hay ức chế tiết các hormone sinh dục
của tuyến yên. Khi nồng ñộ progesterone trong máu giảm (cũng như giảm các
kích thích ngoại cảnh) sẽ kích thích trung khu sinh sản vùng dưới ñồi tiết các
yếu tố giải phóng hormone sinh dục FRH và LRH. GnRH làm cho tuyến yên
tiết hormone kích nang trứng FSH và hormone tạo thể vàng LH. Cuối cùng
FSH và LH kích thích buồng trứng tổng hợp và tiết hormone estrogen,
progesterone
* Estrogen
Nơi chủ yếu tạo ra hormone estrogen là buồng trứng. Trong buồng trứng
các hormone ñược tạo ra bởi toàn bộ các tế bào nang trứng và tổ chức kẽ. Ở
ñộng vật có chửa, estrogen ñược tổng hợp bởi nhau thai (Bagramiou, 1972).
Estrogen chính là chất gây ñộng dục, gồm ba loại: estradiol, estron và
estriol, ñều là steroid nhưng mức ñộ hoạt tính sinh lý khác nhau, trong 3 loại thì
estradiol có tác dụng mạnh nhất và yếu nhất là estriol. Estradiol tồn tại dưới hai
dạng ñồng phân α và β. Chúng khác nhau về tính chất hoá học và hoạt tính sinh
học. Hoạt tính sinh học lớn nhất là 17 β-estradiol, lớn gấp 40 lần so với 17 α -
estradiol và gấp 8 – 10 lần so với estron (Hoàng Văn Tiến, 1986).
Công dụng của estrogen là kích thích cơ quan sinh dục phát triển, làm cho
tử cung tăng sinh, âm ñạo phát triển và tăng tiết dịch. Estrogen còn kích thích