Tiểu luận Phân tích tình hình nhập khẩu Việt Nam từ năm 2001 đến nay - pdf 12

Download Tiểu luận Phân tích tình hình nhập khẩu Việt Nam từ năm 2001 đến nay miễn phí



Cơ cấu NK với tỷ trọng nguyên nhiên liệu chiếm khoảng trên dưới 60% cũng phản ánh sự phụ thuộc của nền kinh tế nước ta vào nguồn nguyên liệu và bán thành phẩm từ nước ngoài. Thể hiện rõ nét đặc điểm của một nền kinh tế chuyên gia công các sản phẩm từ đơn giản đến phức tạp. Việc này có thể dẫn tới sự hạn chế nguồn ngoại tệ để NK máy móc thiết bị hiện đại, mở rộng năng lực sản xuất hay sự gia tăng nhanh chóng của Xuất khẩu trong khi nền kinh tế vẫn thiếu các khâu công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp chế biến trung gian, dẫn tới hiệu quả xuất khẩu thấp.
Cũng theo số liệu của Tổng cục thống kê, trong giai đoạn từ 2001 -2006, tốc độ tăng trưởng NK bình quân của 3 nhóm hàng: Máy móc, thiết bị; nguyên nhiên vật liệu; hàng tiêu dùng lần lượt là 17,4%; 25,4% và 19,3%. Điều này cho thấy một sự chuyển dịch dần trong cơ cấu mặt hàng NK, có sự tăng tỷ trọng của nhóm hàng nguyên nhiên vật liệu.
 


/tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-29036/
++ Ai muốn tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download cho!

Tóm tắt nội dung:

HÌNH NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM TỪ 2001 ĐẾN NAY
Theo tổng kim ngạch nhập khẩu, tình hình nhập siêu
Bảng 1 : Kim ngạch nhập khẩu và tình hình nhập siêu từ 2001 đến nay
(Nguồn : Tổng cục thống kê)
Đơn vị : Triệu USD
Năm
Giá trị xuất khẩu
Giá trị nhập khẩu
Giá trị nhập siêu
2001
15029.2
16217.9
118.7
2002
16706.1
19745.6
3039.5
2003
20149.3
25255.8
5106.5
2004
26485.0
31968.8
5483.8
2005
32447.1
36761.1
4314.0
2006
39826.2
44891.1
5064.9
2007
48561.4
62682.2
14120.8
2 quý đầu 2008
30630.0
44470.0
14775.0
Biểu đồ 1: Tình hình XNK và nhập siêu từ 2001 đến nay
Tổng kim ngạch nhập khẩu
Giai đoạn từ 2001 – 2007
Từ những số liệu thống kê và đồ thị trên, có thể thấy kim ngạch nhập khẩu (KNNK) của Việt Nam tăng không đều qua các năm. Năm 2002, kim ngạch (KN) là 19.746 tỷ USD, tức tăng 21.8% so với năm 2001. Tốc độ này tăng cao vào 2 năm tiếp theo, xấp xỉ 27-28% và đột ngột xuống thấp vào năm 2005, chỉ còn 15.2% với KNNK đạt 36.881 tỷ USD.Năm 2006, KN cả năm đạt trên 44,9 tỷ USD, tăng 20,1% so với năm 2005, vượt 4,5% so với dự báo từ đầu năm. Đặc biệt, năm 2007 chứng kiến sự bứt phá với tốc độ tăng KN lên tới 37%, với tổng giá trị vào khoảng 62.682 tỷ USD. Con số này đánh dấu 1 năm Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới WTO.
6 tháng đầu 2008
Tính chung 6 tháng đầu năm 2008, KNNK hàng hoá ước tính đạt 44,5 tỷ USD, tăng 60,3% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: khu vực kinh tế trong nước đạt 30,6 tỷ USD, tăng 69,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 13,9 tỷ USD, tăng 42,7%. Có thể thấy, chỉ trong 6 tháng đầu năm 2008 mà tổng KNNK đã vượt con số của cả năm 2006 và gần đạt tới mức của năm 2007. Tuy nhiên, tốc độ gia tăng KNNK đã có chiều hướng chững lại trong những tháng gần đây.
Tình hình nhập siêu
Giai đoạn từ 2001 – 2007
Tuy phải đối mặt với nhiều bất lợi, khi tham gia ngày càng nhiều vào thương mại quốc tế, gồm những rào cản thương mại như việc áp đặt hạn ngạch dệt may, vụ kiện bán phá giá tôm, giá cả thế giới tăng cao, và những khó khăn trong nước như dịch cúm gia cầm…nhưng tựu chung lại kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam trong giai đoạn này tăng đáng kể. Nếu như năm 2001, giá trị xuất khẩu mới chỉ đạt 15 tỷ USD thì đến năm 2007 giá trị này đã lên tới 48.6 tỷ USD, tăng 320%. Giá trị nhập khẩu (NK) tăng với mức ấn tượng hơn, từ 16.2 tỷ USD năm 2001 lên tới 62.7 tỷ USD (gấp gần 4 lần).
Hoạt động NK đã đáp ứng nhu cầu về trang thiết bị, phụ tùng, nguyên liệu cho các ngành kinh tế và nhu cầu tiêu dùng của xã hội đối với một số mặt hàng trong nước chưa sản xuất được, cũng như nhằm bảo hộ một số ngành trong nước và phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.
Từ 2001- 2005, tình hình nhập siêu có xu hướng tăng, nhưng đến 2005 con số này đã giảm xuống còn 4,56 tỷ USD. Sang năm 2006 tăng nhẹ lên 5,06 tỷ và đặc biệt năm 2007 thì tăng vọt lên 12,45 tỷ. Nhờ xuất khẩu đạt quy mô và có tốc độ tăng khá , nên NK có điều kiện tăng tốc và đạt quy mô khá, phục vụ đổi mới kỹ thuật - công nghệ, sản xuất và tiêu dùng ở trong nước cũng như sản xuất hàng xuất khẩu. Nhập siêu 9 tháng đầu năm 2007 đã lên đến 7,6 tỷ USD, tăng rất cao so với cùng kỳ năm trước (gấp 2,3 lần). Nguyên nhân chủ yếu của nhập siêu là do các nhóm hàng có giá trị gia tăng cao lại có mức tăng không lớn và giá trị không cao, trong khi những mặt hàng có tỷ lệ gia công thấp lại tăng cao; do nội địa hoá và phát triển công nghiệp phụ trợ chậm; do hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp.
6 tháng đầu năm 2008
Tính đến hết quý II, kim ngạch xuất khẩu cả nước đạt 29.695 tỷ USD, xấp xỉ trị giá xuất khẩu của cả năm 2005 và có tốc độ tăng 35,9%, cao nhất từ trước tới nay. Kim ngạch NK là 44.47 tỷ, tăng 61,7% so với cùng kỳ năm trước. Mức nhập siêu 6 tháng là 14,8 tỷ USD, bằng 46,5% xuất khẩu, thấp hơn nhiều so với tỷ lệ này của 4 tháng đầu  năm (khoảng 64%). Ngược lại với xuất khẩu, NK tháng 6 là 6,93 tỷ USD, giảm rất mạnh (9,7%) so với tháng 5. Các nhóm hàng chủ lực đều  đã giảm mạnh (trừ xăng dầu, tân dược và thức ăn gia súc).
- Trong tháng 1 năm nay, Việt Nam thu về 4,5 tỷ USD từ xuất khẩu và chi 5,5 tỷ USD cho các mặt hàng ngoại nhập, đưa chênh lệch cán cân xuất - NK lên 1 tỷ USD. Con số nhập siêu này khá lớn so với mức 100 triệu USD của tháng 1/2007.
- Tỷ lệ nhập siêu 4 tháng đầu năm ở mức 64,7% là quá cao, theo nhận định của chính phủ là ảnh hưởng lớn đến cán cân thanh toán quốc tế, giá cả hàng hóa trong nước và ổn định kinh tế vĩ mô.
- Trong hai tháng 5 và 6, đã có những thay đổi đáng kể. KN xuất khẩu 5 tháng đạt 23,4 tỷ USD, tăng 27% so với cùng kỳ. Ví dụ, tháng 4, chúng ta nhập siêu 3 tỉ USD, tháng 5 chỉ còn 1,9 tỉ và tháng 6 dự kiến chỉ là 1,3 tỉ. Mức nhập siêu so với xuất khẩu của 6 tháng chỉ còn dưới 50%, so với trước là trên 60%.
Nhập siêu cả năm 2008 dự báo sẽ vào khoảng 19 tỷ USD với tỷ lệ nhập siêu/xuất khẩu bằng khoảng 31%. Chúng ta đã nỗ lực giảm tỉ lệ nhập siêu từ mức kỉ lục 80.4% vào giai đoạn 1986-1990, xuống còn 12.72% vào năm 2006, nhưng hiện nay tỉ lệ này đang tương đối cao.
Sau khi gia nhập WTO, chúng ta luôn mong chờ một kết quả xuất khẩu đại nhảy vọt, nhưng thực tế mà ta thấy nhiều hơn đó là NK và nhập siêu tăng đại nhảy vọt. Quy mô NK với giá cả nguyên liệu thế giới liên tục tăng mạnh đương nhiên không chỉ góp phần rất quan trọng đẩy quy mô và tỷ lệ nhập, nhập siêu của nước ta tăng cao, mà đây cũng là một nguyên nhân rất quan trọng đẩy tỷ lệ lạm phát của nước ta tăng cao ngất ngưởng. Bên cạnh đó, còn một hệ quả không nhỏ khác mà chúng ta phải gánh chịu. Đó là, trong khi giá nguyên liệu NK liên tục tăng nhưng giá các sản phẩm XK chỉ tăng “nhỏ giọt” nên lợi nhuận sản xuất kinh doanh liên tục giảm.
Nguyên nhân gia tăng nhập khẩu và nhập siêu
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới sự gia tăng KNNK kéo theo gia tăng nhập siêu, đặc biệt là trong 6 tháng đầu năm 2008. Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu chỉ đưa ra một số nguyên nhân căn bản sau:
- Thứ nhất, KNNK Việt Nam chịu ảnh hưởng của những biến động về giá cả trên thị trường thế giới. Thời gian vừa qua, giá các mặt hàng không ngừng thay đổi, hầu hết các mặt hàng NK đều tăng giá. Điển hình trong 6 tháng đầu năm 2008 giá xăng dầu NK tăng 61,8%, giá sắt thép tăng 29,8%, giá phân bón tăng 96%, giá giấy tăng 11,8%, giá chất dẻo tăng 15,4%. Sự tăng giá của 5 mặt hàng này đã làm cho KNNK tăng thêm trên 4,1 tỷ USD (tương ứng với mức tăng 14,9% so với KNNK 6 tháng đầu năm 2007). Nếu loại trừ yếu tố tăng giá này thì KNNK 6 tháng tăng 45,7%. Nói cách khác, giá các mặt hàng NK tăng làm độn KNNK lên khá nhiều.
- Thứ hai là sự kiện Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới WTO vào tháng 11/2006. Là thành viên của WTO, thị trường NK của Việt Nam mở rộng hơn rất nhiều ; thêm vào đó, hàng hóa bên ngoài do được miễn giảm thuế cũng dể dàng vào thị trường Việt Nam. Một bằng chứng rõ nét nhất là sự gia tăng đột biến của KNNK hàng hóa năm 2007, đạt 60.837 tỷ USD, tăng 37% so với năm 2006 - đây được coi là mức tăng kỷ lục chưa từng có.
- Thứ ba, C...
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status