ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong lâm sàng bệnh phổi ngày nay, it gặp những trường hợp chỉ mắc
bệnh ở phổi đơn thuần như viêm phổi, ung thư phổi, hen phế quản, lao phổi,
bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính mà thường có kết hợp với một hoặc nhiều bệnh
khác kèm theo. Trong thực hành lâm sàng bệnh về cơ quan hô hấp, trong khi
điều trị và làm xét nghiệm đã xác định bệnh nhân mắc đái tháo dường. Những
bệnh nhân này, một số trường hợp đã và đang điều trị đái tháo đường, một số
khác là lần đầu tiên được phát hiện. Điều trị những trường hợp tổn thương
phổi đơn thuần trong nhiều tình huống thật khó, nhưng phức tạp hơn nữa nếu
như có phối hợp với bệnh tiểu đường. Ở người bệnh có tiểu đường, suy giảm
miễn dịch tạo điều kiện cho bệnh phổi nặng lên, khó điều trị, nguy cơ tàn phế,
tử vong có thể xảy ra bất cứ khi nào.
Một số bệnh của phổi,sự cần thiết phải sử dụng corticoid điều trị dài
ngày như hen phế quản, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, giãn phế quản,xơ mô
kẽ phổi, nguy cơ bị tiểu đường khó tránh. Người ta khó biết bệnh tiểu đường
có từ trước hay do dùng thuốc trong một số bệnh phổi ở những người có tuổi
gây nên bệnh tiểu đường hay ngược lại. Dù sao đi nữa, khi có tổn thương phổi
nếu có các bằng chứng chứng tỏ có bệnh tiểu đường thì vấn đề điều trị bệnh
phải điều chỉnh lượng đường máu sao cho điều trị đạt hiệu quả hơn.
Hen phế quản là một bệnh phổi hay gặp. Theo WHO trên thế giới có 300
triệu người mắc hen, ước tính đến năm 2025 sẽ có khoảng 400 triệu người
mắc hen. Ở Việt nam hiện đang có 8 triệu người mắc hen phế quản (5% dân
số). Với những con số như trên đã phần nào cho thấy mức độ nghiêm trọng
của bệnh.
1
Hầu hết các thuốc điều trị hen phế quản tác động chủ yếu là giảm sự co
thắt phế quản (thuốc giãn phế quản) hoặc thuốc giảm viêm (corticoid).
Corticoid được sử dụng dưới nhiều dạng khác nhau: corticoid dự phòng dạng
hít (ICS), corticoid dung đường toàn thân được sử dụng trong hen mức độ
trung bình đến nặng. Việc sử dụng corticoid sớm, dài ngày, không kiểm soát
được đã dẫn tới biến chứng tăng đường huyết do dung thuốc.
bệnh phổi xảy ra trên cơ sở bệnh đái tháo đường như: ung thư phổi,TDMP,
nấm phổi…Sự phối hợp của những bệnh này với đái tháo đường làm cho biểu
hiện lâm sàng của bệnh phổi có xu hướng nặng hơn, đồng thời việc điều tri
phải luôn quan tâm điều chỉnh được lượng đường huyết
Thực tế tai khoa Hô hấp-BV Bạch Mai thời gian qua đã phát hiện, điều trị
một số trường hợp có tổn thương phổi phối hợp với đái tháo đường thành công.
Một số trường hợp bệnh phổi diễn biến nặng khi có phối hợp với bệnh
tiểu đường đã được điều trị có kết quả.Vì vậy, chúng tôi đặt vấn đề nghiên
cứu với đề tài: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng một số bệnh
phổi có phối hợp với đái tháo đường điều trị tại khoa Hô hấp-Bệnh viện
Bạch Mai trong hai năm 2009-2010.
Mục tiêu đề tài
1. Tìm hiểu đặc điểm lâm sàng một số tổn thương phổi phối hợp ĐTĐ
2. Tìm hiểu đặc điểm cận lâm sàng một số tổn thương phổi phối hợp ĐTĐ
3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Phần 1. Sơ lược giải phẫu phổi và phế quản [1]
Phổi là cơ quan chính của hệ hô hấp, nơi xảy ra trao đổi khí giữa môi
trường ngoài và cơ thể. Mỗi người có 2 phổi nằm trong 2 ổ màng phổi,
khoang ở giữa 2 ổ màng phổi gọi là trung thất
1. Hình thể ngoài
- Phổi là 1 tạng xốp, đàn hồi nên thể tích của nó thay đổi nhiều theo
lượng khí chứa bên trong. Phổi người lớn có thể chứa 4500-5000 ml.
- Mỗi phổi có 1 đỉnh, 1 đáy, 3 mặt (mặt trung thất, mặt sườn, mặt hoành).
Phổi phải chia thành 3 thuỳ trên, giữa, dưới bởi khe chếch và khe ngang
Phổi trái chia thành 2 thuỳ trên, dưới bởi khe chếch.
2. Cấu tạo của phổi
Phổi được tạo nên từ toàn bộ các nhánh phân chia trong phổi của phế
quản chính, động mạch và tĩnh mạch phổi, động mạch và tĩnh mạch phế quản.
phổi, màng phổi tạng quặt lại liên tiếp với màng phổi thành.
Màng phổi thành là phần màng phổi phủ mặt trong lồng ngực (phần
sườn), mặt trên cơ hoành (phần hoành) và mặt bên của trung thất (phân trung
thất). Phần màng phổi thành trùm lên đỉnh phổi là vòm màng phổi. Góc giữa
các phần màng phổi được gọi là các ngách màng phổi gồm: ngách sườn –
hoành, ngách sườn – trung thất, ngách hoành – trung thất.
5
Phần 2. Phần sinh lí bệnh phổi. [2]
1. Khái quát về chức năng hô hấp.
Hô hấp là sự trao đổi khí với ngoại môi nhằm cung cấp O
2
và đào thải
CO
2
, dưới sự điều hoà của TTHH nằm ở hành não và cầu não.
Có 4 giai đoạn hô hấp:
- Giai đoạn thông khí: thực hiện bằng 2 động tác luôn phiên hít vào và
thở ra.
- Giai đoạn khuếch tán: Trao đổi khí giữa phế nang và máu. Thông khí
và khuếch tán được gọi là hô hấp ngoài. Bệnh hô hấp theo quan niệm chung
chính là bệnh của hô hấp ngoài.
- Giai đoạn vận chuyển: Là trao đổi khí giữa tế bào cơ thể với phổi
- Trao đổi qua màng tế bào và hô hấp tế bào
( Hai giai đoạn sau là hô hấp trong)
2. Rối loạn quá trình thông khí.
Quá trình hô hấp được đảm bảo là nhờ thành phần, áp lực không khí thở
vuông góc, cũng như hoạt động tốt của bộ máy hô hấp. Một trong các yếu tố
đó thay đổi sẽ gây rối loạn thông khí.
- Rối loạn do khí thở: do độ cao, do không khí bị tù hãm, do ngạt
- Rối loạn do bệnh hô hấp: liệt cơ hô hấp, TDMP, TKMP, chướng ngại
COPD, hen phế quản. Việc lạm dụng thuốc, dùng không theo chỉ dẫn đã dẫn
đến những biến chứng khi dùng corticoid, mà một trong những biên chứng đó
là gây tăng đường máu.
A. Giới thiệu một số bệnh phổi cần sử dụng corticoid dài ngày
trong điều trị bệnh
I. Hen phế quản (HPQ)
Hen phế quản là trạng thái lâm sàng của sự phản ứng cao độ ở phế quản
do nhiều kích thích khác nhau, biểu hiện đặc trưng là khó thở, có tiếng cò cử
do hậu quả của sự co thắt cơ trơn phế quản, phù nề niêm mạc phế quản và
tăng tiết nhầy phế quản. Cơn khó thở có thể tự hồi phục ( do dùng thuốc hoặc
không).
Hen phế quản là bệnh khá phổ biến, có xu hướng ngày càng tăng trên thế
giới cũng như ở Việt Nam. Theo ước tính của Tổ chức y tế thế giới (WHO)
năm 1995 toàn thế giới có trên 100 triệu người mắc hen phế quản. Tới năm
8
2001 đã lên tới 150 triêu người, chiếm khoảng 5% dân sổ ở người lớn và 10%
dân số ở trẻ em dưới 15 tuổi [6,7,31]
Tỷ lệ mắc hen phế quản ở mỗi vùng và mỗi lứa tuổi khác nhau. Pêru là
nước có tỷ lệ mắc hen phế quản cao nhất thế giới (28%), Trong khi đó
Uzơbekistan chỉ có 1.4% thấp nhất thế giới [26,34]. Riêng ở Mỹ có khoảng
12-15 triệu dân mắc hen phế quản chiếm 5% dân số [6,26,34].
Trong những năm gần đây số người tử vong do hen phế quản ngày càng
tăng. Trung bình thế giới có 40-60 người chết trên vì hen phế quản trên 1 triệu
dân [6]. Ở Mỹ năm 1977 có 1674 trường hợp tử vong vì hen phế quản, dến
năm 1998 có hơn 6000 trường hợp [8]
Tại Việt Nam tỷ lệ mắc hen phế quản tăng nhanh trong những năm gần
đây. Theo thống kê điều tra, trước năm 1985, ở một số vùng tỷ lệ mắc hen phế
quản là 1-2%, riêng nội thành Hà Nội là 0.8% và ngoại thành là 0.73%. Từ
năm 1961-1995, tỷ lệ mắc hen phế quản ở nước ta đã tăng gấp 3 lần (2%-6%)
dân số và trẻ em dưới 15 tuổi chiếm 10% [7]
Đo chức năng thông khí phổi thường thấy rối loạn thông khí tắc nghẽn
phục hồi với thuốc giàn phế quản (trước test FEV
1
<80%, FEV
1
/VC<70%.
FEV
1
tăng >15% hoặc trở về trị số lý thuyết sau khí dung 400 microgam
salbutamol)
b. Lưu lượng đỉnh kế:
LLĐ là lưu lượng nhanh nhất của khí lưu thông trong đương hô hấp khi
thở ra gắng sức.
Rối loạn thông khí tắc nghẽn có hồi phục và sự biến đổi lưu thông khí
được đo bằng LLĐ,biểu hiện bằng một trong các trường hợp sau:
10
- LLĐ tăng>15% sau 15-20 phút cho hít thuốc cường β tác dụng ngắn
- LLĐ thay đổi hơn 20% giữa lần đo buổi sáng và chiều cách nhau 12h
ở người bệnh dùng thuốc giãn phế quản (hoặc hơn10% khi không dùng thuốc
giãn phế quản)
- LLĐ giảm hơn 15% sau 6 phút đi bộ hoặc gắng sức.
c. Xét nghiệm đờm:
- Tinh thể Charcot-Leyden, bạch cầu ái toan, bach cầu đa nhân trung
tính, đại thực bào
- Cấy đờm làm khi có mỗi đợt bùng phát do nhiễm khuẩn
d. X-Quang ngực
Trong cơn hen thường ít làm, Nếu làm thấy hai phế trường quá sáng, rốn
phổi đậm, xương sườn nằm ngang, các khoang liên sườn giãn rộng. Cần chụp
phổi khi lâm sàng có dấu hiệu nghi ngờ để phát hiện các biến chứng như tràn
khí màng phổi, tràn khí trung thất, hoặc tổn thương viêm phổi là căn nguyên
Theo thống kê bệnh viện Bạch Mai, trong số 3606 bệnh nhân điều trị tại
khoa hô hấp từ năm 1996-2000, tỷ lệ bệnh nhân chẩn đoán COPD lúc ra viện
chiếm 25.1%, đứng hàng đầu trong các bệnh lý về phổi [14]
Ngô Quý Châu và cộng sự nghiên cứu dịch tễ học COPD trong cộng
đồng dân cư có tuổi từ 40 của thành phố Hà Nội thấy tỷ lệ mắc chung cả 2
giới là 2%, tỷ lệ mắc bệnh ở nam là 3.4% và ở nữ là 0.7%.
1. Triệu chứng lâm sàng
a. Cơ năng.
- Ho: Ho nhiều buổi sáng, ho cơn hoặc ho húng hắng
- Khạc đờm: nhầy, trong trừ đợt bội nhiễm màu vàng
- Khó thở: Khi gắng sức dần tới khó thở liên tục ( giai đoạn muộn)
- Giai đoạn cuối có bệnh cảnh tâm phế mạn
12
b. Thực thể
- Nhìn: Kiểu thở mím môi khi gắng sức, sử dụng cơ hô hấp phụ. Lồng
ngực hình thùng.
- Gõ: Vang, nhất là giãn phế quản
- Nghe: Rì rào phế nang giảm
Ran ít và ngáy, khi có bội nhiễm thấy ran ẩm và ran nổ.
- Dấu hiệu tăng áp lực động mạch phổi và suy tim phải:
+ Mắt lồi như mắt ếch do tăng mạch máu màng tiếp hợp
+ Tim nhịp nhanh, có thể loạn nhịp hoàn toàn
+ Dấu hiệu Carvallo: thổi tâm thu dọc theo bờ trái xương ức và tăng lên
khi hít vào
+ Tĩnh mạch cổ nổi, gan to, đau vùng gan, phù chân và cổ trướng.
1. Triệu chứng cận lâm sàng.
a. Chức năng hô hấp.
- Rối loạn thông khí tắc nghẽn: FEV
1
giảm, tăng thể tích khí cặn
Bệnh lao gắn liền với sự phát triển xã hội loài người từ hàng ngàn năm
nay, trên thế giới chưa bao giờ và không có một quốc gia nào, một khu vực
nào, một dân tộc nào không có người mắc bệnh lao và chết do lao. Mặc cho
mọi cố gắng của con người trong việc kiểm soát và khống chế bệnh lao,
nhưng bệnh vẫn có xu hướng gia tăng trên thế giới.
Hiện nay, bệnh lao vẫn là một trong những bệnh có số người mắc và tử
vong cao. Trên thế giới có khoảng 2,2 tỷ người đã nhiễm lao (chiếm 1/3 dân
số thế giới). Lao phổi là thể bệnh thường gặp nhất chiếm khoảng 80% trong
các bệnh do vi khuẩn lao gây ra. Theo số liệu công bố của Tổ chức Y tế thế
giới (TCYTTG, 2004), ước tính trong năm 2003 có thêm khoảng 9 triệu
người mắc lao mới và 2 triệu người chết do lao, mỗi năm có thêm 1% dân số
thế giới bị nhiễm lao (65 triệu người). Khoảng 95% số bệnh nhân lao và 98%
số người chết do lao ở các nước có thu nhập vừa và thấp, 75% số bệnh nhân
lao cả nam và nữ ở độ tuổi lao động. Trong đó, có khoảng 80% số bệnh nhân
lao toàn cầu thuộc 22 nước có gánh nặng bệnh lao cao.
Việt Nam đứng thứ 13 trong 22 nước có số bệnh nhân lao cao trên loàn
cầu, (TCYTTG, 2004). Trong khu vực Tây - Thái Bình Dương, Việt Nam
14
đứng thứ ba sau Trung quốc và Philipinnes về số lượng bệnh nhân lao lưu
hành cũng như bệnh nhân lao mới xuất hiện hàng năm. Hiện nay nguy cơ
nhiễm lao hàng năm ở nước ta ước tính là 1,5% (ở các tỉnh phía Nam là 2%, ở
các tỉnh phía Bắc là 1%). Theo số liệu năm 2007, Việt Nam xếp thứ tư trên
thế giới về số lượng các trường hợp bệnh lao và có số lượng cao nhất về tỷ lệ
mắc lao trên đầu người tại Đông Nam Á.
Hiện nay, cùng với sự bùng nổ các đại dịch, lao phổi thường không chỉ
đơn thuần mà có sự kết hợp với các bệnh khác. Để công tác phòng chống lao
có hiệu quả đòi hỏi nhiều hành động phối hợp làm hạn chế tác của các yếu tố
nguy cơ bệnh lao, bao gồm HIV/AIDS, đái tháo đường, suy dinh dưỡng, điều
kiện sống… Lao phổi kết hợp đái tháo đường đã được biết đến tứ lâu và hay
gặp trên lâm sàng. Hiện nay lao phổi vẫ là nguyên nhân tử vong hàng đầu
Cơ năng:
- Ho khạc đờm: Đầu nhầy, vàng nhạt có thể màu xanh hoặc mủ đặc.
- Ho ra máu: Ho máu ít rồi tăng dần. Khoảng 10% bệnh nhân bắt đầu
bằng triệu chứng ho ra máu. Máu có đặc điểm: đỏ tươi,sủi bọt, không lẫn thức
ăn, máu ra từng đợt trung bình từ 2-3 giờ/lần, mỗi đợt trên dưới 1 tuần. Mới
đầu ho ra nhiều rồi giảm dần, máu sẫm đen gọi là thời kỳ “ đuôi khái huyết”.
Ho máu xảy ra 1 trong 3 trường hợp sau:
_ Ho ra máu báo hiệu lao phổi: người bệnh vẫn bình thường, bất chợt ho
khạc đờm lẫn vài tia máu đỏ tươi.
_ Ho ra máu là biến chứng lao phổi mạn tính, biểu hiện đợt tiến triển
nặng. Khối lượng máu thường nhiều 40-50ml, có khi tới hàng lít, máu ra kéo
dài nhiều ngày. Đây là trường hợp phải cấp cứu.
_ Ho ra máu là di chứng lao phổi ổn định đã khỏi. Lao ổn định để lại
nhiều sơ sẹo, làm biến dạng phế quản. giãn phế quản gây ho ra máu.
- Đau ngực: Thường đau khu trú ở một vị trí, đây là triệu chứng không
thường gặp. Giai đoạn toàn phát đau ngực liên tục
16
- Khó thở: Khi tổn thương phổi lan rộng. Giai đoạn toàn phát khó thở
tăng cả khi nghỉ ngơi
- Các triệu chứng trên ngày càng tiến triển tăng dần.
Thực thể:
- Giai đoạn đầu dấu hiệu thực thể nghèo nàn. Một số trường hợp thấy
RRPN giảm vùng tổn thương, nghe có ran nổ cố định ở 1 vị trí
- Bệnh nhân đến muộn có thể nhìn thấy lồng ngực bị lép (bên tổn
thương) do các khoang liên sườn hẹp lại.
- Nghe phổi: Ran ẩm, ran nổ. có thể có thổi hang.
2, Triệu chứng cận lâm sàng
2.1 Chẩn đoán hình ảnh
X-quang phổi chuẩn
- Lao phổi kết hợp ĐTĐ thường gặp tổn thương ở rốn phổi, đáy phổi.
Kỹ thuật soi đờm trực tiếp ( nhuộm Ziehl-Neelsen)
Kỹ thuật này cho phép phát hiện vi khuẩn kháng cồn kháng toan. Phải có
5000 vi khuẩn /1ml đờm thì kết quả mới dương tính. Chương trình phòng
chống lao Quốc Gia quy định đọc kết quả như sau:
1. Không có AFB/ 100 vi trường( âm tính ).
2. 1- 9 AFB/ 100 vi trường là dương tính
3. 10- 99 AFB/ 100 vi trường ( 1+ ).
4. 1- 10 AFB/ 1 vi trường ( 2+).
5. > 10 AFB/ 1 vi trường (3+)
Với 6 lần dương tính khi soi kính, thì kết quả tương đương với 1 lần nuôi cấy
18
Phương pháp thuần nhất
Làm loãng đờm bằng NaOH rồi ly tâm lấy cặn để nhuộm Ziehl-Neelsen
gọi là phương pháp thuần nhất đờm. Kỹ thuật này làm tăng độ nhậy tìm thấy
BK, hơn phương pháp soi trực tiếp.
Nuôi cấy
Môi trường nuôi cấy phải giàu chất khoáng chất đạm và VTM thì BK
mới phát triển. (Môi trường Lowenstein Jensen). BK mọc chậm sau 3 đến 6
tuần. Các Mycobacteria không điển hình mọc nhanh trong một tuần. Sau 2
tháng không mọc vi khuẩn thì kết luận là âm tính
Kỹ thuật lai tạo gien PCR
Dựa trên nguyên lý khuếch đại ADN bằng men ADN Polymerasa. Chỉ
cần một vài BK là có thể xác định được trong vài giờ. Tuy vậy hiệu quả chẩn
đoán với độ nhậy cao, nhưng độ đặc hiệu không cao.
2.4 Phản ứng Mantuox
Nếu sẩn cuc tại chỗ tiêm >10mm (riêng trẻ em tiêm phòng BCG thì từ
12mm trở lên) là dương tính , từ 5-9mm la nghi ngờ, dưới 5mm là âm tính.
Mức độ dương tính quy định như sau:10-14mm là nhẹ, 15-20mm là
trung bình, 21-30 là mạnh.
Lao phổi có ĐTĐ thường dương tính ở mức độ trung bình, thậm chí
Tại Nhật Bản cứ 100.000 người tử vong thì có57-70 do viêm phổi, và tỷ
lệ do viêm phổi đứng hàng thứ 4 trong số các nguyên nhân gây tử vong [4].
Tại Việt Nam, viêm phổi là một trong những bệnh nhiễm khuẩn thường
gặp nhất trong lâm sàng nhưng hiện nay chưa có một tổng kết mang tính toàn
diện. Chỉ có một vái số lệu nghiên cứu của các bệnhviện đượcghi nhận như
20
sau: Trong 3606 bệnh nhân điều trị tai khoa hô hấp-BV Bạch Mai (1996-
2000) có 345 bệnh nhân viêm phổi, đứng thứ 4 trong các bệnh tại khoa.
Bệnh viện Nguyễn Tri Phương (TP Hồ Chí Minh) năm 2004 có 710
trường hợp viêm phổi trong số 29.353 bệnh nhân nhập viện (chiếm 2,4%), 44
ca tử vong do viêm phổi trong tổng số 297 ca tử vong (chiếm 14,8%).[ ]
Tuy nhiên trong những năm gần đây dịch tễ học viêm phổi có nhiều thay
đổi gia tăng do nhiều yếu tố như khói bụi, gia tăng dân số, biến đổi khí hậu và
các bệnh lý nội khoa đi kèm như (đái tháo đường, suy thận, các bệnh suy
giảm miễn dịch…), và sự xuất hiện của nhiều tác nhân viêm phổi mới và sự
thay đổi độ nhạy cảm của các vi khuẩn thường gặp như (Streptococus
Pneumoniae, Hemophilus Influenza, Staphylococus aureus).
Viêm phổi ở bệnh nhân đái tháo đường thường nặng vì tổn thương nhu
mô phổi lan rộng dẫn đến biến chứng như áp xe phổi, nhiễm khuẩn huyết, Tử
vong. Viêm phổi do vi khuẩn Gram âm không phải là nhiễm khuẩn đặc hiệu
cho đái tháo đường nhưng xảy ra với tần suất cao hơn với người đái tháo
đường và tỉ lệ tử vong do viêm phổi ở đái tháo đường cũng cao hơn.[39]
1. Triệu chứng Lâm sàng
Trên cơ địa đái tháo đường, bệnh khởi phát từ từ:
a. Cơ năng
- Sốt: Thường xảy ra đột ngột ở người trẻ tuổi, sốt cao 39-40
0
C, rét giun.
Môi đỏ, sau vài giờ khó thở, toát mồ hôi, môi tím. Ở người già các triệu
chứng thường không rầm rộ, có thể có lú lẫn.
xe phổi, đứng hàng thứ 6 trong các nguyên nhân gây tử vong [ 3].
Tại Viêt Nam theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Việt Cồ [4] trên 118
bệnh nhân áp xe phổi điều trị tại viện Lao và bệnh phổi 1991-1992 và tại khoa
22
hô hấp bệnh viện Bạch Mai 1993-1994 , Tỷ lệ bệnh nhân nam 73.75 tuổi
thường gặp lớn hơn 36 chiếm 77.1%. Hầu hết bệnh nhân đều có yếu tố thuận
lợi khởi phát bệnh.
Theo Chu Văn Ý và Nguyễn Văn thành tại khoa hô hấp- bệnh viện Bạch
Mai từ năm 1977 đến 1985 có 258 trường hợp áp xe phổi vào viện chiếm
4.8% bệnh nhân phổi vào điều trị tại bệnh viện [5]
Đái tháo đường có những điều kiện thuận lợi gây áp xe phổi:
Đái tháo đường gây tổn thương mạch, tắc mạch dẫn đến ổ nhồi máu phổi
Tăng đường huyết là môi trường thuận lợi cho các loại vi khuẩn.
1. Triệu chứng lâm sàng.
Áp xe phổi qua 3 giai đoạn:
1.1 Giai đoạn ổ mủ kín: Triệu chứng giống viêm phổi cấp gồm
- Sốt
- Ho khạc đờm đặc, ho máu, máu lẫn mủ.
Mức độ ho máu có thể nhiều hàng trăm ml khi thành mạch vùng phổi bị
áp xe bị vỡ, thủng.Ho máu vừa và ít khi thành mạch chỉ bị tổn thương, hồng
cầu thoát mạch vào phế nang
- Đau ngực nhiều vùng tổn thương
- Khó thở nhanh nông
- Khám: HC đông dặc ở một vùng phổi
Có ran nổ, tiếng thổi ống
1.2 Giai đoạn ộc mủ
Sau 6 – 15 ngày bệnh nhân đột ngột ho tăng, đau ngực nhiều và ộc ra
nhiều mủ. Mủ màu đục quánh hoặc màu vàng, nhầy vàng, màu chocolate mùi
hôi. Sau đó bệnh nhân hết sốt, dễ chịu. Cần đề phòng mủ tràn vào đường thở
gây ngạt thở.
Tại khoa hô háp bệnh viện Bạch Mai hàng năm có tỷ lệ không nhỏ bệnh
nhân TDMP nằm điều trị nội trú. Theo Đào Kỳ Hưng (1995) TDMP xếp hàng
đầu [15]
Theo Ngô Quý Châu và cộng sự (2002) từ năm 1996-2000 trong số 3606
bệnh nhân điều trị nội trú tại khoa hô hấp bệnh viện Bạch Mai có 116 bệnh
nhân được chẩn đoán TDMP không rõ nguyên nhân, và xếp hàng thứ 8 trong
các loại bệnh phổi [16].
1. Triêụ chứng lâm sàng
Toàn thân : Có thể sốt hoặc không, mêt mỏi, chán ăn, gầy sút cân
Cơ năng
- Đau đáy phổi bên bệnh, đau tăng khi hít vào
- Ho khan. Ho là do màng phôi bị kích thích do có dịch trong
khoang màng phổi.Ho ngắn không có đờm, ho ‘‘khô’’.Có thể ho từng cơn, ho
xuất hiện khi thay đổi tư thế. Mỗi khi ho làm đau tăng lên, nhói trong lồng
ngực như muón nghẹt thở.
- Chỉ ho đờm khi có tổn thưong phổi-phế quản kèm theo.
- Khó thở khi gắng sức, nếu tràn dịch nhiều khó thở khi nghỉ ngơi
- Khi dịch ít (khoảng 200-300ml dịch), không khó thở,nằm đầu
bằng được, nghiêng về bên lành để tránh đau.Khi dịch trung bình( 700-1500
ml), khó thở trung bình, nhiều nằm nghiêng về bên bệnh dễ chịu hơn. Khi tràn
dịch nhiều khó thở nổi bật, phải ngồi dậy để thở.
Thực thể :
- Hội chứng ba giảm bên bệnh ( Rung thanh giảm,gõ đục,
RRPN giảm)
25