ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong quá trình sử dụng Tài nguyên thiên nhiên (TNTN), con người
thường chú trọng đến khai thác lợi dụng, nhằm thoả mãn tối đa cho nhu cầu
trước mắt của mình mà không quan tâm đúng mức đến vấn đề khôi phục, phát
triển bền vững TNTN và tương lai của các thế hệ mai sau. Vì vậy, hầu hết các
nguồn tài nguyên quý giá đều dần bị cạn kiệt, không đảm bảo khả năng cung
ứng lâu dài, ổn định cho cuộc sống con người cũng như duy trì sự phát triển
bền vững của xã hội. Tài nguyên rừng tự nhiên có khả năng tái tạo nhưng
cũng không tránh khỏi xu thế ấy.
Rừng tự nhiên ở Việt Nam đã và đang bị suy giảm nghiêm trọng cả về
số lượng và chất lượng, nhất là từ năm 1980 đến nay. Trong vòng 50 năm qua
(1943 - 1993), chúng ta đã mất đi 5 triệu ha rừng (năm 1943 là 14,3 triệu ha
và năm 1993 chỉ còn 9,3 triệu ha) bình quân mỗi năm mất đi 100 ha. Trong
những năm gần đây, diện tích rừng có xu hướng tăng nhưng chất lượng rừng
có xu hướng giảm. Đối với rừng tự nhiên, diện tích rừng giàu và trung bình
hiện nay chỉ còn khoảng 1,4 triệu ha (chiếm 13% so với tổng diện tích có
rừng). Rừng gỗ giàu chỉ còn lại chủ yếu ở vùng sâu, vùng xa, vùng núi cao,
nơi có độ dốc lớn nên khả năng khai thác, cung cấp lâm sản bị hạn chế. Đối
với rừng trồng, phần lớn là rừng sản xuất, trồng một số loài mọc nhanh, cung
cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp nên tác dụng với môi trường rất hạn
chế. Điều này đã làm cho chức năng bảo vệ môi trường sinh thái của rừng bị
ảnh hưởng theo chiều hướng xấu gây ra thoái hoá đất, rửa trôi, xói mòn ngày
càng nghiêm trọng, lụt lội xảy ra thường xuyên hơn ảnh hưởng đến đời sống
của con người.
Xuất phát từ thực trạng trên, sự cần thiết phải phục hồi là một nhiệm vụ
cấp bách. Tuy nhiên, để các biện pháp bảo vệ, phục hồi lại rừng đạt hiệu quả
thì phải có một sự hiểu biết đầy đủ về bản chất các quy luật sống của rừng mà
trước hết là quá trình tái sinh. Tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang
tính đặc thù của hệ sinh thái rừng. Nó đảm bảo cho nguồn tài nguyên rừng có
1
khả năng tái sản xuất mở rộng, nếu chúng ta nắm được quy luật tái sinh,
các diện tích nghiên cứu từ 0,25 - 1,0 ha.
Davis và Richards (1933 - 1934), trong khi nghiên cứu rừng mưa ở khu
vực sông Moraballi, Gauna, đã thống kê số cây thứ tự từ thấp đến cao, đầu
tiên là số mầm non dưới 2m, kế đến là số cây non có đường kính dưới 10cm
và chiều cao trên 4,6m, sau đó mới đến số cây gỗ có đường kính trên 10cm,
với cỡ đường kính 4 tấc Anh (10cm); cây tái sinh đã được thống kê từ dưới
2m cho đến chiều cao 4,6m với đường kính dưới 10cm. Aubre’ ville (1933)
trong biểu thành phần của ô tiêu chuẩn (OTC) trong rừng nguyên thuỷ tại
“khu rừng bảo vệ Massa Me”, thuộc bờ biển Nga cũng đã thống kê lớp cây
non gồm những cây thuộc cấp đường kính <10cm, [17]. Cho thấy cây tái sinh
đã được tính từ cây mầm cho đến cận dưới của lớp cây gỗ.
Về đặc điểm tái sinh tự nhiên (TSTN), Aubre’ vill (1950 - 1951) đã đưa
ra lý thuyết tái sinh tuần hoàn bức khảm theo đó, xem một diện tích rừng hỗn
hợp rộng lớn như một mặt khảm mà mỗi đơn vị của bản ghép hình là một tổ
hợp hình thành bởi các loài cây tái sinh không mang tính kế thừa, nhưng xét
trên một phạm vi rộng lớn thì các tổ hợp loài cây sẽ kế thừa nhau ít nhiều theo
phương thức tuần hoàn. Van Steniss (1956) đã nêu 2 đặc điểm tái sinh phổ
3
biến của rừng nhiệt đới là kiểu tái sinh phân tán và liên tục của các loài cây ưa
sáng.
Ánh sáng là nhân tố sinh thái ảnh hưởng mạnh đến sinh trưởng của cây
tái sinh, đó là quan điểm được nhiều nhà khoa học thống nhất. Mlanfora
(1929) nhận thấy các loài cây ưu thế của rừng thường xanh tại Mã Lai tái sinh
tốt nhất ở những nơi có lỗ trống với bề ngang không rộng quá 6m; ở những
nơi có lỗ trống lớn hơn, không thấy có tái sinh tại phần chính giữa. Kramer
(1933), qua các quan sát trong rừng mưa miền cao ở núi Gedeh tại Java cũng
thấy rằng trong những khoảng trống diện tích không quá 1000m
2
, cây tái sinh
sẵn có của loài ưu thế ở rừng nguyên sinh sống sót và sinh trưởng tốt. Nhưng
chim và các loại thú rừng phá hoại.
Các nghiên cứu về TSTN của CIFOR (2000) tại Bunlugan - Indonesia
chỉ rõ việc chặt bỏ dây leo cây bụi dưới tán nhằm xúc tiến TSTN đã làm cho
một số lâm sản ngoài gỗ như song mây trở lên cực kỳ khan hiếm.
Để đẩy nhanh tốc độ phục hồi rừng thứ sinh, ở Philipines đã áp dụng có
hiệu quả kỹ thuật ARN (Assisted Natural Regeneration), tăng cường tiến trình
TSTN thông qua hạn chế lửa rừng và chăn thả súc vật, kết hợp trồng cây nơi
đất trống (theo Lasco R.D, Visco R.G.& Pulhin J.M (2001).
1.2. Ở Việt Nam
TSTN rừng tự nhiên Việt Nam cũng đã được nhiều tác giả quan tâm.
Thái Văn Trừng (1963, 1978), [4 ] đã nêu 2 cách TSTN của các xã hợp thực
vật rừng nhiệt đới nguyên sinh hay thứ sinh là tái sinh liên tục dưới tán kín
rậm của những loài chịu bóng và tái sinh theo vệt để hàn gắn các lỗ trống đầu
tiên với các loài tiên phong. Qua đó tác giả cũng khẳng định ánh sáng là nhân
tố đã khống chế và điều khiển quá trình TSTN.
Năm 1964, các chuyên gia Trung Quốc đã xây dựng tiêu chuẩn đánh
giá TSTN theo năm cấp cho vùng Quỳ Châu, Nghệ An dựa theo mật độ cây
tái sinh, gồm: rất tốt: > 12000 cây/ha, tốt: 8000 - 12000 cây/ha, trung bình:
4000 - 8000 cây/ha, xấu: 2000 - 4000 cây/ ha và rất xấu: < 2000 cây/ha, dễ áp
dụng trong thực tế.
Nhận xét chung về tái sinh rừng tự nhiên hỗn loài, Nguyễn Ngọc Lung
(1983) cho biết đầy đủ số lượng và chất lượng cây tái sinh, bình quân 10 - 13
nghìn cây/ha từ cây mạ cho đến cây có D < 10cm; và trong quá trình phát
triển cây tái sinh bị phân hoá rất mạnh, dưới tán rừng già ở Kon Hà Nừng khó
tìm thấy cây con của một số loài ưu thế tầng trên. Sự phong phú về về số
lượng cây và loài tái sinh cũng đã được Phùng Ngọc Lan (1984), [10] qua
5
nghiên cứu rừng tự nhiên ở Tam Tấu, lâm trường Bắc Sơn - Lạng Sơn ghi
nhận có gần 30 loài tái sinh với số lượng từ 14000 - 16000 cây/ha.
Về ảnh hưởng của nhân tố ánh sáng đến quá trình tái sinh tự nhiên, theo
rừng kín ẩm thường xanh và nửa rụng lá nhiệt đới mưa mùa ở Đồng Nai.
Đinh Quang Diệp (1992), [7] nghiên cứu TSTN trên đối tượng rừng khộp ở
Đăk lăk. Qua đó các tác giả đã đề xuất biện pháp kỹ thuật khai thác, bảo vệ và
nuôi dưỡng rừng cụ thể cho từng đối tượng nghiên cứu.
Trần Đình Lý và các cộng sự (1995), [11] trong khi nghiên cứu TSTN
thảm thực vật rừng vùng núi cao Sapa, cho rằng không cần phải nghiên cứu
đo đếm tất cả các cây TSTN mà chỉ cần quan tâm đến những cây có chiều cao
từ 2m trở lên cũng đủ để đánh giá đúng tiềm năng của TSTN thảm thực vật.
Theo quan điểm lâm học và căn cứ vào ý kiến của Thái Văn Trừng đã nêu
phần trên thì nhận định này thật ra chưa hoàn toàn chính xác.
Theo Lê Sáu - Đinh Hữu Khánh - Ngô Văn Trai (1995) cho biết trên
các đối tượng rừng IIIA1 - IIIA3 sau khai thác ở Kon Hà Nừng, số lượng cây
tái sinh đạt từ 22000 - 34000 cây/ha (nhiều hơn lúc chưa khai thác), cây tái
sinh triển vọng đều đạt trên 1000 cây/ha (cao nhất ở trạng thái IIIA1 với 1996
cây/ha và thấp nhất ở trạng thái IIIA3 với 1079 cây/ha). Nhưng qua nghiên
cứu TSTN rừng lá rộng thường xanh hỗn loài tại Quỳ Châu - Nghệ An,
Nguyễn Duy Chuyên (1996), [6] cho biết ở rừng loại IV và IIIB có số cây tái
sinh lớn nhất: 3200 - 4000 cây/ha. Qua đó cho thấy có sự biến động lớn về
mật độ cây tái sinh giữa các loại rừng ở các vùng khác nhau.
Gần đây phương pháp định lượng cũng đã được nhiều tác giả áp dụng
trong khi nghiên cứu TSTN. Nguyễn Văn Thêm (1992), [13] dùng phân bố
Thomas và Neyman đã mô phỏng phân bố số cây tái sinh theo diện tích trong
nghiên cứu tái sinh Dầu Song Nàng ở rừng kín ẩm thường xanh và nửa rụng
lá tại Đồng Nai. Đinh Quang Diệp (1993) sử dụng phân bố khoảng cách và
hình học để mô phỏng phân bố N/H của cây tái sinh rừng Khộp Đăk lăk. Ngô
Kim Khôi (1999), [9] dùng tiêu chuẩn U của Clark và Evans để nghiên cứu
7
hình thái phân bố cây tái sinh trên bề mặt đất rừng; chọn hàm Meyer để mô
hình hoá quy luật cấu trúc tần số phân bố số cây, số loài tái sinh theo cấp
chiều cao cho rừng vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát - Nghệ An.
- Tổ thành loài cây tái sinh
- Phân bố cây tái sinh theo cỡ chiều cao
- Phân bố loài tái sinh theo cỡ chiều cao
- Phân bố cây tái sinh theo mặt phẳng nằm ngang
9
- Nguồn gốc, chất lượng cây tái sinh
2.3.3. Đánh giá ảnh hưởng của tầng cây cao và cây bụi, thảm tươi đến lớp
cây tái sinh.
Trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm tầng cây cao và cây bụi thảm tươi ta
đánh giá ảnh hưởng của chúng đến lớp cây tái sinh tại khu vực nghiên cứu.
- Ảnh hưởng của tổ thành tầng cây cao đến tổ thành cây tái sinh.
- Ảnh hưởng của cây bụi thảm tươi đến cây tái sinh.
2.3.4. Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh hợp lý nhằm nâng cao
hiệu quả tái sinh phục hồi rừng cho đối tượng nghiên cứu
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Phương pháp kế thừa
Kế thừa những thông tin cơ bản về khu vực nghiên cứu:
- Bản đồ khu vực nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và dân sinh tại khu vực nghiên
cứu.
- Các tài liệu tham khảo về vấn đề nghiên cứu ở trong và ngoài nước.
2.4.2. Phương pháp ngoại nghiệp
Để thu thập số liệu ngoại nghiệp, đề tài tiến hành lập OTC điển hình
cho từng trạng thái rừng nghiên cứu.
Trên mỗi trạng thái rừng IIA, IIB, IIIA1 lập 3 OTC. Mỗi OTC có diện
tích 1000m
2
(40x25m).
Trong mỗi OTC lập 5 ô dạng bản (ODB), với diện tích mỗi ô là 25m
2
(m)
Hvn
(m)
Hdc
(m)
ĐT NB TB ĐT NB TB
1
2
b) Điều tra lớp cây tái sinh
- Xác định tên phổ thông của các loài cây tái sinh.
- Xác định số cây tái sinh trong từng ODB.
- Xác định chiều cao cho từng cây tái sinh theo cấp chiều cao có sẵn
trong biểu điều tra cây tái sinh bằng thước mét.
- Phân cấp chất lượng cây tái sinh theo 3 cấp: Tốt, trung bình, xấu.
Cây tốt: Là cây có tán lá phát triển đều, tròn, có trục chính rõ ràng,
không bị sâu bệnh, lá màu xanh, không bị khuyết tật.
Cây trung bình: Là những cây có tán lá thưa, số lá ít, ít khuyết tật.
11
Cây xấu: Là những cây có tán lá lệch, lá tập trung ở ngọn, sinh trưởng
kém, khuyết tật nhiều, bị sâu bệnh.
- Xác định nguồn gốc cây tái sinh: Tái sinh hạt hay tái sinh chồi.
Các chỉ tiêu đo đếm được ghi vào biểu điểu tra cây tái sinh.
Biểu 2.2. Điều tra cây tái sinh
TT ODB
Loài
cây
Chiều cao(m) Sinh trưởng
Số
lượng
Nguồn gốc
Dựa vào phương pháp tính tổ thành của Danil Marmailod:
IV% =
2
%% GiNi
+
Trong đó: IV% là một chỉ số quan trọng phản ánh tỉ số phần trăm tổ thành của
loài i so với tổng số loài trong lâm phần.
Ni% là phần trăm theo số cây của loài i trong trạng thái rừng.
Gi% là phần trăn theo tổng tiết diện ngang của loài i trong trạng thái
rừng.
Những loài có IV% ≥ 5% mới có ý nghĩa sinh thái trong lâm phần
và đưa vào công thức tổ thành.
Cách viết công thức tổ thành:
Viết từ loài có hệ số tổ thành cao đến loài có hệ số tổ thành thấp.
Phần số biểu thị hệ số tổ thành, phần chữ là viết tắt của tên loài.
b) Đối với tầng cây tái sinh
- Xác định số loài được đưa vào công thức tổ thành cây tái sinh:
n
=
m
N
m
Ni
n
i
=
∑
=1
Trong đó: m là tổng số loài ở mỗi trạng thái.
Ni là tổng số cây của mỗi loài ở mỗi trạng thái.
N là tổng số cá thể
N là số ODB
+ Xác định phương sai về số cây giữa các ODB theo công thức:
S
2
x
=
( )
∑
−
−
1
2
n
xxi
Trong đó: xi là số lượng cá thể của ODB thứ i
S
x
2
là phương sai số cây giữa các ODB
Xi là tổng số cây của loài thứ i
+ Xác định tỷ số: K =
x
S
2
K ≤ 1: Phân bố cây tái sinh trên mặt đất là phân bố đều.
14
K = 1: Phân bố cây tái sinh trên mặt đất là phân bố ngẫu nhiên.
K ≥ 1: Phân bố cây tái sinh trên mặt đất là phân bố cụm.
- Phân bố cây tái sinh theo chất lượng:
Ảnh hưởng của cây bụi, thảm tươi đến lớp cây tái sinh.
2.4.5. Đề xuất một số giải pháp kỹ thuật lâm sinh hợp lý nhằm nâng cao
hiệu quả tái sinh phục hồi các trạng thái rừng đã nghiên cứu.
Chương 3
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI
KHU VỰC NGHIÊN CỨU
16
3.1. Điều kiện tự nhiên
3.1.1. Vị trí địa lý
VQG Xuân Sơn nằm ở huyện Tân Sơn, Tỉnh Phú Thọ, cách thành
phố Việt Trì 80 km, có phạm vi ranh giới như sau:
- Phía Đông giáp xã Long Cốc, Vĩnh Tiến - huyện Tân Sơn.
- Phía Tây giáp huyện Phù Yên - tỉnh Sơn La và huyện Đà Bắc - tỉnh
Hòa Bình.
- Phía Bắc giáp xã Đồng Sơn, Lai Đồng, Tân Phú và Tân Sơn - huyện
Tân Sơn.
- Phía Nam giáp xã Kim Thượng - huyện Tân Sơn và một phần huyện
Đà Bắc - tỉnh Hòa Bình.
- Tọa độ địa lý: Từ 21
0
03’ đến 21
0
12’ vĩ độ Bắc và từ 104
0
51’ đến
105
0
01’ kinh Đông.
VQG Xuân Sơn có diện tích vùng đệm là 18369 ha, trong đó diện tích
vùng lõi là 15048 ha, khu vực bảo vệ nghiêm ngặt là 11148 ha, phân khu phục
.
Nhìn chung địa hình trong khu vực có những kiểu chính sau:
* Kiểu núi trung bình (N2): Hình thành trên đá phiến biến chất có độ
dốc cao từ 700 – 1368 m. Kiểu này phân bố chủ yếu ở Tây và Tây Nam VQG
bao gồm phần lớn hệ đá vôi Xuân Sơn và các dãy núi đất xen kẽ. Tác dụng
xâm thực mạnh, độ dốc lớn trung bình 30
0
, mức độ chia cắt phức tạp và là đầu
nguồn của hệ sông suối của sông Bứa. Kiểu địa hình này chiếm tỷ lệ 10,4%
diện tích.
* Kiểu địa hình núi thấp (N3): Được hình thành trên các đá trầm tích
lục nguyên uốn nếp, tác dụng xâm thực bóc mòn, thuộc địa hình này là các
núi có độ cao từ 300 – 700 m phân bố chủ yếu từ Nam, Tây Nam đến phía
Bắc khu vực. Núi ở đây có hình dạng mềm mại, đỉnh tròn, sườn thoải, độ dốc
trung bình chỉ 20
0
, có những thung lũng mở rộng hơn ở vùng núi phía Tây
Bắc.
18
* Kiểu đồi (Đ): Có độ cao < 300 m, phân bố chủ yếu về phía Đông khu
vực. Có hình dạng đồi lượn sóng mềm mại được cấu tạo từ các loại đá trầm
tích và biến chất hạt mịn, hiện nay đã được trồng xen Chè Shan, chè Xanh.
* Thung lũng và bồn địa (T): Đó là những vùng trũng kiến tạo giữa núi
phân bố chủ yếu ở các xã vùng đệm, trong đó có Xuân Đài. Đây là các thung
lũng sông suối mở rộng, địa hình bằng phẳng, độ dốc rất thoải, trong đó có
trầm tích phù sa rất thuận lợi cho canh tác nông nghiệp.
3.1.3. Khí hậu
3.1.3.1. Chế độ nhiệt
- Nhiệt độ trung bình năm biến động từ 22 - 23
0
- Lượng bốc hơi không cao (653 mm/năm), điều đó đánh giá khả năng
che phủ đất của lớp thảm thực bì còn cao, hạn chế được lượng nước bốc hơi,
làm tăng lượng nước thấm, duy trì được nguồn nước ngầm trong khu vực.
3.1.3.3. Một số hiện tượng thời tiết đáng chú ý
- Gió tây khô nóng: Vùng này chỉ chịu gió Tây (khô và nóng) vào các
tháng 4 - 7. Trong các tháng này nhiệt độ không khí có ngày lên tới 39 - 40
0
C,
bốc hơi cũng cao nhất > 70 - 80 mm, độ ẩm không khí hạ xuống thấp tuyệt
đối.
- Mưa bão: Vùng này tuy ở sâu trong lục địa, nhưng cũng chịu ảnh
hưởng nhiều của mưa bão. Hai tháng nhiều mưa bão nhất là tháng 8 và tháng
9. Bão thường kèm theo mưa lớn, gây lũ và lụt lội làm thiệt hại khá nghiêm
trọng cho nền kinh tế của địa phương và nhân dân sinh sống trong vùng.
- Sương muối: Thường xuất hiện vào mùa Đông, những ngày nhiệt độ
xuống thấp dưới 5
0
C, sương muối thường xuất hiện trong các thung lũng núi
đá vôi, mỗi đợt kéo dài vài ba ngày, ảnh hưởng rất lớn đến cây con, cây ăn
quả và cây lấy giống ra hoa kết quả vào thời gian này.
3.1.4. Thủy văn
Hệ thống sông Bứa với các chỉ lưu của nó tỏa rộng ra khắp các vùng.
Với lượng mưa khá dồi dào, trung bình năm từ 1500 - 2000 mm, lượng mưa
cực đại có thể tới 2453 mm, nhưng có năm ít mưa chỉ đo được 1414 mm, tạo
ra tiềm năng to lớn cho nghề nuôi, trồng thủy sản và chăn nuôi thủy cầm (Vịt
suối).
Trong vùng này khá giàu nước, môđun dòng chảy gần 401l/s/km
2
.
Dòng chảy cực tiểu khoảng 6 - 7l/s/cm
khu vực này:
- Đất feralit có mùn trên núi trung bình (FH): Được hình thành trong
điều kiện mát ẩm, độ dốc lớn, không có nước đọng, không có kết von và tầng
mùn dày, tỷ lệ mùn cao 8 - 10%. Phân bố từ 700 – 1386 m, tập trung phía Tây
của khu vực, giáp huyện Đà Bắc (Hòa Bình) và Phú Yên (Sơn La).
- Đất feralit đỏ vàng phát triển trên vùng đồi núi thấp (F): Là loại đất
có quá trình Feralit mạnh và điển hình, màu sắc phụ thuộc vào từng loại đá
21
mẹ và độ ẩm của đất. Phân bố dưới 700 m thành phần cơ giới nặng, tầng đất
dầy, ít đá lẫn, đất khá màu mỡ, thích hợp cho các loài cây rừng phát triển.
- Đất Rangin (hay đất hình thành trong vùng núi đá vôi) - R: Đá vôi
là loại đá cứng, khó phong hóa, địa hình lại dốc đứng nên khi phong hóa đến
đâu lại bị rửa trôi đến đó, đất chỉ hình thành trong các hang hốc hoặc chân núi
đá.
- Đất dốc tụ và phù sa sông suối trong các bồn địa thung lũng (DL):
Là loại đất phì nhiêu, tầng dầy, màu nâu, thành phần cơ giới chủ yếu là limon
(L). Hàng năm thường được bồi thêm một lớp phù sa mới khá màu mỡ.
3.2. Đặc điểm kinh tế xã hội
3.2.1. Đặc điểm dân cư
Trong VQG Xuân Sơn có 10 xóm gồm: Cỏi, Lấp, Dù, Lạng, Lùng,
Mằng (thuộc xã Xuân Sơn); Xoan, Tân Ong, Hạ Bằng (thuộc xã Kim
Thượng).
Các xóm này phân bố chủ yếu dưới chân các dãy núi đá vôi và núi đất,
ở độ cao từ 200 – 400 m so với mực nước biển, tập trung phần lớn ở phía
Đông, 1 phần ở phía Bắc và phía Nam của VQG.
3.2.2. Đặc điểm dân tộc
Dân cư của các xóm này chủ yếu là 2 dân tộc: Dao (Mán) chiếm
65,42% dân số và Mường chiếm 34,43% dân số, chỉ có 4 khẩu người Kinh
sinh sống tại khu vực này.
3.2.3. Đời sống sinh hoạt
-Indonesia trong đó họ Dầu là họ tiêu biểu với 6 loài: Chò nâu, Chò chỉ, Sao
trung hoa, Táu nước, Táu lá duối, Táu muối đều là những loài họ Dầu di cư
lên phía Bắc.
Luồng thứ 2, từ phía Tây Bắc đi xuống bao gồm các yếu tố vùng ôn đới
theo vĩ độ Vân Nam - Quý Châu và chân dãy núi Himalaya. Trong đó, có các
23
loài cây ngành Thông, họ Đỗ Xuyên và các loài cây lá rộng rụng lá họ Dẻ, họ
Thích.
Luồng thứ 3, từ phía Tây và Tây Nam lại, là luồng các yếu tố Indonesia
- Malaysia của vùng khô hạn Ấn độ - Miến điện, tiêu biểu là một số loài rụng
lá như Sâng, họ Bàng.
3.3.1.2. Khu hệ động vật
- Đặc điểm hệ động vật:
Khu hệ động vật có xương sống trên cạn đã được khảo sát từ 1991, khi
xây dựng dự án đầu tư (2003) và thống kê được 365 loài, trong đó thú 69 loài,
chim 240 loài, bò sát 32 loài và lưỡng cư 24 loài. So với các kết quả khảo sát
cũ, thì đợt khảo sát năm 2003 đã bổ sung 70 loài chim, 8 loài thú và một số
loài lưỡng cư, bò sát cho thành phần động vật của VQG Xuân Sơn.
- Sơ bộ đánh giá tình trạng nguồn lợi:
Nhìn chung, tình trạng nguồn lợi động vật rừng tương đối nghèo. Có
tới 7 loài gần như đã rơi vào tình trạng bị tiêu diệt ở Xuân Sơn, đó là: Vượn
đen tuyền, Hồng hoàng, Voọc má bạc, Nai, Cheo cheo, Hổ, Báo hoa mai.
Những loài có giá trị kinh tế khác đều ở cấp mức độ thấp: Rùa, Kỳ đà, Trăn
và các loài rắn có giá trị thương mại hoặc dược liệu, đều đã trở lên hiếm. Có
khoảng 50 loài ở cấp mật độ cao, phần lớn là những loài chim nhỏ thuộc họ
Chim chích, chim sâu, các loài chim sẻ, một số thuộc những loài bò sát, lưỡng
cư.
3.3.2. Tình hình sản xuất Lâm nghiệp
Trong khu vực không có Lâm trường và không phải là vùng rừng sản
xuất, bởi vậy sản xuất lâm nghiệp ở đây chủ yếu là việc thu hái lâm sản tự
2000
Xây dựng trạm y tế 2001
Dự án làm đường VQG Xuân Sơn
Làm đường từ suối Cả
tới xóm Dù 30km
2000-2001
Dự án 327
661
Khoán bảo vệ rừng
trồng chè Shan, trồng
Giổi
2000-2002
Các dự án này đã đem lại hiệu quả khá rõ nét về phát triển kinh tế - xã
hội. Một số dự án gắn phát triển kinh tế với bảo tồn như dự án 661, dự án làm
25