Nghiên cứu sự tham gia quản lý rừng của cộng đồng tại vùng đệm vườn quốc gia xuân sơn tỉnh phú thọ full - Pdf 35

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------  ---------

TRẦN QUANG HƢNG

NGHIÊN CỨU SỰ THAM GIA QUẢN LÝ RỪNG CỦA
CỘNG ĐỒNG TẠI VÙNG ĐỆM VƢỜN QUỐC GIA
XUÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

THÁI NGUYÊN, NĂM 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1

http://www.lrc-tnu.edu.vn


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------  ---------

TRẦN QUANG HƢNG

NGHIÊN CỨU SỰ THAM GIA QUẢN LÝ RỪNG CỦA
CỘNG ĐỒNG TẠI VÙNG ĐỆM VƢỜN QUỐC GIA
XUÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ

CHUYÊN NGÀNH: LÂM HỌC


http://www.lrc-tnu.edu.vn


LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và thực hiện làm luận văn tốt nghiệp trong
chương trình đào tạo Thạc sỹ Lâm nghiệp, chuyên ngành Lâm học tại Khoa Đào
tạo sau đại học trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, tôi luôn nhận được sự
ủng hộ và giúp đỡ nhiệt tình quý báu của các thầy cô giáo, đồng nghiệp, gia đình
và bạn bè.
Nhân dịp này cho tôi được tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các cơ quan, tổ chức
và cá nhân:


Khoa Đào tạo sau đại học, Ban giám hiệu và toàn thể các thầy cô
giáo Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã giúp đỡ tôi hoàn
thành khoá đào tạo.



PGS.TS Vũ Nhâm, giáo viên hướng dẫn khoa học của luận văn đã
định hướng và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn.



Chi cục Kiểm lâm Phú Thọ, Ban quản lý Vườn quốc gia Xuân Sơn,
các ban ngành huyện Tân Sơn đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi
thực hiện luận văn.




04

1.1. Nhận thức chung về vấn đề nghiên cứu

04

1.1.1. Cộng đồng địa phương và quản lý rừng cộng đồng

04

1.1.2. Vùng đệm và quy chế quản lý vùng đệm ở Việt Nam

05

1.2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu trên thế giới

07

1.3. Tổng quan vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam

09

1.3.1. Quá trình phát triển lâm nghiệp cộng đồng ở Việt Nam

09

1.3.2. Những nghiên cứu chính về quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam

13

2.4. Nội dung nghiên cứu

18

2.4.1. Nghiên cứu thực trạng quản lý và mức độ tham gia của cộng
đồng trong công tác quản lý tài nguyên rừng, ĐDSH ở địa phương

18

2.4.2. Nghiên cứu vai trò của cộng đồng, những nguyên nhân cản trở
hoặc thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng vào quản lý tài nguyên rừng

18

2.4.3. Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp thu hút cộng đồng cùng
tham gia quản lý bảo vệ tài nguyên rừng và ĐDSH tại vùng đệm VQG

19

2.5. Phương pháp nghiên cứu

19

2.5.1. Phương pháp luận

19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

5

29

3.1.4. Thổ nhưỡng, đất đai

31

3.1.5. Tài nguyên rừng và tình hình sử dụng đất

32

3.2. Điều kiện kinh tế xã hội

33

3.2.1. Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội các xã vùng đệm

33

3.2.2. Tình hình kinh tế xã hội xã Xuân Đài

35

3.3. Đánh giá thuận lợi, khó khăn về điều kiện kinh tế xã hội

40

3.3.1. Thuận lợi

40



4.2. Nghiên cứu vai trò của cộng đồng, những nguyên nhân cản trở và thúc
đẩy sự tham gia của cộng đồng vào quản lý tài nguyên rừng ở địa phương

62

4.2.1. Các tổ chức cộng đồng ở địa phương và vai trò của cộng đồng
trong quản lý tài nguyên rừng

62

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

6

http://www.lrc-tnu.edu.vn


4.2.2. Những yếu tố cản trở và thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng và
quản lý tài nguyên rừng ở địa phương

70

4.3. Đề xuât một số giải pháp thu hút cộng đồng vào quản lý tài nguyên
rừng

76

4.3.1. Giải pháp tổ chức quản lý rừng dựa vào cộng đồng


Tài liệu tham khảo

98

DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3-1: Số liệu khí hậu của khu vực nghiên cứu

29

Bảng 3-2: Thực trạng giáo dục xã Xuân Đài

36

Bảng 3-3: Cơ cấu sử dụng đất xã Xuân Đài

38

Bảng 4-1: Đánh giá tỷ trọng các sản phẩm

48

Bảng 4-2: Nguồn thu tiền mặt của các hộ gia đình

49

Bảng 4-3: Xu hướng pháp triển của một số loài động vật chủ yếu

52

Bảng 4-4: Cơ cấu trưởng thôn và già làng trong thôn bản

50

Ảnh 4-2: Khai thác gỗ Sâng tại vùng đệm

51

DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 4-1: Mô hình tổ chức quản lý bảo vệ rừng của xã Xuân Đài

44

Sơ đồ 4-2: Hệ thống kiến thức bản địa và thể chế

54

Sơ đồ 4-3: Cơ cấu tổ chức của ban quản lý rừng cộng đồng khu hành chính

77

Sơ đồ 4-4: Tổ chức quản lý quỹ bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng

80

Sơ đồ 4-5: Phương pháp tuyên truyền bảo tồn thiên nhiên

89

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

8

PGS. TS

Phó giáo sư. Tiến sỹ

PRA

Đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân

QĐ-TTg

Quyết định- Thủ tướng

RRA

Đánh giá nhanh nông thôn

UBND

Uỷ ban nhân dân

VQG

Vườn quốc gia

WWF

Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


không chủ quản lý. Cũng có nhiều khu tuy đã có ban quản lý nhưng lực lượng
mỏng, hoạt động kém hiệu quả. Những đặc điểm này là nguyên nhân dẫn đến
rừng và ĐDSH của các khu rừng đặc dụng vẫn tiếp tục bị tác động và suy giảm.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên10

http://www.lrc-tnu.edu.vn


Từ trước tới nay, việc xây dựng các khu rừng đặc dụng cũng như xây
dựng kế hoạch quản lý và hoạt động vẫn thường được tiếp cận từ trên xuống,
chưa quan tâm đến người dân sống trong và gần các khu rừng đặc dụng. Điều
này đã đặt người dân với vai trò là người ngoài cuộc trong công tác bảo vệ rừng
và BTTN. Tiềm năng to lớn của người dân về lực lượng, về những hiểu biết và
kinh nghiệm lâu đời trong quản lý, sử dụng tài nguyên chưa được khai thác ứng
dụng. Trong khi đó, BTTN thường mâu thuẫn với những lợi ích của người dân
vốn sinh sống phụ thuộc rất nhiều vào tài nguyên rừng. Nhiều nơi, thay vì tham
gia quản lý bảo vệ tài nguyên, người dân đã đối đầu với lực lượng quản lý bảo
vệ rừng và chính quyền địa phương.
Để giảm bớt các áp lực đối với các khu rừng đặc dụng, chia sẻ gánh nặng
đối với chính quyền địa phương các cấp trước tình trạng trên thì việc tham gia
của người dân trong công tác BTTN là rất cần thiết. Sự tham gia của người dân
không chỉ dừng lại ở mức độ thụ động, mà cần phải nâng cao hơn nữa như được
giao đất, giao rừng, chủ động tham gia vào quản lý bảo vệ tài nguyên rừng. Từ
đó mới đánh giá đúng đắn vai trò của người dân trong công tác bảo vệ rừng và
BTTN, sử dụng và chia sẻ lợi ích. Trên cơ sở đó người dân mới thực sự tự
nguyện tham gia vào công tác bảo tồn, cũng như những hiểu biết và kinh
nghiệm của người dân mới được ứng dụng ngay trên mảnh đất hàng ngày họ
đang sinh sống.
Trước tình hình đó, Nhà nước đã triển khai một số chương trình, dự án hỗ
trợ cho người dân vùng đệm với số tiền không nhỏ. Tuy nhiên các dự án này


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên12

http://www.lrc-tnu.edu.vn


Chƣơng I: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Nhận thức chung về vấn đề nghiên cứu:
1.1.1. Cộng đồng địa phương và quản lý rừng cộng đồng:
Theo Darcy Davis Case (1990), cộng đồng địa phương là nhóm người
cùng sống trên một khu vực và thường cùng nhau chia sẻ các mục tiêu chung,
các luật lệ xã hội chung hoặc có quan hệ gia đình với nhau. [16]
Phạm Xuân Phương (2001) [12], trong báo cáo hội thảo quốc gia “Khuôn
khổ chính sách hỗ trợ quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam” được tổ chức tại Hà
Nội tháng 11/2001 cho rằng: “Cộng đồng bao gồm toàn thể những người sống
thành một xã hội có những điểm tương đồng về mặt văn hoá truyền thống, có
mối quan hệ sản xuất, đời sống gắn bó với nhau và thường có danh giới không
gian trong một làng bản”.
Theo điều 3 của Luật bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR) năm 2004
[14], thì cộng đồng dân cư thôn là toàn bộ các hộ gia đình, cá nhân sống trong
cùng một thôn, làng, bản, ấp, buôn, phum, sóc hoặc đơn vị tương đương.
Như vậy, cộng đồng có thể là cộng đồng dân cư thôn, làng bản, cộng đồng
các dòng họ, các nhóm người có những đặc điểm và lợi ích chung,… trong
phạm vi nghiên cứu này, cộng đồng được hiểu theo nghĩa cộng đồng địa phương
là thôn, xóm.
Quản lý rừng cộng đồng là quản lý tài nguyên rừng mà trong đó phát huy
được năng lực nội sinh của cộng đồng cho hoạt động quản lý. Những giải pháp
quản lý rừng cộng đồng luôn chứa đựng những sắc thái của phong tục tập quán,
ý thức tôn giáo, nhận thức, kiến thức của người dân, đặc điểm quan hệ gia đình,

Theo Quyết định này [19]. Vùng đệm là vùng rừng, vùng đất hoặc vùng
đất có mặt nước nằm liền kề với VQG và khu BTTN bao gồm toàn bộ hoặc một
phần các xã, phường, thị trấn nằm sát ranh giới với VQG và khu BTTN. Vùng
đệm được xác lập nhằm ngăn chặn, giảm nhẹ sự xâm hại của con người tới VQG
và Khu BTTN. VQG và khu BTTN phải xây dựng vùng đệm cho khu rừng. Ban
quản lý khu rừng đặc dụng tổ chức cho cộng đồng dân cư vùng đệm tham gia
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên14

http://www.lrc-tnu.edu.vn


các hoạt động bảo vệ, bảo tồn, sử dụng hợp lý lâm sản và các tài nguyên tự
nhiên, các dịch vụ du lịch sinh thái để góp phần nâng cao thu nhập gắn sinh kế
của người dân với các hoạt động của khu rừng đặc dụng. Cơ quan chính quyền
Nhà nước trên địa bàn vùng đệm lập dự án đầu tư phát triển sản xuất và cơ sở hạ
tầng nông thôn để ổn định cuộc sống cho cộng đồng dân cư, đồng thời thiết lập
quy chế trách nhiệm của cộng đồng dân cư với từng hộ gia đình trong việc bảo
vệ và bảo tồn khu rừng đặc dụng. Diện tích vùng đệm không tính vào diện tích
của khu rừng đặc dụng.
Như vậy tất cả các VQG, khu BTTN đều phải có vùng đệm, đây là chiếc
nôi, là vành đai bao quanh có tác dụng bảo vệ vùng lõi VQG, khu BTTN. Vì
vậy, đầu tư xây dựng và quản lý vùng đệm là một nhiệm vụ hết sức quan trọng.
Đầu tư phát triển vùng đệm nhằm giảm nhẹ nguy cơ, thách thức và những
khó khăn trong việc bảo vệ ĐDSH. Mọi cố gắng đầu tư xây dựng và quản lý
vùng đệm là để giải quyết mâu thuẫn giữa bảo tồn thiên nhiên và phát triển nông
thôn. Đây là một vấn đề phức tạp, đòi hỏi phải có hàng loạt các biện pháp tổng
hợp: Kinh tế, kỹ thuật, xã hội, môi trường, thông tin truyền thông và phải huy
động nội lực của nhiều ngành khác nhau. Yêu cầu quan trọng của việc quản lý
vùng đệm là phải thu hút được sự tham gia của các bên liên quan. Trong đó, đặc
biệt đề cao vai trò, trách nhiệm và quyền lợi của người dân trong cộng đồng địa

Trong giai đoạn hiện nay quản lý rừng cộng đồng đang được xem như là
một giải pháp hữu hiệu để nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, hỗ trợ giải
quyết tình trạng suy thoái tài nguyên, đã có không ít những mô hình quản lý tài
nguyên cộng đồng được hình thành ở Trung Quốc, Thái Lan, Philippine,... Đây
là những bài học quý giá cho quá trình xây dựng những giải pháp quản lý bền
vững tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng ở Việt Nam.
Ở Canada, trong bài viết của Sherry, E,1999 [26] về quản lý rừng cộng
đồng ở VQG Vutut vừa là một khu BTTN vừa là khu di sản văn hoá của người
thổ dân ở vùng Bắc Cực. Ban quản lý VQG đã phối hợp với chính quyền và thổ
dân huy động lực lượng đã làm thay đổi chiều hướng bảo tồn tự nhiên hoang dã
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên16

http://www.lrc-tnu.edu.vn


và tăng các giá trị của VQG. Sự tham gia quản lý rừng cộng đồng đã kết hợp
được các mối quan tâm và kiến thức bản địa với mục tiêu bảo tồn. Ban quản lý
VQG giúp về kỹ thuật xây dựng các mô hình bảo tồn thiên nhiên và phát triển
kinh tế xã hội, còn dân bản địa có thể thực hiện các mô hình đó. Quản lý rừng
cộng đồng đã giải quyết hài hoà mâu thuẫn giữa chính sách của chính quyền và
bản sắc truyền thống của người dân, đảm bảo cho sự thành công của công tác
bảo tồn hoang dã và bảo tồn các di sản văn hoá. Quản lý rừng cộng đồng tại
VQG Vutut được đánh giá là rất thành công, theo tác giả thì nó được thiết kế để
“kết hợp giữa sự tốt đẹp nhất của hai thế giới” Nhà nước văn minh và cộng đồng
thổ dân.
Ở Nam Phi, Moenieba Isaacs và Najma Mohamed, 2000 [23]. Trong báo
cáo “Hợp tác quản lý với người dân ở Nam Phi” đã nghiên cứu các hoạt động
hợp tác quản lý tại VQG Richtersveld là khu vực giàu có về tài nguyên thiên
nhiên và mỏ kim cương. Các cộng đồng dân cư ở đây là những người di cư từ
tỉnh Cape tới chủ yếu làm nghề khai thác kim cương. Tuy nhiên đời sống của

người dân địa phương trong quản lý và sử dụng tài nguyên thiên nhiên. Tại
Dong Yai, người dân đã chứng minh được khả năng của họ trong việc tự tổ chức
các hoạt động bảo tồn, đồng thời phối hợp với Cục Lâm nghiệp Hoàng gia xây
dựng quản lý hệ thống quản lý rừng đảm bảo ổn định về môi trường sinh thái
cũng như phục vụ lợi ích của người dân trong khu vực. Tại Nam Sa, cộng đồng
dân cư cũng rất thành công trong công tác quản lý rừng phòng hộ. Họ khẳng
định rằng nếu Chính phủ có chính sách khuyến khích và chuyển giao quyền lực
thì họ chắc chắn sẽ thành công trong việc kiểm soát các hoạt động khai thác quá
mức nguồn tài nguyên rừng, các hoạt động phá rừng và tác động tới môi trường.
Quản lý rừng cộng đồng ở Thái Lan có thể trở thành bài học kinh nghiệm quý
báu cho Việt Nam, bởi Thái Lan cũng là một nước vùng Đông Nam Á, có một
số đặc điểm tương đồng với Việt Nam về điều kiện tự nhiên và văn hoá xã hội.
1.3. Tổng quan vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam:
1.3.1. Quá trình phát triển lâm nghiệp cộng đồng ở Việt Nam:
Tính cộng đồng của các dân tộc Việt Nam đã là yếu tố quan trọng tạo nên
cơ sở cho những thành quả đã đạt được trong công cuộc bảo vệ và phát triển tài
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên18

http://www.lrc-tnu.edu.vn


nguyên rừng. Vì vậy, vấn đề phát huy vai trò của các cộng đồng để quản lý
nguồn tài nguyên này là vấn đề vừa mang ý nghĩa phát huy truyền thống, vừa có
thể tạo ra một cách quản lý tài nguyên có hiệu quả và bền vững hơn, phù hợp
với xu hướng phát triển của thế giới. [13]
Ngày nay ở Việt Nam, quản lý rừng cộng đồng đã được nhận thức như
một trong những giải pháp hiệu quả để quản lý tài nguyên thiên nhiên vùng cao.
Đó là cách quản lý mà mọi thành viên cộng đồng đều được tham gia vào quá
trình phân tích đánh giá thực trạng, xác định nguyên nhân và hình thành giải
pháp để phát huy mọi nguồn lực của địa phương cho bảo vệ, phát triển và sử



hoạ ch hóa, tậ p trung cao độ . LNCĐ và lâm nghiệ p hộ gia đình
không đư ợ c khuyế n khích phát triể n. Tuy nhiên, mộ t số nơ i


vùng cao, vùng đồ ng bào dân tộ c vẫ n tồ n tạ i các khu

rừ ng do cộ ng đồ ng tự
dầ n bị

Chỉ

công nhậ n như ng mứ c độ

tự

quả n

mai mộ t và lỏ ng lẻ o.

Quyế t đị nh 184 củ a Hộ i đồ ng Bộ

trư ở ng năm 1982 và

thị

giao đấ t giao rừ ng

29 củ a Ban bí thư năm 1983 về

Tăng cường quá trình phi tập trung hoá trong quản lý rừng, quan tâm đến
xã hội hóa nghề rừng nhưng chính sách đối với LNCĐ chưa rõ ràng.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên20

http://www.lrc-tnu.edu.vn


Ở các đị a phư ơ ng thự c hiệ n nhiề u mô hình quả n lý
rừ ng cộ ng đồ ng như ng ở
chấ t thí điể m. Bộ
về

LNCĐ để

mứ c độ

tự

phát hoặ c mang tính

NN&PTNT thành lậ p Tổ

triể n khai mộ t số

công tác Quố c gia

nghiên cứ u và tổ

chứ c




đị nh 01/CP năm 1995 về

giao khoán đấ t lâm

đị nh số 29/CP năm 1998 về Quy chế thự c hiệ n
xã, Quyế t đị nh 245/1998/QĐ-TTg về

việ c thự c

hiệ n trách nhiệ m củ a Nhà nư ớ c củ a các cấ p về
đấ t lâm nghiệ p, Thông tư 56/TT năm 1999 củ a Bộ
hư ớ ng dẫ n xây dự ng quy ư ớ c bả o vệ

rừ ng và

NN&PTNT về

phát triể n rừ ng

trong cộ ng đồ ng, Quyế t đị nh 08/2001/QĐ-TTg năm 2001 về
chế

quy

quả n lý 3 loạ i rừ ng, Quyế t đị nh 178/2001/QĐ-TTg năm

2001 về


tư ớ ng Chính phủ
đồ ng dân cư

181/2004/NĐ-CP
về

ngày

29/10/2004

củ a

Thủ

thi hành Luậ t đấ t đai quy đị nh cộ ng

thôn đư ợ c giao đấ t rừ ng phòng hộ

vớ i các

gia đình và cá nhân đư ợ c giao đấ t lâm

quyề n chung như hộ

nghiệ p như ng cộ ng đồ ng dân cư

thôn không đư ợ c chuyể n

đổ i, chuyể n như ợ ng, cho thuê, tặ ng cho quyề n sử

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên22

http://www.lrc-tnu.edu.vn


cũng đị nh nghĩa rấ t rõ ràng về quyền sử dụng rừng và quyền sở hữu
rừng sản xuất là rừng trồng cũng như việ c công nhậ n các quyề n đó
đố i vớ i các chủ

rừ ng. Theo Luậ t BV&PTR thì giao rừ ng là

việ c nhà nư ớ c ra quyế t đị nh hành chính để
dụ ng rừ ng cho chủ

rừ ng. Chủ

trao quyề n sử

rừ ng là cộ ng đồ ng dân cư

thôn cũng đư ợ c nhà nư ớ c giao rừ ng không thu tiề n đố i vớ i
rừ ng sả n xuấ t và rừ ng phòng hộ .
Về

quyề n và nghĩa vụ

củ a cộ ng đồ ng dân cư thôn cũng

đư ợ c quy đị nh trong Luậ t BV&PTR, thể


quyết định số 1171-CT ngày 30/11/1986 của Bộ Lâm nghiệp (nay là Bộ NN&
PTNT) ban hành các loại quy chế rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng
quy định về vùng đệm các VQG và khu BTTN, tuy nhiên cho đến nay việc thực
hiện quản lý vùng đệm còn rất hạn chế.
Quản lý rừng cộng đồng được xây dựng dựa trên phong tục tập quán của
người dân địa phương. Có những phong tục tập quán phù hợp với yêu cầu của
quản lý bền vững tài nguyên rừng. Nhưng cũng có những phong tục tập quán
ngược lại với yêu cầu của quản lý bền vững tài nguyên rừng. Vì vậy, quản lý
rừng cộng đồng phải hướng người dân vào phát huy được những phong tục tập
quán có lợi và giảm dần những phong tục tập quán cản trở hoạt động quản lý
bền vững tài nguyên rừng. Tuy nhiên, phong tục tập quán, nhận thức, kiến thức
của người dân không phải là bất biến. Chúng thay đổi không ngừng cùng sự tiến
bộ của xã hội. Vì vậy, những giải pháp quản lý rừng cộng đồng không chỉ phù
hợp với đặc điểm nhận thức và kiến thức của người dân mà còn phải hướng đến
làm thay đổi chúng theo chiều hướng có lợi cho hoạt động quản lý bền vững tài
nguyên rừng. [16]
Ngày nay ở nước ta, quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng đã được
nhận thức như một trong những giải pháp hiệu quả để quản lý tài nguyên thiên
nhiên vùng cao. Đó là cách quản lý mà mọi thành viên cộng đồng đều được
tham gia vào quá trình phân tích đánh giá thực trạng, xác định nguyên nhân và
hình thành giải pháp để phát huy mọi nguồn lực của địa phương cho bảo vệ,
phát triển và sử dụng tối ưu các nguồn tài nguyên thiên nhiên vì sự phồn thịnh
của mỗi gia đình và cộng đồng.
Trần Ngọc Lân và các đồng sự (1995 - 1998) [10], đã tiến hành nghiên
cứu tại vùng đệm khu BTTN Pù Mát và dựa trên nghiên cứu này, cuốn sách
“Phát triển bền vững vùng đệm khu BTTN và VQG” được ra đời năm 1999.
Nghiên cứu đã đánh giá áp lực của vùng đệm lên khu bảo tồn và hệ thống nông
hộ tại vùng đệm Pù Mát. Tác giả kết luận rằng các nông hộ trong vùng đệm Pù
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên24


3 tỉnh Hoà Bình, Nghệ An và Thừa Thiên Huế. Các tác giả đã tiến hành tìm hiểu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên25

http://www.lrc-tnu.edu.vn



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status