Số hóa bởi trung tâm học liệu ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHẠM THỊ THUÝ NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG CÂY GỖ VÀ GÓP PHẦN ĐỀ
XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP BẢO TỒN TẠI XÃ XUÂN SƠN
THUỘC VQG XUÂN SƠN TỈNH PHÖ THỌ Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60 62 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP Phạm Thị Thúy Số hóa bởi trung tâm học liệu
ii
LỜI CẢM ƠN
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và được sự nhất trí của Ban chủ
nhiệm khoa Sau Đại học trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên tác giả tiến hành
thực hiện đề tài “Nghiên cứu tính đa dạng cây gỗ và góp phần đề xuất một số
biện pháp bảo tồn tại xã Xuân Sơn thuộc VQG Xuân Sơn tỉnh Phú Thọ”.
Sau một thời gian làm việc đến nay bản luận văn của tác giả đã hoàn
thành. Nhân dịp này tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy giáo
hướng dẫn Tiến sỹ Lê Đồng Tấn Viện trưởng Viện nghiên cứu khoa học Tây
Bắc là người tận tâm hướng dẫn tác giả trong thời gian thực hiện đề tài.
Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo phòng quản lý đào tạo
Sau Đại học, khoa Lâm nghiệp những người đã truyền thụ cho tác giả những
kiến thức và phương pháp nghiên cứu quý báu trong thời gian tác giả theo
học tại trường.
Tác giả xin chân thành cảm ơn UBND xã, toàn thể nhân dân xã Xuân
Sơn và Ban quản lý VQG Xuân Sơn đã nhiệt tình tạo mọi điều kiện giúp đỡ
tác giả trong quá trình nghiên cứu.
Và cuối cùng tác giả xin chân thành cảm ơn sâu sắc nhất tới gia đình,
bạn bè và những người luôn quan tâm chia sẻ và tạo mọi điều kiện giúp đỡ
trong thời gian tác giả học tập và nghiên cứu vừa qua.
Do lần đầu làm quen với nghiên cứu khoa học, nên luận văn không tránh
1.3.3. Nghiên cứu về yếu tố địa lý cấu thành hệ thực vật 11
1.3.4. Nghiên cứu về phổ dạng sống 12
1.4. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam 13
1.4.1. Đa dạng về phân loại 13
1.4.2. Đa dạng về hệ sinh thái và thảm thực vật 15
1.4.3. Nghiên cứu về yếu tố địa lý cấu thành hệ thực vật 16
1.4.4. Nghiên cứu về phổ dạng sống của hệ thực vật 19
1.5. Những nghiên cứu tại VQG Xuân Sơn 21
1.6. Tổng quan khu vực nghiên cứu 23
1.6.1. Vị trí địa lý 23
1.6.2. Địa hình – địa mạo 23
1.6.3. Khí hậu – thủy văn 24
1.6.4. Các nguồn tài nguyên 26
1.6.5. Thực trạng môi trường 28
1.6.6. Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 28
Chƣơng 2 NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 32
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 32 Số hóa bởi trung tâm học liệu
iv
2.3. Nội dung nghiên cứu 32
2.4. Phương pháp nghiên cứu 33
2.4.1. Phương pháp kế thừa 33
2.4.2. Phương pháp điều tra 33
2.4.3. Phương pháp xử lý số liệu 34
Chƣơng 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 42
3.1. Tính đa dạng về thành phần cây gỗ 42
Chữ viết tắt
Nội dung
BQL
:
Ban quản lý
BTTN
:
Bảo tồn thiên nhiên
D
1,3
(cm)
:
Đường kính ngang ngực
ĐDSH
:
Đa dạng sinh học
ĐVT
:
Đơn vị tính
Hvn
(m)
:
Chiều cao vút ngọn
ÔTC
:
Ô tiêu chuẩn
Ôdb
Bảng 3.6: Bảng các yếu tố địa lý các họ cây gỗ tại Xuân Sơn 49
Bảng 3.7: Bảng các yếu tố địa lý các chi cây gỗ tại Xuân Sơn 50
Bảng 3.8: Bảng các yếu tố địa lý các loài cây gỗ tại Xuân Sơn 52
Bảng 3.9: Đa dạng về giá trị của hệ thực vật tại khu vực nghiên cứu 54
Bảng 3.10: Danh sách các họ có loài cây thuộc nhóm cây làm thuốc 55
Bảng 3.11: Danh sách các họ có loài thuộc nhóm cây ăn quả 56
Bảng 3.12: Danh sách các họ có loài thuộc nhóm cây làm cảnh 57
Bảng 3.13: Hệ thống các ô tiêu chuẩn trong các trạng thảm thực vật 61
Bảng 3.14: Danh sách các loài cây gỗ quí hiếm tại xã Xuân Sơn 66
Số hóa bởi trung tâm học liệu
vii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1. Biểu đồ sự phân bố của các taxon cây gỗ trong ngành 43
Hình 3.2: Biểu đồ phổ dạng sống của cây gỗ tại Xuân Sơn 47
Hình 3.3: Biểu đồ phổ các yếu tố địa lý của các loài cây gỗ tại Xuân Sơn 53
Hình 3.4: Biểu đồ các nhóm công dụng của cây gỗ tại khu vực nghiên cứu 54
Mặc dù có nhiều nghiên cứu đã thực hiện nhưng các nghiên cứu thường
chỉ tập trung ở một lĩnh vực nhất định, phục vụ cho mục đích của từng ngành Số hóa bởi trung tâm học liệu
2
nghề trong khai thác rừng. Điều đó dẫn đến nhiều loài hay nhiều nguồn tài
nguyên chứa đựng trong nhóm cây gỗ còn chưa được khám phá, trong khi rất
nhiều nhóm, loài đang ngày càng bị mất đi do khai thác của con người.
Vườn quốc gia (VQG) Xuân Sơn được thành lập theo Quyết định số
49/2002/QĐ-TTg, ngày 17/4/2002 của Thủ tướng Chính phủ, là một trong 30
VQG có trên lãnh thổ Việt Nam, là địa bàn không những có vị trí quan trọng
về an ninh quốc phòng, mà còn là hành lang giao lưu phát triển kinh tế nối liền
vùng Tây Bắc và Đồng bằng Bắc Bộ. Với diện tích tự nhiên là 33.687 ha bao gồm
vùng lõi là 15.048 ha và vùng đệm là 18.639 ha trong đó diện tích rừng núi đá vôi
chiếm khoảng 10%, độ che phủ chiếm 60,5%. VQG Xuân Sơn nằm trong dãy núi
liên hoàn phía Đông Nam của dãy Hoàng Liên Sơn, là lá phổi xanh của Phú Thọ,
là rừng đầu nguồn của sông Bứa và các chi lưu của sông Đà, sông Hồng. VQG
Xuân Sơn có nhiều hang động nổi tiếng, là vùng rừng núi có nhiều cảnh quan tự
nhiên đa dạng kỳ thứ, làm nền tảng cho sự hình thành phát triển các nguồn tài
nguyên thiên nhiên, trong đó có Đa dạng sinh học. Đến nay chưa có cuốn sách
nào viết về đa dạng sinh học và bảo tồn nguồn gen tại VQG Xuân Sơn.
Xã Xuân Sơn thuộc VQG Xuân Sơn tỉnh Phú Thọ là một xã có thảm
thực vật phong phú và đa dạng, nhưng cho đến này đã bị suy thoái và bị phá
hủy, trong khi công tác điều tra đánh giá và thống kê tài nguyên thực vật còn
chưa được thực hiện. Tại đây có nguồn thực vật rất đa dạng nhưng chưa có
nghiên cứu nào thống kê một cách cụ thể tính đa dạng cây gỗ tại đây. Đặc biệt
xã Xuân Sơn nằm trong vùng lõi thuộc khu bảo tồn nghiêm ngặt của VQG
Xuân Sơn. Xuất phát từ thực tế tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu
khu vực nghiên cứu phục vụ cho công tác bảo vệ, bảo tồn và khai thác sử
dụng hợp lý phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội tại địa phương và các vùng
lân cận.
Số hóa bởi trung tâm học liệu
4
Chƣơng 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Quan điểm nhận thức về Đa dạng sinh học
Trên thế giới đa dạng sinh học đã được nghiên cứu từ lâu, tuy nhiên phải
đến những năm 1990 của thế kỷ 20 vấn đề này mới thực sự trở nên cấp thiết
và thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học và nhiều quốc gia.
Cho đến nay có nhiều khái niệm (định nghĩa) về ĐDSH đã được đưa ra.
Theo Quỹ Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (WWF, 1990) [21] ĐDSH là sự
phồn thịnh của cuộc sống trên trái đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và
vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong các loài và là những hệ sinh thái vô
cùng phức tạp cùng tồn tại trong một môi trường. Như vậy, ĐDSH được xem
xét ở cả 3 mức độ: ĐDSH ở mức độ gen là sự khác nhau giữa các loài, giữa
các quần thể sống cách ly nhau về địa lý cũng như giữa các cá thể cùng chung
sống trong một quần thể. ĐDSH ở mức độ loài là gồm toàn bộ các sinh vật
sống trên trái đất, từ vi khuẩn đến các loài động, thực vật và các loài nấm.
ĐDSH ở mức độ hệ sinh thái là sự khác nhau của các loài giữa các hệ sinh
thái, nơi mà các loài cũng như các quần xã sinh vật tồn tại.
Trong bản Công ước về bảo tồn ĐDSH được thông qua tại hội nghị
thượng đỉnh tại Rio de Janeiro (Braxin, 1992) [9] định nghĩa “ĐDSH là tính
nhau về ĐDSH. Tuy có khác nhau nhưng đa số các tác giả đều thống nhất cho
rằng ĐDSH là sự khác biệt hay tính muôn hình muôn vẻ của thế giới sinh vật
trên toàn trái đất và được thể hiện ở 3 mức độ như sau:
- Đa dạng ở mức độ di truyền: Mỗi loài sinh vật và thậm chí trong một cá
thể của loài đều có phân tử AND đặc trưng cho loài. Tính đặc trưng này được
thể hiện qua số lượng và trình tự sắp xếp các nucleotit trong phân tử AND, qua
hàm lượng trong nhân tế bào và tỷ lệ giữa các cặp bazơ A+T/G+X. Trật tự các
nu trong các gen có liên quan đến qui định các tính trạng và các đặc tính cơ thể.
Trong quá trình tiến hóa của sinh vật từ thấp đến cao, hàm lượng AND trong
các tế bào cũng được tăng lên. Đó là sự biểu hiện của đa dạng gen [31] Số hóa bởi trung tâm học liệu
6
- Đa dạng mức độ loài: Là phạm trù chỉ mức độ phong phú về số lượng
các loài hoặc số lượng phân loài (loài phụ) trên trái đất, ở một vùng địa lý,
trong một quốc gia hay một sinh cảnh nhất định. Loài là một nhóm cá thể
khác biệt với các nhóm cá thể khác về mặt sinh học và sinh thái. Các cá thể
trong loài có vật chất di truyền (giao phối, giao phấn) với nhau và các thế hệ
con cái hữu thụ (có khả năng sinh sản tiếp). Vì vậy, tính đa dạng loài hoàn
toàn bao trùm tính đa dạng di truyền và thường được coi trọng nhất khi đề
cập đến tính ĐDSH.
- Đa dạng ở mức độ sinh thái: Thể hiện bằng sự khác nhau của các kiểu
quần xã sinh vật tạo nên. Quần xã sinh vật được xác định bởi các loài sinh vật
trong một sinh cảnh nhất định cùng các mối quan hệ qua lại giữa các cá thể
trong loài và giữa các loài với nhau. Quần xã sinh vật cũng quan hệ với môi
trường vật lý tạo thành một hệ sinh thái. Hệ sinh thái là một cấu trúc và chức
năng sinh quyển bao gồm các quần xã động, thực vật, các quần xã vi sinh vật,
thổ nhưỡng (đất) và các yếu tố khí hậu. Các thành phần này liên hệ với nhau
trong 10 quốc gia ở Châu Á và một trong 16 quốc gia trên thế giới có tính
ĐDSH cao do có sự kết hợp của nhiều yếu tố.
Tuy nhiên, tài nguyên rừng Việt Nam đã và đang bị suy thoái nghiêm
trọng do nhiều các nguyên nhân khác nhau như nhu cầu lâm sản ngày càng
tăng, việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất, khai thác quà mức, không đúng
kế hoạch, chiến tranh,… Theo số liệu mà Maurand P công bố trong công trình
“Lâm nghiệp Đông Dương” thì đến năm 1943 Việt Nam còn khoảng 14,3
triệu ha rừng tự nhiên với độ che phủ là 43,7% diện tích lãnh thổ [44]. Quá
trình mất rừng xảy ra liên tục từ năm 1943 đến đầu những năm 1990, đặc biệt
từ năm 1976 -1990 diện tích rừng tự nhiên giảm mạnh, chỉ trong 14 năm diện
tích rừng giảm đi 2,7 triệu ha, bình quân mỗi năm mất gần 190 ngàn ha
(1,7%/năm) và diện tích rừng giảm xuống mức thấp nhất là 9,2 triệu ha với độ
che phủ 27,8% vào năm 1990 (Trần Văn Con, 2001). Việc mất rừng, độ che
phủ giảm, đất đai bị suy thoái do xói mòn, rửa trôi, sông hồ bị bồi lấp, môi
trường bị thay đổi, hạn hán lũ lụt gia tăng, ảnh hưởng lớn đến mọi mặt đời
sống của nhiều vùng dân cư. Mất rừng còn đồng nghĩa với sự mất đi tính đa
dạng về nguồn gen động thực vật. Số hóa bởi trung tâm học liệu
8
Theo thống kê chính thức năm 2004, diện tích rừng đã tăng lên 12,3 triệu
ha với độ che phủ 37,3%, và đến tháng 12 năm 2007 diện tích rừng Việt Nam
đã tăng lên 12,8 triệu ha với độ che phủ 38,2%. Nhưng hơn hai phần ba diện
tích rừng của Việt Nam là rừng nghèo hoặc rừng đang phục hồi, trong khi đó
rừng giàu và rừng kín năm 2000 chỉ chiếm 3,4% và năm 2004 chiếm 4,6%
tổng diện tích rừng. Hầu như ở các vùng thấp không còn các khu rừng với
tính đa dạng còn nguyên vẹn.
VQG Xuân Sơn được nhân dân Phú Thọ coi là lá phổi xanh của tỉnh bởi
trái đất, nếu những tài nguyên đó bị mất đi hoặc giảm sút thì cuộc sống
của chúng ta và con cháu của chúng ta sẽ bị đe doạ nghiêm trọng. Chúng
ta đã quá lạm dụng tài nguyên của trái đất mà không nghĩ đến các thế hệ
tương lai, nên ngày nay loài người đang đứng trước những hiểm họa khôn
lường. Để tránh sự huỷ hoại các nguồn tài nguyên chúng ta phải tôn trọng
quy luật tự nhiên.
Vì vậy tháng 6 năm 1992 Hội nghị thượng đỉnh bàn về môi trường và đa
dạng sinh vật được tổ chức tại Rio de Janeiro ( Brazil ) có 150 nước ký vào
Công ước về đa dạng sinh vật và bảo vệ chúng. Từ đó nhiều hội thảo dược tổ
chức nhằm thảo luận và có nhiều cuốn sách mang tính chất chỉ dẫn ra đời.
Năm 1990 WWF đă cho xuất bản cuốn sách nói về tầm quan trọng về đa dạng
sinh vật ( The importance of biological diversity ) hay IUCN, IUNEP và
WWF (1996) [21] đưa ra chiến lược bảo tồn thế giới ( Wold conservation
strategy ). Năm 1991 Wri, Wcu, WB, WWF xuất bản cuốn bảo tồn đa dạng
sinh vật thế giới ( conserving the World’s biological diversity ) hoặc IUCN,
IUNEP và WWF (1996) [21] xuất bản cuốn “Hãy quan tâm tới trái đất” (
Caring for the earth ). Cùng năm Wri, IUCN và UNEP xuất bản cuốn chiến
lược đa dạng sinh vật và chương trình hành động. Tất cả các cuốn sách đó
nhằm hướng dẫn và đề ra các phương pháp để bảo tồn ĐDSH, làm nền tảng
cho công tác bảo tồn và phát triển tương lai.
Trên thế giới những nghiên cứu về thành phần loài đã được tiến hành từ
khá lâu. Ở Liên Xô (cũ) có các nghiên cứu của Vưsotxki (1915), Alokhin
(1904), Craxit (1927), Sennhicốp (1933), Creepva (1978)… Theo các tác giả Số hóa bởi trung tâm học liệu
10
thì mỗi vùng sinh thái khác nhau sẽ hình thành những kiểu thảm thực vật khác
nhau. Sự khác biệt này được thể hiện bởi thành phần loài, nhóm dạng sống,
J. Beard (1938) đưa ra hệ thống phân loại gồm 3 cấp (quần hợp, quần hệ
và loạt quần hệ). Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng rừng nhiệt đới có 5 loạt
quần hệ: Loạt quần hệ rừng xanh từng mùa; loạt quần hệ khô thường xanh;
loạt quần hệ miền núi; loạt quần hệ ngập từng mùa và loạt quần hệ ngập
quanh năm.
Maurand (1943) [44] nghiên cứu về thảm thực vật Đông Dương đã chia thảm
thực vật Đông Dương thành 3 vùng: Bắc Đông Dương, Nam Đông Dương và
vùng trung gian. Đồng thời ông đã liệt kê 8 kiểu quần lạc trong các vùng đó.
1.3.3. Nghiên cứu về yếu tố địa lý cấu thành hệ thực vật
Các yếu tố cấu thành nên một hệ thực vật nào đó không chỉ khác nhau về
thành phần phân loại mà còn khác nhau về sự phân bố địa lý, nguồn gốc địa lý
và cả thời kỳ địa chất [33].
Phân tích các yếu tố địa lý thực vật là một trong những yếu tố quan trọng
khi nghiên cứu một hệ thực vật hay bất kỳ một khu hệ sinh vật nào để hiểu
bản chất cấu thành của nó làm cơ sở cho việc định hướng bảo tồn và dẫn
giống vật nuôi, cây trồng Tập hợp các loài của một hệ thực vật có khu phân
bố ít nhiều giống nhau tập hợp lại thành một yếu tố địa lý. Tập hợp tất cả các
yếu tố địa lý của hệ thực vật (tính %) là phổ các yếu tố địa lý của hệ thực vật
đó. Mặc dù vậy, việc nghiên cứu các yếu tố cấu thành của hệ thực vật cũng rất
phức tạp và phải phụ thuộc vào khả năng, ý định của từng tác giả cũng như
nguồn tài liệu cho phép. Việc chia nhóm phân bố phải đảm bảo nguyên tắc mỗi
yếu tố địa lý của hệ thực vật bao gồm tất cả các loài của hệ thực vật đó có khu
phân bố ít nhiều giống nhau. Các yếu tố địa lý này được chia thành 2 nhóm:
Nhóm các yếu tố đặc hữu và nhóm các yếu tố di cư. Các loài thuộc nhóm các
yếu tố đặc hữu thể hiện ở sự khác biệt giữa các hệ thực vật với nhau, còn các
loài thuộc nhóm các yếu tố di cư chỉ ra sự liên hệ giữa các hệ thực vật đó. Số hóa bởi trung tâm học liệu
Số hóa bởi trung tâm học liệu
13
Tác giả đã tính toán cho hơn 1.000 loài cây ở các vùng khác nhau trên
trái đất và tìm được tỷ lệ % trung bình cho từng loài, gộp lại thành phổ dạng
sống tiêu chuẩn (ký hiệu SN)
Ph
Ch
Hm
Cr
Th
46
9
26
6
13
Hay SN = 46 Ph + 9 Ch + 26 Hm + 6 Cr + 13 Th
Khi nghiên cứu hệ thực vật ở một khu vực cụ thể, các tác giả đều phân
chia và sắp xếp các loài thực vật thành các nhóm dạng sống tùy theo tiêu chí
của từng tác giả. Trong số đó thì hệ thống phân của Raunkiaer vừa đảm bảo
tính khoa học vừa dễ áp dụng vì nó dựa trên những đặc điểm cơ bản của thực
vật, nghĩa là dựa trên đặc điểm cấu tạo, phương thức sống của thực vật, đó là
kết quả tác động tổng hợp của các yếu tố môi trường tạo nên.
1.4. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
1.4.1. Đa dạng về phân loại
Ngay từ thế kỷ XVIII, Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về
thực của các tác giả người nước ngoài như: Loureiro (1790), Pierre (1879 –
1907), Lecomte (1907) trong cuốn thực vật chí Đại cương Đông Dương và
các tập bổ sung tiếp theo đã mô tả và ghi nhận có khoảng 240 họ với khoảng
7.000 loài thực vật bậc cao có mạch [69]. Theo Phạm Hoàng Hộ (1991 -
[24]; Nguyễn Tiến Bân và cộng sự (1983) [3]; Lê Mộng Chân (1994) [7]; Đỗ
Tất Lợi (1995) [26]; Nguyễn Nghĩa Thìn (1997, 1998) [47, 48]
Để phục vụ công tác khai thác tài nguyên Viện Điều tra Quy hoạch Rừng đã
công bố 7 tập Cây gỗ rừng Việt Nam (1971 - 1988) [39]. Trần Đình Lý và
cộng sự (1993) công bố 1.900 cây có ích ở Việt Nam; Võ Văn Chi (1997)
công bố từ điển cây thuốc Việt Nam; Viện Dược liệu (2004) cho ra cuốn cây
thuốc và động vật làm thuốc
Trong vài thập kỷ vừa qua, các nhà khoa học đã bổ sung thêm nhiều
loài mới vào danh sách các loài của Việt Nam, trong đó có một số loài mới
cho khoa học. Trong giai đoạn 1993-2002, có 13 chi, 222 loài và 30 taxon
dưới loài đã được ghi nhận. Có 2 họ, 19 chi và hơn 70 loài được ghi nhận mới
cho hệ thực vật Việt Nam. Trong đó có 3 loài mới cho khoa học thuộc ngành Số hóa bởi trung tâm học liệu
15
Hạt trần. Tỷ lệ phát hiện loài mới nhiều nhất là họ Lan (Orchidaceae) với 3
chi mới và 62 loài [40].
1.4.2. Đa dạng về hệ sinh thái và thảm thực vật
Về đa dạng quần xã thực vật trên phạm vi cả nước phải kể đến công trình
nghiên cứu nổi tiếng của Thái Văn Trừng (1978) về thảm thực vật Việt Nam .
Dựa trên quan điểm sinh thái phát sinh quần thể, tác giả phân chia thảm thực
vật Việt Nam thành các kiểu phụ, kiểu trái và thấp nhất là các ưu hợp. Trong
các yếu tố phát sinh thì khí hậu là yếu tố phát sinh ra kiểu thực vật, còn các
yếu tố địa lý, địa hình, địa chất, thổ nhưỡng, khu hệ thực vật và con người là
yếu tố phát sinh của các kiểu phụ, kiểu trái và ưu hợp [38].
Đối với mỗi miền đều có những tác phẩm lớn: Ở miền Nam có công
trình thảm thực vật nam Trung Bộ của Schmid (1974). Ngoài điều kiện khí
hậu với chế độ thoát hơi nước khác nhau, các tiêu chuẩn phân biệt các quần
Thành phần của một hệ thực vật nào đó không chỉ khác nhau về số lượng
mà còn khác nhau về yêu tố địa lý [16].
Phân tích và đánh giá các yếu tố địa lý trước tiên phải kể đến các công
trình của Gagnepain trong tác phẩm “Góp phần nghiên cứu hệ thực vật Đông
Dương”. Theo ông hệ thực vật Đông Dương có các yếu tố sau:
Yếu tố Trung Quốc 33,8%
Yếu tố Xích kim – Himalaya 18,5%
Yếu tố Malaysia và nhiệt đới khác 15,0%
Yếu tố đặc hữu bán đảo Đông Dương 11,9%
Yếu tố nhập nội và phân bố rộng 20,8%
Thái Văn Trừng (1978) [38] cho rằng ở Việt Nam có 3% số chi và 27,5%
số loài đặc hữu. Nhưng khi thảo luận tác giả đã gộp các nhân tố di cư từ Nam
Trung Hoa và nhân tố đặc hữu bản địa Việt Nam làm một và căn cứ vào khu
phân bố hiện tại, nguồn gốc phát sinh của loài đó đã nâng tỷ lệ các loài đặc
hữu bản địa lên 50% (Tương tự 45,7% theo Gagnepain và 52,79% theo Pócs
Tamás), còn yếu tố di cư chỉ chiếm tỷ lệ 39,0% (trong đó từ Malaysia –
Indonesia là 15%, từ Hymalaya – Vân Nam – Qúi Châu là 10% và từ Ấn Độ - Số hóa bởi trung tâm học liệu
17
Miến Điện là 14%), các nhân tố khác theo tác giả chỉ chiếm 11% (7% nhiệt
đới, 3% ôn đới và 1% thế giới), nhân tố nhập nội vẫn là 3,08%.
Nguyễn Nghĩa Thìn (1999) căn cứ vào các khung phân loại của T. Pócs
(1965) [46] Ngô Chính Dật (1993) [35] đã xây dựng thang phân loại các yếu
tố địa lý thực vật cho hệ thực vật Việt Nam và áp dụng vào cho việc sắp xếp
các chi thực vật Việt Nam vào các yếu tố địa lý như sau:
1. Yếu tố toàn cầu
2. Yếu tố Liên nhiệt đới