i
MC LC
Trang
DANH MC CC T VIT TT
iii
DANH MC CC BNG
iv
DANH MC CC HèNH
vi
M U
1
Chng 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
3
1.1 Trờn th gii
3
1.2 Vit nam
9
1.3 Khu Bo tn Thiờn nhiờn Pự Luụng
11
Chng 2. địa điểm, thời gian và ph-ơng pháp nghiên cứu
12
2.1 a im nghiờn cu
12
2.1.1 V trớ a lý
12
2.1.2 a hỡnh - th nhng
14
3.2 Đa dạng sinh học của Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Luông
33
3.2.1 Đa dạng về hệ sinh thái
33
3.2.2 Đa dạng của Hệ thực vật
37
3.2.3 Đa dạng loài Hệ động vật
41
3.2.4 ý nghĩa kinh tế và ý nghĩa bảo tồn
47
3.2.5 Sự suy thoái đa dạng sinh học và các nguyên nhân ở Khu Bảo tồn
Thiên nhiên Pù Luông
50
3.3 Thực trạng tổ chức quản lý Khu Bảo tồn
59
3.3.1 Mục tiêu
59
3.3.2 Cấu trúc tổ chức Ban quản lý
60
3.3.3 Cơ sở hạ tầng
64
3.3.4 Đầu tư kinh phí
65
3.3.5 Tổ chức các hoạt động và kết quả
66
3.3.6 Các chính sách có liên quan đến Khu Bảo tồn và mối quan hệ giữa
Ban quản lý Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Luông với các bên liên quan trong
công tác quản lý, bảo tồn đa dạng sinh học
72
3.3.7 Những thách thức trong công tác quản lý
FFI : Tổ chức Động Thực vật Thế giới
UNDP: Tổ chức Phát triển Liên hợp quốc
IUCN : Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới
WWF : Quỹ Quốc tế về Bảo vệ Thiên nhiên
KBT: Khu Bảo tồn
KBTTN: Khu Bảo tồn Thiên nhiên
KHKT: Khoa học kỹ thuật
UBND: Uỷ ban nhân dân
PCCCR: Phòng cháy chữa cháy rừng
iv
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Diện tích các loại đất theo mục đích sử dụng của các xã nằm
trong KBTTN Pù Luông
28
Bảng 3.11: Thu nhập của người dân trong ở 9 xã nằm trong KBTTN Pù
Luông từ việc quản lý bảo vệ rừng
30
Bảng 3.12: Thu nhập của người dân ở 9 xã nằm trong KBTTN Pù Luông
từ trồng rừng và khai thác rừng
30
Bảng 3.13: Tổng thu nhập của người dân ở 9 xã nằm trong KBTTN Pù
Luông
31
v
Bảng 3.14: Các kiểu và phân kiểu rừng nguyên sinh chính tại KBT Pù
Luông
35
Bảng 3.15: Số lượng các taxon của hệ thực vật tại KBTTN Pù Luông
37
Bảng 3.16: Danh sách các loài thực vật quý hiếm tại Khu BTTN Pù
Luông
38
Bảng 3.17: Một số loài cây lấy gỗ và làm thuốc quan trọng ở KBT Pù
Luông
40
Bảng 3.18: Số lượng taxon của hệ động vật Khu BTTN Pù Luông
41
Bảng 3.19: Các loài thú được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam và Thế giới
có ở Khu BTTN Pù Luông
42
vi DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1: Bản đồ tổng quan KBTTN Pù Luông
13
Hình 2.2: Sơ đồ quá trình nghiên cứu
20
Hình 3.1: Rừng lá rộng trên núi đá vôi thuộc KBTTN Pù Luông
35
Hình 3.2: Sơ đồ tổ chức bộ máy hoạt động
61
Hình 3.3: Bản đồ quy hoạch KBTTN Pù Luông
68
Hình 3.4: Sơ đồ tổ chức bộ máy đề xuất
90
1
MỞ ĐẦU
Bảo tồn ĐDSH là một trong những vấn đề quan trọng hiện nay. Sự phụ thuộc
lẫn nhau giữa bảo tồn ĐDSH và phát triển của xã hội đã được chính thức công nhận
tại Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Môi trường và Phát triển ở Rio de Janeiro tháng 6
năm 1992 [13]. Nhận thức được giá trị to lớn của ĐDSH và đứng trước sự suy thoái
nghiêm trọng của nguồn tài nguyên này, trong những năm qua, Nhà nước ta đã rất
quan tâm đến công tác bảo tồn ĐDSH và đã có hàng loạt chính sách cũng như hoạt
chủ yếu là sản xuất nông lâm nghiệp nhưng do năng suất thấp và thiếu đất canh tác
nên đời sống của người dân còn gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, công tác bảo tồn
ĐDSH tại KBTTN Pù Luông phụ thuộc nhiều từ phía cộng đồng dân cư trong và
xung quanh KBT [27] .
BQL KBTTN Pù Luông được thành lập năm 1999, được giao nhiệm vụ quản
lý nguồn tài nguyên của KBT. Ngay sau khi được thành lập BQL đã có những kế
hoạch, giải pháp cho quản lý nguồn tài nguyên của KBT, tuy nhiên cơ quan Nhà
nước không thể quản lý được các nguồn tài nguyên khi mà các nguồn tài nguyên đó
lại đã và đang là nguồn sống và thu nhập của các cộng đồng dân sống trên địa bàn.
Các mâu thuẫn hiện nay thể hiện sự cần thiết phải có các nghiên cứu về các giải
pháp kỹ thuật, kinh tế xã hội và chính sách cho cả các cộng đồng, để khuyến khích
người dân đang sống trong KBT trực tiếp tham gia cùng với các cơ quan Nhà nước
trong việc quản lý và sử dụng bền vững nguồn TNTN hiện có. Quản lý và sử dụng
bền vững các nguồn tài nguyên đang có tại KBTTN Pù Luông là một trong những
nhu cầu cấp thiết hiện nay để bảo tồn được các nguồn tài nguyên quí hiếm của Quốc
gia [1, 38].
Đề tài luận văn"Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp bảo tồn đa dạng sinh
học tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Luông, tỉnh Thanh Hoá” được xây dựng
trên cơ sở tổng kết những số liệu của các nghiên cứu trước đây mà tác giả là một
trong các thành viên tham gia, các số liệu điều tra bổ sung mới nhằm mục đích:
Đánh giá hiện trạng ĐDSH, tình hình quản lý tài nguyên của KBTTN Pù Luông
Đánh giá tình hình hoạt động kinh tế - xã hội và xác định các nguyên nhân gây
suy thoái ĐDSH của KBTTN Pù Luông 3
Đề xuất một số giải pháp cho việc quản lý bảo tồn, phát triển bền vững TNTN
tại KBTTN Pù Luông, tỉnh Thanh Hoá.
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU VỀ NGHIÊN CỨU BẢO TỒN ĐDSH
thức về giá trị ĐDSH của các bên liên quan còn hạn chế; sự tham gia của chính
quyền còn yếu kém; các chính sách chưa nhất quán, chưa phù hợp với người dân
18, 23]. Sự mất mát về ĐDSH hiện nay là đáng lo ngại, con người đang khai thác
thiên nhiên một cách tàn bạo làm cho nhiều loài bị tiêu diệt, chúng ta đã đánh mất
một kho tàng nguồn gen động thực vật hoang dã quí hiếm, đánh mất lá phổi xanh
của nhân loại và đánh mất những cỗ máy giúp điều hoà khí hậu, bảo vệ môi trường sống
cho tất cả các loài sinh vật trên quả đất 22, 24]. Theo số liệu nghiên cứu trong những
năm gần đây, tốc độ mất nơi sống tự nhiên của các loài động vật hoang dã ngày
càng gia tăng ở các nước châu Phi (65%) và Đông Nam Á (68%) [42] . Trên thế
giới, hàng năm có khoảng 4,9 triệu ha rừng nguyên sinh tại các vùng nhiệt đới bị
phá huỷ; Từ năm 1950 đến nay, ước tính có 600.000 loài bị diệt vong, cứ ba loài
đang tồn tại có hai loài có nguy cơ bị tiêu diệt; IUCN thông báo có 5.200 loài động
vật đang có nguy cơ bị tiêu diệt: 1.100 thú (25%), 1.100 chim (11%), 2.000 cá nước
ngọt (20%), 253 bò sát (20%), 124 ếch nhái (25%); Trong số 170.000 loài thực vật
bậc cao có 34.000 loài đang nguy cấp, đa số ở vùng nhiệt đới [32].
Trước tình hình đó, đã có hàng chục Công ước liên quan đến bảo tồn ĐDSH
trên thể giới đời, một số công ước quan trọng liên quan đến công việc bảo tồn
ĐDSH như: Công ƣớc ĐDSH. Là công ước toàn cầu về ĐDSH đã được thông qua
tại Nairobi ngày 22/05/1992. Công ước được thoả thuận vào ngày 05/06/1992 tại
Hội nghị LHQ về Môi trường và Phát triển tại Rio de Janeiro vào năm 1992 đến nay
đã được 183 nước phê chuẩn, trong đó có Việt Nam và có hiệu lực vào ngày
29/12/1993; Công ước Ramsar (Công ước về các vùng Đất ngập nước có tầm quan
trọng quốc tế, đặc biệt là nơi cư trú của chim nước). Là công ước về các khu đất
ngập nước quan trọng được xác định dựa theo Chỉ tiêu Ramsar, dựa trên tính đặc
biệt và những giá trị về ĐDSH. Công ước Ramsar được bắt đầu thực hiện từ năm
1975 và tính tới ngày 04/04/2002, đã có 131 thành viên tham gia ký kết vào Công
ước và bảo vệ 1150 khu đất ngập nước trên thế giới. Công ước này được bổ sung 5
6
Quỹ Quốc tế về Bảo vệ Thiên nhiên (WWF) (2001) đã đưa ra một thông điệp
chung rất đơn giản: “Hoạt động bảo tồn phải đề cập đến vấn đề xoá đói giảm nghèo
như là một phần quan trọng của chính sách bảo tồn tài nguyên rừng” [43].
Có nhiều phương pháp và công cụ để bảo tồn và quản lý ĐDSH. Một số
phương pháp và công cụ được sử dụng để phục hồi một số loài đặc biệt nào đó, các
dòng di truyền hay các sinh cảnh. Một số khác được sử dụng để sản xuất một cách
bền vững các sản phẩm, hàng hoá và dịch vụ từ các tài nguyên sinh học. Một số nữa
có xu hướng tạo ra sự phân phối một cách công bằng các lợi nhuận thu được từ việc
bảo tồn ĐDSH, sử dụng bền vững các tài nguyên sinh học [7]. Có thể phân chia các
phương pháp và công cụ thành các nhóm như sau:
Bảo tồn nguyên vị (in situ). Bảo tồn nguyên vị bao gồm các phương pháp và công
cụ nhằm mục đích bảo vệ các loài, các chủng và các sinh cảnh, các HST trong điều
kiện tự nhiên. Tuỳ theo đối tượng bảo tồn mà các hành động quản lý thay đổi.
Thông thường bảo tồn nguyên vị được thực hiện bằng cách thành lập các KBT và
đề xuất các biện pháp quản lý phù hợp. Theo Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế
(IUCN) thì có 6 loại KBT: Loại I: KBT nghiêm ngặt (hay khu bảo tồn hoang dã),
Loại II : VQG, chủ yếu để bảo tồn các HST và sử dụng vào việc du lịch, giải trí ,
giáo dục; Loại III: Công trình thiên nhiên, chủ yếu bảo tồn các cảnh quan thiên
nhiên đặc biệt; Loại IV: KBT sinh cảnh hay các loài, chủ yếu là nơi bảo tồn một số
sinh cảnh hay các loài đặc biệt cần bảo vệ; Loại V: KBT cảnh quan đất liền hay
cảnh quan biển, chủ yếu bảo tồn các cảnh quan thiên nhiên đẹp, sử dụng cho giải trí
và du lịch; Loại VI: KBT quản lý TNTN, chủ yếu quản lý với mục đích sử dụng
một cách bền vững các HST và TNTN. Ngoài ra theo Chương trình Giáo dục Khoa
học và Văn hoá Liên Hiệp Quốc (UNESCO) còn có Khu di sản thế giới, và theo
công ước RAMSAR có KBT Đất ngập nước RAMSAR. Tuy nhiên, bảo tồn nguyên
vị còn bao gồm cả các công việc qủan lý các động thực vật hoang dã, các nguồn
TNTN ngoài các KBT. Trong nông nghiệp và lâm nghiệp, bảo tồn nguyên vị được
hiểu là việc bảo tồn các giống loài cây trồng và cây rừng được trồng tại đồng ruộng
công cụ nhằm giới hạn việc sử dụng các nguồn tài nguyên thông qua việc xây dựng
quy hoạch sử dụng đất đai; chính sách khuyến khích sản xuất, chính sách thuế để
hướng việc sử dụng đất đai vào công việc nào đó; điều chỉnh thời hạn sử dụng đất 8
đai để đảm bảo được quyền lợi của cộng đồng và cá nhân, nhằm tạo được cảnh quan
phù hợp cho việc bảo tồn ĐDSH. Điều cần lưu ý là trong thực tiễn, không thể xây
dựng kế hoạch sử dụng lâu bền cho tất cả các loài riêng biệt vì rằng trong vùng có
thể có rất nhiều loài mà mỗi loài lại đòi hỏi có những điều kiện riêng biệt. Để có thể
bảo tồn được hàng nghìn loài cùng một lúc, có lẽ biện pháp bảo vệ tốt các sinh
cảnh, nơi sinh sống của các loài, các HST là biện pháp tốt nhất và có tính thực tiễn
cao nhất. Tuy nhiên mỗi khi nói đến quy hoạch quản lý HST, cần lưu ý là mỗi HST
cũng đòi hỏi cách quản lý phù hợp. Ví dụ HST đồng cỏ cần phải luân phiên đốt cỏ,
vì rằng nhiều loài cỏ chỉ có thể phát triển được một cách bình thường sau khi bị đốt.
Trái lại các loài cây thuộc HST rừng ẩm nhiệt đới rất dễ bị chết khi rừng bị cháy
[7].
Bảo vệ và hồi phục các HST, các loài, các chủng quần và đa dạng gen. Như chúng
ta đã biết các HST là nơi có tính ĐDSH cao. Vì rằng các quần xã sinh vật, các loài,
các chủng quần, gen, và các quá trình sinh địa học để bảo toàn sự sống đều diễn ra
và tồn tại trong các HST, mà các cố gắng để bảo tồn thiên nhiên tập trung vào việc
bảo tồn các HST. Công việc quản lý các KBT là đề xuất các phương pháp, các hành
động nhằm điều chỉnh các hoạt động của con người trong các vùng địa lý có thể
gây những tác động xấu đến các chủng quần sinh vật hay làm cản trở các quá trình
sinh thái. Một trong những mục tiêu quan trọng trong việc bảo tồn sinh học là bảo
vệ các đại diện của HST và các thành phần của ĐDSH. Ngoài cách xây dựng các
KBT cũng cần thiết phải giữ gìn các phần của sinh cảnh, hay các hành lang còn sót
lại trong khu vực mà con người đã làm thay đổi cảnh quan thiên nhiên, và bảo vệ
cả các khu vực được xây dựng để thực hiện chức năng sinh thái đặc trưng (như chế
độ thuỷ văn) quan trọng cho công tác bảo tồn ĐDSH [7].
10‟-23
o
24‟. Đông và Đông
Nam giáp biển Đông và Thái Bình Dương, Bắc giáp Trung Quốc, Tây giáp Lào và
Tây-Nam giáp Campuchia. Do vị trí địa lý và lịch sử phát triển, Việt Nam có sự đa
dạng rất lớn về điều kiện tự nhiên, địa hình, khí hậu, thuỷ văn và văn hóa. Vì vậy,
Việt Nam có mức độ ĐDSH cao và độc đáo.
Tổng kết các công bố về hệ thực vật Việt Nam, Nguyễn Nghĩa Thìn (1999) đã
ghi nhận có 13.766 loài thực vật, trong đó, có 2.393 loài thực vật bậc thấp và 11.373
loài thực vật bậc cao (bảng 6.2). Theo đánh giá, 10 % số loài thực vật dã phát hiện
được cho là đặc hữu. Cho đến nay đã thống kê được 307 loài giun tròn (Nematoda),
161 loài giun sán ký sinh ở gia súc, 200 loài giun đất (Oligochaeta), 145 loài ve giáp
(Acarina), 5.268 loài côn trùng, 260 loài bò sát (Reptilia), 120 loài ếch nhái
(Amphibia), 840 loài chim (Avecs), gần 300 loài và phân loài thú (Mammalia).
Ở Việt Nam, tình trạng suy giảm số lượng cá thể các loài, đặc biệt là các loài
quý hiếm, có giá trị khai thác ngày càng tăng, năm 2002-2003, theo tiêu chuẩn mới
của IUCN, Sách Đỏ Việt Nam đã được các nhà khoa học soạn thảo lại. Trong đó, số 10
lượng các loài động, thực vật được đưa vào Sách Đỏ lần này cao hơn số lượng đã
công bố (417 loài động vật, 450 loài thực vật) vào năm 1992, 2000 (Phần Động
vật), năm 1995 (Phần thực vật) [7]. Chúng ta đã đánh mất một kho tàng nguồn gen
động thực vật hoang dã quí hiếm, đánh mất lá phổi xanh của nhân loại và đánh mất
những cỗ máy giúp điều hoà khí hậu, bảo vệ môi trường sống cho tất cả các loài sinh vật
trên Quả đất 22.
Nhận thức được tầm quan trọng của các nguồn tài nguyên, của ĐDSH đối
với sự phát triển kinh tế, văn hoá và xã hội, trong vài thập niên gần đây Chính phủ
Việt nam đã tiến hành hàng loạt các giải pháp tích cực nhằm bảo vệ các nguồn
TNTN quí
thuyết, ít khả thi dẫn đến ĐDSH ở các khu rừng đặc dụng bị giảm sút nhiều. Do đó
thách thức quan trọng nhất đối với nước ta trong công cuộc bảo tồn ĐDSH là sớm
tìm được giải pháp ngăn chặn kịp thời sự suy thoái của rừng nhiệt đới, suy thoái các
HST điển hình cùng với hệ động vật và hệ thực vật phong phú ở đó [12].
Ngày nay ở Việt nam, bảo tồn ĐDSH dựa vào cộng đồng đã được nhận thức
như một trong những giải pháp hiệu quả để quản lý TNTN vùng cao. Đó là cách
quản lý mà mọi thành viên cộng đồng đều được tham gia vào quá trình phân tích
đánh giá thực trạng, xác định nguyên nhân và hình thành giải pháp để phát huy mọi
nguồn lực của địa phương cho bảo vệ, phát triển và sự dụng tối ưu các nguồn TNTN
vì sự phồn thịnh của mỗi gia đình và cộng đồng [14].
Tuy nhiên, các giải pháp để khuyến khích cộng đồng tham gia quản lý TNTN
ở mỗi hoàn cảnh cụ thể sẽ khác nhau, nó phụ thuộc vào đặc điểm của nguồn tài
nguyên hiện có, vào chính sách, luật pháp Nhà nước, vào những quy định của cộng
đồng, làng xóm, những phong tục, tập quán, ý thức tôn giáo, nhận thức và kiến
thức, kinh nghiệm và trình độ của người dân v.v. Trong nhiều trường hợp ở nước ta,
sự phụ thuộc này vẫn chưa được làm sáng tỏ đầy đủ. Đây là lý do vì sao việc nghiên
cứu nhằm xây dựng giải pháp quản TNTN trên cơ sở cộng đồng ứng với mỗi khu
vực cùng toàn bộ phức hệ các điều kiện tồn tại của họ vẫn đang được đặt ra như một
trong những nhiệm vụ cấp bách ở Việt Nam [10, 11].
1.3 Ở KBTTN Pù Luông 12
Khu BTTN Pù Luông nằm trên địa bàn hai huyện Quan Hoá và Bá Thước,
tỉnh Thanh Hoá, đây là khu vực cư trú của 3 nhóm tộc người chính là Thái, Mường
và Kinh. Đã có một số nghiên cứu về ĐDSH của KBTTN Pù Luông được thực hiện
bởi Viện điều tra quy hoạch rừng và Dự án bảo tồn cảnh quan dãy núi đá vôi Pù
Luông- Cúc Phương. Các kết quả khảo sát điều tra ĐDSH taị KBTTN Pù Luông đã
xác định được 1.109 loài thực vật thuộc 447 chi, 152 họ; 602 loài động vật thuộc
130 họ, 31 bộ.
Ranh giới:
Phía Bắc tiếp giáp với các huyện Mai Châu, Tân Lạc và Lạc Sơn, tỉnh Hoà
Bình.
Phía Nam giáp xã Lương Nội và xã Hạ Trung, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh
Hoá.
Phía Đông giáp với các huyện Tân Lạc và Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình.
Phía Tây giáp giáp với phần đất còn lại của các xã Hồi Xuân, Phú Nghiêm,
Thanh Xuân, thuộc KBT. 13
Khu BTTN Pù Luông có diện tích 16.983 ha, trong đó diện tích rừng tự nhiên
là 16.329,88 ha chiếm 96,15% diện tích KBT. KBT có 3 phân khu chức năng: phân
khu bảo vệ nghiêm ngặt, phân khu phục hồi sinh thái và phân khu hành chính dịch
vụ.
Hình 2-1: Bản đồ tổng quan KBTTN Pù Luông
2.1.2 Địa hình - thổ nhưỡng
Khu BTTN Pù Luông bao gồm 2 dãy núi chạy song song theo hướng Tây
Nam - Đông Bắc, được “ngăn cách” với nhau bởi một thung lũng ở giữa và được
chia làm 2 phần, vùng núi đất Pù Luông là dãy núi cao đổ về phía sông Mã và vùng
núi đá có đặc điểm địa hình không cao nhưng lại bị chia cắt thành nhiều phần nhỏ
mà độ dốc ở phía sườn núi rất lớn. Khu vực này có đặc điểm địa chất rất phức tạp
và đa dạng, bao gồm nhiều loại đá có nguồn gốc khác nhau (đá biến chất, đá macma
và đá trầm tích thuộc 15 thế hệ) và năm tuổi khác nhau (800 triệu năm tuổi tính đến
nay) [15, 28].
Địa chất và địa mạo của khu vực KBTTN Pù Luông gần như chỉ được hình
thành từ đá cacbonat (đá vôi karst). Đá trầm tích chiếm phần lớn trong phạm vi phía
Đông Bắc vùng lõi, đặc trưng của khu vực này là các loại địa hình đá vôi karst bị 15
chia cắt mạnh và các hệ thống hang động rộng lớn. Phía Tây Nam vùng lõi được
hình thành bởi đá macma và đá bazan. Khu vực có độ cao từ 60 - 1.650m so với mặt
nước biển, điểm cao nhất là núi Pù Luông. Đặc trưng của vùng đệm lân cận là các
thung lũng phẳng có sông phù sa và suối chảy qua, các đồi đá phiến, đá phiến sét và
đá cát pha sét thấp và các vùng đá vôi karst nằm biệt lập [15, 36].
2.1.3 Khí hậu - thuỷ văn
KBTTN Pù Luông nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa có gió mùa
Đông - Bắc từ tháng 11 đến tháng 2, và gió mùa Đông - Nam từ tháng 3 đến tháng
10. Một loại gió thổi từ hướng Tây nóng và khô được biết đến là gió Lào xuất hiện
vào giữa tháng 4 và tháng 5 [15, 28].
Nhiệt độ trung bình hàng năm biến động trong khoảng từ 20 - 25
0
C. Nhiệt độ
tối đa đạt xấp xỉ 37
0
DT (ha)
%
DT (ha)
%
DT (ha)
% 16
1
Phỳ L
4520,13
2.733,90
60,48
403,80
8,93
1382,43
30,59
2
Thanh Xuõn
7.776,50
4.139,00
53,22
312,46
4,02
3.325,04
42,76
2.263,40
79,72
342,90
12,10
232,60
8,18
7
Thnh Sn
3.833,70
2.842,50
74,14
411,40
10,73
579,90
15,13
8
Lng Cao
7.636,80
6954,20
91,06
426,60
5,58
256,00
3,36
9
C Lng
4.900,50
4.343,00
88,62
391,80
đối nguyên vẹn với sự đa dạng về kiểu rừng, đa dạng về cấu trúc tầng thứ và các loài
động thực vật cũng nh- các loài sinh vật khác [28]. 17
Bảng 2.2: Thống kê hiện trạng sử dụng đất của KBTTN Pù Luông
Tổng diện tích tự nhiên
16983,00 (ha)
100 (%)
I. Đất có rừng
16.329,88
96,15
- Rừng giàu
1.431,00
8,43
- Rừng trung bình
7.365,00
43,37
- Rừng nghèo
2.864,88
16,87
- Rừng phục hồi
4.382,00
25,80
- Rừng hỗn giao
238,00
1,40
- Rừng tre nứa
49,00
0,28
7.776,5
256,5
Huyện Quan Hoá
3
Phú Xuân
2.596,17
864,4
Huyện Quan Hoá
4
Hồi Xuân
7.018,08
936,44
Huyện Quan Hoá
5
Phú Nghiêm
1.892,25
621,2
Huyện Quan Hoá
6
Thành Lâm
2.838,9
1.435,9
Huyện Bá Th-ớc
7
Thành Sơn
3.833,7
2.039,5
Huyện Bá Th-ớc
8
Lũng Cao
thành viên quan trọng, vừa là một đối t-ợng h-ởng lợi từ nguồn tài nguyên này 2.3.2 Ph-ơng pháp nghiên cứu
- Ph-ơng pháp hồi cứu số liệu. S-u tầm, tổng hợp, hệ thống, phân tích tất cả các tài
liệu sẵn có có liên quan đến các nội dung nghiên cứu. ĐDSH của KBT đ-ợc xác
định qua việc kế thừa các tài liệu sẵn có nh-: Báo cáo điều tra của Viện Sinh thái và
Tài nguyên Sinh vật, báo cáo của Tổ chức Bảo tồn Động Thực vật Hoang dã Quốc tế
(FFI), Luận chứng kinh tế kỹ thuật KBTTN Pù Luông; Kế thừa các số liệu về kinh tế
xã hội của các xã, huyện, ở các báo cáo tổng kết các năm của các xã, niên giám
thống kê của các huyện.
- Ph-ơng pháp điều tra bổ sung ngoài thực địa
+ Ph-ơng pháp điều tra đa dạng sinh học: Điều tra thảm thực vật/HST, thành phần
loài các nhóm sinh vật quan trọng đ-ợc tiến hành theo các ph-ơng pháp điều tra 19
ĐDSH phổ biến hiện nay cho từng nhóm sinh vật phù hợp (KBT đã phối hợp với các
tổ chức thực hiện những cuộc điều tra tại KBT và tác giả cũng đã trực tiếp tham gia).
+ Ph-ơng pháp điều tra tình hình kinh tế - xã hội: Tiến hành thực hiện các nghiên
cứu điều tra bổ sung theo ph-ơng pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của ng-ời
dân (ph-ơng pháp đánh giá nhanh nông thôn và có sự tham gia của ng-ời dân
(RRA/PRA)). [19, 16]. Nội dung chính cần điều tra gồm: Tình hình thu nhập, các
hoạt động sản xuất, nhu cầu sử dụng tài nguyên rừng KBT.
- Ph-ơng pháp xác định các nguyên nhân làm suy thoái ĐDSH. Sử dụng ph-ơng
pháp PRA để điều tra các nguyên nhân trực tiếp gây suy giảm ĐDSH, xác định tình
hình khai thác gỗ, các loại lâm sản ngoài gỗ và săn bắt động vật; Đánh giá nhận
thức và thái độ của cộng đồng ng-ời dân trong việc bảo vệ nguồn tài nguyên
rừng. Chúng tôi chọn 4 xã của khu vực để tiến hành điều tra các loài cây gỗ, loài
động vật rừng th-ờng bị khai thác, săn bắt. mi xó tin hnh chn 2 thụn, mi