ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
DƯƠNG VĂN HƯNG Tªn ®Ò tµi:
NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIẢM NGHÈO
TẠI XÃ TỔNG CỌT, HUYỆN HÀ QUẢNG, TỈNH CAO BẰNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Phát triển nông thôn
Khoa : Kinh tế & PTNT
Khóa học : 2010 - 2014
THÁI NGUYÊN - 2014
THÁI NGUYÊN - 2014
LỜI CẢM ƠN
Được sự nhất trí của ban giám hiệu nhà trường, ban chủ nhiệm khoa
kinh tế và phát triển nông thôn trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, sau
khi hoàn thành khóa học ở trường tôi đã tiến hành thực tập tốt nghiệp tại xã
Tổng Cọt - huyện Hà Quảng - tỉnh Cao Bằng với đề tài:
“Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp giảm nghèo tại Xã Tổng
Cọt huyện Hà Quảng - tỉnh Cao Bằng”.
Trong thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn này, tôi xin chân
thành bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc nhất đến các tập thể, các cơ quan, tổ chức đã
tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài tốt nghiệp này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại Học Nông Lâm
Thái Nguyên, Phòng Đào tạo, khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn cùng các
thầy cô giáo những người đã cung cấp trang thiết bị kiến thức cho tôi trong
suốt quá trình thực tập.
Cảm ơn UBND xã Tổng Cọt các ban ngành cùng nhân dân trong xã
đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong qua trình thực tập.
Với lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất, tôi xin chân trọng cảm ơn
thầy giáo Th.S. Lành Ngọc Tú - người đã trực tiếp chỉ đạo, hướng dẫn tôi
trong suốt quá trình nghiên cứu, hoàn thành đề tài này.
Do thời gian nghiên cứu có hạn, đề tài tốt nghiệp của tôi chắc hẳn
không thể tránh khỏi những sơ suất và thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự
đóng góp của các thầy cô giáo và cùng toàn thể các bạn đọc.
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014
12 DN Doanh nghiệp
13 BHXH Bảo hiểm xã hội
14 HTX Hợp tác xã
15 CNH-HĐH Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
16 GN Giảm nghèo
DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG KHÓA LUẬN
Trang
Bảng 2.1: Chuẩn mực xác định nghèo đói giai đoạn 2005 - 2010 và 2010-2015
của Bộ Lao động-TB&XH 14
Bảng 3.1. Thành phần dân tộc, giới tính của đối tượng phỏng vấn. 40
Bảng 4.1. Tình hình sử dụng đất đai của xã Tổng Cọt từ năm 2011-2013 44
Bảng 4.2. Tình hình nuôi trồng các loại cây, con xã Tổng Cọt 46
Bảng 4.3. Tình hình phát triển cây trồng chính của xã Tổng Cọt 49
Bảng 4.4. Tình hình dân số và lao động của xã Tổng Cọt năm 2013 50
Bảng 4.5. Hiện trạng cơ sở hạ tầng trên địa bàn xã Tổng Cọt năm 2013 53
Bảng 4.6. Tỷ lệ hộ nghèo của xã Tổng Cọt giai đoạn 2011-2013 57
Bảng 4.7. Tình hình về nhân khẩu và lao động của nhóm hộ điều tra 59
Bảng 4.8. Tình hình sử dụng đất của các nhóm hộ nghiên cứu xã Tổng Cọt
năm 2013 60
Bảng 4.9. Tình hình vay vốn của nhóm hộ điều tra năm 2013 61
Bảng 4.10. Tình hình thu nhập của nhóm hộ điều tra năm 2013 62
Bảng 4.11. Phương tiện sinh hoạt của nông hộ 64
MỤC LỤC
Trang
Phần 1: MỞ ĐẦU 10
1.1. Đặt vấn đề 10
1.2. Mục đích nghiên cứu 11
1.3. Mục tiêu nghiên cứu 11
1.4. Ý nghĩa của đề tài 12
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu 12
1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn 12
PHẦN 2: TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 13
2.1. Cơ sở khoa học 13
2.1.1. Một số quan điểm về đói, nghèo 13
2.1.2. Hộ nghèo và phương pháp xác định chuẩn nghèo của Chương
trình xóa đói giảm nghèo quốc gia 14
2.1.3 Tính tất yếu, cấp thiết phải thực hiện xóa đói giảm nghèo 15
2.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài 15
2.2.1. Thực trạng nghèo trên thế giới và khu vực hiện nay 15
2.2.2. Thực trạng nghèo tại Việt Nam 19
2.2.3. Nguyên nhân nghèo đói của nước Việt Nam 21
2.2.4. Quan điểm và mục tiêu xóa đói giảm nghèo của Việt Nam 25
2.2.4.1. Quan điểm của Đảng và nhà nước
4.1.2.1. Đặc điểm kinh tế
45
4.1.2.2. Đặc điểm văn hóa xã hội
49
4.1.3. Đánh giá chung về địa bàn nghiên cứu. 53
4.2. Thực trạng đời sống của người dân tại Xã Tổng Cọt 56
4.2.1. Tình hình chung của nhóm hộ điều tra 58
4.2.1.1. Tình hình nhân khẩu và lao động của các nhóm hộ điều
tra.
58
4.2.1.2. Đặc điểm về sử dụng đất đai của nhóm hộ điều tra.
59
4.2.1.3. Tình hình vay vốn của nhóm hộ điều tra
60
4.2.1.4. Tình hình thu nhập của các hộ điều tra năm 2013
62
4.2.1.5. Phương tiện sinh hoạt của nhóm hộ điều tra (60 hộ)
63
3.2.1.6. Phương tiện sản xuất của nhóm hộ điều tra
64
4.2.1.7. Trình độ học vấn của nhóm hộ điều tra
65
4.2.2. Nguyên nhân nghèo của các hộ gia đình trong xã 66
4.2.3. Mong muốn của người dân trong xã 73
4.3. Một số các chương trình ưu đãi đối với người nghèo của Đảng và Nhà
nước đang được thực hiện ở xã 74
4.3.1. Chính sách hỗ trợ về y tế 74
4.3.2. Chính sách hỗ trợ người nghèo về nhà ở 74
4.3.3. Hỗ trợ các giống cây trồng, vật nuôi 75
4.3.4. Quà tết và chế độ hỗ trợ các gia đình nghèo ăn tết 75
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Đối với tất cả các nước trên thế giới, đói nghèo luôn là vấn đề được xã
hội quan tâm. Ở các nước phát triển, dù có mức sống cao song vẫn luôn tồn
tại tình trạng phân hóa giàu nghèo. Còn ở những nước đang phát triển với
thu nhập trung bình và thấp, trong đó bao gồm Việt Nam, thì một bộ phận
không nhỏ dân cư vẫn sống ở mức nghèo khổ, đặc biệt còn có những người
sống trong hoàn cảnh rất khó khăn vẫn phải chịu tình trạng thiếu đói, không
đủ ăn trong khi đây là nhu cầu thiết yếu của con người.
Mức độ đói nghèo cũng có sự chênh lệch khác nhau giữa các vùng
miền trong cả nước do những đặc điểm khác nhau về điều kiện tự nhiên,
kinh tế, xã hội. Trong đó, đói nghèo ở các khu vực miền núi, vùng sâu vùng
xa trầm trọng hơn các khu vực miền xuôi. Tình trạng đó đã gây ảnh hưởng
rất xấu tới chất lượng cuộc sống nhân dân vùng núi. Trong những năm gần
đây, Nhà nước ta đã dành nhiều sự quan tâm, nhiều chủ trương chính sách
tích cực giúp xóa đói giảm nghèo (XĐGN) cho vùng núi và đã đạt những kết
quả nhất định. Song trên thực tế, tình hình đói nghèo nơi đây vẫn còn khá
nghiêm trọng bởi những chính sách này chưa thật sự hoàn thiện và phù hợp
với tình hình địa phương, và do đó sự tác động của những chính sách này tới
việc khắc phục đói nghèo miền núi chưa thật sự hiệu quả.
XĐGN cũng như chữa bệnh, điều cốt lõi là phải tìm ra được đâu là
nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo đói? Trong đó, nguyên nhân nào là
Đánh giá thực trạng, tìm hiểu nguyên nhân và những yếu tố chính ảnh
hưởng đến nghèo của các hộ nông dân và đưa ra những giải pháp giảm
nghèo cải thiện đời sống nhân dân trong xã.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
- Điều tra sơ bộ và phân tích thực trạng nghèo tại địa bàn ngiên cứu
- Những nguyên nhân dẫn tới nghèo tại địa bàn nghiên cứu.
- Tìm hiểu về các chương trình xóa đói giảm nghèo đã thực hiện tại địa
phương, những kết quả đạt được và hạn chế trong các chính sách giảm
nghèo.
- Đề xuất được các giải pháp giảm nghèo phù hợp và thật sự thiết thực
với các hộ gia đình nghèo tại địa phương nhằm góp phần giảm tỷ lệ nghèo
và xây dựng địa phương ngày càng phát triển.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài là cơ hội để cho sinh viên thực hành những kiến
thức đã học, áp dụng kiến thức vào thực tế, là khung chương trình mà bộ
Giáo dục và Đào tạo đề ra có tính chất tất yếu giúp sinh viên nâng cao kiến
thức và kinh nghiệm thực tế. Nghiên cứu đề tài được xem như bài học thực
tế đầu tiên giúp cho sinh viên làm quen khi bắt tay vào thực tế, nó là cơ hội
nhưng cũng đầy thách thức mà sinh viên phải đối mặt và trải qua trước khi
ra trường và bắt tay vào công việc, nghề nghiệp của mình sau này.
Nghiên cứu đề tài đòi hỏi sinh viên phải vận dụng nhiều kiến thức đã
học để đưa vào thực tế, các thủ thuật về xác suất thống kê, kỹ năng đặt câu
hỏi khai thác thông tin, các phương pháp PRA, khả năng phân tích xử lý số
liệu, khả năng nhận định theo các nguyên lý phát triển nông thôn, sự tổng
hợp và đưa ra lý luận từ những vấn đề thực tiễn
Đây là đề tài nghiên cứu có tính chất cấp thiết và quan trọng hàng đầu
trong các chương trình phát triển kinh tế, xã hội của thế giới cũng như Việt
Nam. Bởi trong các vấn đề của xã hội thì nghèo đói được xem là gốc dễ dẫn
+ Nghèo tương đối là tình trạng không đạt tới mức sống tối thiểu tại
một thời điểm nào đó.
Khái niệm về hộ đói: hộ đói là một bộ phận dân cư có mức sống dưới
mức tối thiểu không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống
hay nói cách khác đó là một bộ phận dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa
thường xuyên phải vay nợ và thiếu khả năng trả nợ.
Khái niệm về hộ nghèo: hộ nghèo là tình trạng của một số hộ gia đình
chỉ thỏa mãn một phần nhu cầu tối thiểu của cuộc sống và mức sống thấp
hơn mức sống trung bình của cộng đồng,xét trên mọi phương tiện.
Ngoài ra còn có khái niệm xã nghèo và vùng nghèo
Xã nghèo là xã có những đặc trưng như sau:
- Tỷ lệ hộ nghèo cao hơn 40% số hộ của xã.
- Không có hoặc thiếu rất nhiều công trình cơ sơ hạ tầng như: điện sinh
hoạt, Đường giao thông, trường học, trạm y tế và nước sinh hoạt.
- Trình độ dân trí thấp, tỷ lệ mù chữ cao.
Khái niệm vùng nghèo là chỉ địa bàn tương đối rộng có thể là một số
xã liền kề nhau hoặc một vùng dân cư nằm ở vị trí rất khó khăn hiểm trở,
giao thông không thuận lợi.
2.1.2. Hộ nghèo và phương pháp xác định chuẩn nghèo của Chương trình
xóa đói giảm nghèo quốc gia
Bảng 2.1: Chuẩn mực xác định nghèo đói giai đoạn 2005 - 2010 và
2010-2015 của Bộ Lao động-TB&XH
Chỉ tiêu
Địa bàn
Thu nhập bình quân
người/tháng
2005 - 2010 2010 – 2015
Nghèo
mà thất vọng này là nguồn gốc của những hành động phá phách gây phiền
hà cho cuộc sống và trật tự xã hội, hoàn cảnh nghèo khổ buộc người ta phải
khai thác bừa bãi môi trường và làm giảm khả năng sản xuất của nó, là
mầm bệnh cho các xung đột về chính trị, xã hội, phá hoại những giá trị cơ
bản của con người và làm xói mòn hạnh phúc gia đình, những hành động
kiểu này đang là bi kịch cho nhiều gia đình và xã hội” (Báo cáo tổng kết
chương trình giảm nghèo ở châu Á - Thái Bình Dương).
Nghèo đói là nguyên nhân của hàng loạt những tác động tiêu cực với
sự phát triển xã hội và phát triển con người mà biểu hiện cụ thể của nó là:
Thu nhập thấp sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới mức sống của con người,
mức sống không đảm bảo dẫn đến hậu quả tất yếu, đó là duy dinh dưỡng ở
trẻ em và giảm tuổi thọ ở người lớn. Nhu cầu sống, nhu cầu tồn tại là nhu
cầu bản năng, nhu cầu đầu tiên của mỗi người. Trong điều kiện thu nhập
thấp, thì chi tiêu cho giáo dục, cho y tế và cho các sinh hoạt khác sẽ bị cắt
giảm để nhường chỗ cho các chi tiêu về lương thực, về quần áo Thiếu sự
chăm sóc về y tế, giáo dục thiếu kiến thức về sức khỏe sinh sản, phòng tránh
thai cũng như chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em dẫn tới tỷ lệ sinh cao, tỷ lệ
tử vong cao ở trẻ sơ sinh, thậm chí cả các bà mẹ.
2.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài
2.2.1. Thực trạng nghèo trên thế giới và khu vực hiện nay
Thực trạng đói nghèo trên thế giới đang diễn ra theo chiều hướng rất
đáng báo động. Theo một nghiên cứu của WB, nguy cơ đối với người nghèo
đang tiếp tục gia tăng trên quy mô toàn cầu, và tốc độ tăng trưởng kinh tế
suy giảm trong năm 2009 đã đẩy thêm 53 triệu người nữa rơi vào tình trạng
nghèo đói, thêm vào con số 130-155 triệu người của năm 2008, khi giá nhiên
liệu và thực phẩm tăng cao.
Suy thoái kinh tế dự kiến mỗi năm sẽ đe dọa thêm mạng sống của
200.000 đến 400.000 trẻ em trong giai đoạn 2010-2015, theo đó 1,4 đến 2,8
triệu trẻ em có thể bị tử vong nếu khủng hoảng tiếp diễn.
Chỉ số đói nghèo toàn cầu (GHI) được đánh giá trên 3 dấu hiệu cơ
các dạng tem phiếu hoặc các suất ăn từ thiện hàng ngày; 9,2 tỉ USD bị thiệt
hại do năng suất lao động giảm.
Tổ chức từ thiện Finn Care của Anh công bố một nghiên cứu cho thấy
khoảng 12,5 triệu người Anh, tức 20% dân số nước này, đang sống dưới
mức nghèo đói (theo chuẩn của Anh). Đây là thực tế đáng ngạc nhiên bởi
Anh vốn được xem là nền kinh tế lớn thứ tư thế giới. Hơn 140 triệu người ở
châu Á bị đẩy vào tình trạng cực kỳ nghèo đói trong năm 2009 khi nạn thất
nghiệp gia tăng do suy thoái kinh tế toàn cầu. Đó là cảnh báo của Tổ chức
Lao động Quốc tế (ILO) trong bản báo cáo mang tên The Fallout in Asia
được công bố ngày 18/2/2010.
Theo nhận định của ông Kuroda (Chủ tịch Ngân hàng Phát triển châu
Á (ADB), khoảng 620 triệu người ở châu Á sống dưới mức 1USD/ngày. Ít
nhất một nửa và trong số này lần lượt sống ở Ấn Độ và Trung Quốc - 2 nước
có nền kinh tế đang phát triển mạnh.
Theo thống kê của Liên Hiệp Quốc, châu Phi là châu lục có tỷ lệ
thanh niên thất nghiệp cao nhất thế giới (25,6% ở khu vực Trung Đông và
Bắc Phi). Thất nghiệp là một trong những vấn đề chủ chốt gây ra nạn đói
nghèo của lục địa Đen và ảnh hưởng tiêu cực đến các chương trình và các kế
hoạch phát triển, với tỷ lệ tăng 10% mỗi năm. 32 trong số 38 nước nghèo
nhất thế giới là thuộc châu Phi. Số tiền nợ của châu Phi lên tới 425 tỉ USD.
Tuổi thọ trung bình ở châu Phi thấp nhất thế giới, 45 tuổi. Chỉ có 58% số
người dân châu Phi được dùng nước sạch.
Từ vài thập kỷ nay, tỷ lệ mù chữ tại châu Phi gia tăng, chiếm khoảng
40% số dân châu Phi ở độ tuổi 15 và chiếm hơn 50% số phụ nữ ở độ tuổi 25.
Từ nhiều năm nay, châu Phi đã phải gánh chịu một vấn đề kinh niên là vấn
đề người tị nạn. Theo các con số chính thức, tại châu Phi có hơn 7 triệu
người tị nạn và hơn 20 triệu người không có nhà cửa do hàng loạt các cuộc
xung đột và nội chiến gây ra và đã để lại một hậu quả nặng nề về nạn đói,
nạn suy dinh dưỡng và kinh tế bị đình trệ.
Châu Phi đang phải đối mặt với nạn hạn hán kinh niên và bị thiếu
kiếm soát; môi trường sống bị ô nhiễm nghiêm trọng và vấn đề di dân tự do
đang ngày càng trở nên phức tạp.
Như vậy, đói nghèo là một trong những nguyên nhân đang trực tiếp đe
dọa đến sự tồn vong và phát triển của loài người. Tác động của nó trong
quan hệ quốc tế là rất lớn và vì vậy vấn đề này không phải của một quốc gia
riêng lẻ nào mà là của toàn nhân loại, đòi hỏi thế giới phải chung tay để giải
quyết một cách triệt để và toàn diện. Ngăn chặn tình trạng đói nghèo sẽ
không chỉ giúp nâng cao cuộc sống tại các nước đang phát triển mà còn
mang lại sự bảo đảm về an ninh cho các nước giàu.
Xin trích lời của ông Jacques Diouf, Giám đốc Tổ chức Nông - Lương
thế giới: "Để có thể loại trừ nạn đói này mỗi năm phải có ngân khoản 30 tỉ
mỹ kim, tức 8% ngân khoản mà các nước kỹ nghệ tân tiến đã yểm trợ cho
ngành nông nghiệp của họ; và thực ra nó không là gì cả đối với số tiền các
chính quyền dành cho việc mua sắm khí giới hay để chống lại cuộc khủng
hoảng tài chính trên thế giới hiện nay".
Dẫu biết rằng đó chỉ là so sánh trên con số chứ không thể đem ra đo
đếm trong hiện thực nhưng vẫn cho chúng ta biết được rằng đói nghèo là vấn
đề mà nếu các quốc gia trên thế giới một lòng quan tâm và dốc sức vào nó
thì nó không thể không bị đẩy lùi. Thiên tai, biến động kinh tế, chính trị vẫn
xảy ra hàng năm và những người dân nghèo là những người hứng chịu hậu
quả rõ rệt nhất, đặc biệt là trẻ em: đói như nỗi lo thường trực đánh cắp mất
quyền hòa nhập vào cuộc sống bình thường như công dân thế kỷ XXI của
những con người khốn khổ.
2.2.2. Thực trạng nghèo tại Việt Nam
Sáng 30/5/2011, tại Hà Nội, Bộ lao động thương binh và xã hội đã
công bố kết quả điều tra hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2010 và Nghị quyết số
80/NQ-CP về định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ 2011 - 2020.
Bộ lao động, Thương binh và xã hội công bố kết quả tổng điều tra hộ
nghèo, hộ cận nghèo trên toàn quốc năm 2010 theo chuẩn nghèo mới (thu
nhập hàng tháng của hộ gia đình nghèo là 400.000 đồng trở xuống ở nông
y tế, nhà văn hóa ở các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền
núi
2.2.3. Nguyên nhân nghèo đói của nước Việt Nam
Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu vừa trải qua một cuộc
chiến tranh lâu dài và gian khổ, cơ sở hạ tầng bị tàn phá, ruộng đồng bị bỏ
hoang, bom mìn, nguồn nhân lực chính của các hộ gia đình bị sút giảm do
mất mát trong chiến tranh, thương tật, hoặc phải xa gia đình để tham gia
chiến tranh, học tập cải tạo trong một thời gian dài.
• Chính sách nhà nước thất bại
Sau khi thống nhất đất nước việc áp dụng chính sách tập thể hóa nông
nghiệp, cải tạo công thương nghiệp và chính sách giá lương tiền đã đem lại
kết quả xấu cho nền kinh tế vốn đã ốm yếu của Việt Nam làm suy kiệt toàn
bộ nguồn lực của đất nước và hộ gia đình ở nông thôn cũng như thành thị,
lạm phát tăng cao có lúc lên đến 700% năm.
Hình thức sở hữu: việc áp dụng chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu nhà
nước và tập thể của các tư liệu sản xuất chủ yếu trong một thời gian dài đã
làm thui chột động lực sản xuất.
Việc huy động nguồn lực nông dân quá mức, ngăn sông cấm chợ đã
làm cắt rời sản xuất với thị trường, sản xuất nông nghiệp đơn điệu, công
nghiệp thiếu hiệu quả, thương nghiệp tư nhân lụi tàn, thương nghiệp quốc
doanh thiếu hàng hàng hóa làm thu nhập đa số bộ phận giảm sút trong khi
dân số tăng cao.
Lao động dư thừa ở nông thôn không được khuyến khích ra thành thị
lao động, không được đào tạo để chuyển sang khu vực công nghiệp, chính
sách quản lý bằng hộ khẩu đã dùng biện pháp hành chính để ngăn cản nông
dân di cư, nhập cư vào thành phố.
Thất nghiệp tăng cao trong một thời gian dài trước thời kỳ đổi mới do
nguồn vốn đầu tư thấp và thiếu hệu quả vào các công trình thâm dụng vốn
của Nhà nước.
• Các nguyên nhân theo vùng địa lý
Mức độ hiểu biết của các cặp vợ chồng nghèo về vệ sinh, an toàn tình dục,
cũng như mối liên hệ giữa tình trạng nghèo đói, sức khỏe sinh sản và gia
tăng nhân khẩu còn hạn chế. Dân số tăng nhanh, quy mô gia đình nhiều con
ở khu vực ngoại thành là áp lực lớn đối với vấn đề giải quyết việc làm và
xóa đói giảm nghèo đồng thời tỷ lệ người ăn theo cao trong các hộ nghèo
chính là nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo đói của họ. Tỷ lệ phụ thuộc
còn cao(54%) (Nguồn: TCTK. Điều tra biến động DS-KHHGĐ 2005-2007).
Thành kiến về vai trò của người phụ nữ còn tương đối khắt khe.
Những hộ có chủ hộ là nữ có nhiều khả năng rơi vào cảnh nghèo hơn so với
chủ hộ là nam giới. Trẻ em gái ít được đi học hơn, nếu có cũng ít được đi
học cao. Phụ nữ thường phải nhận mức lương thấp hơn nam giới ở cùng một
công việc và ít được tham gia vào các công việc điều hành quan trọng.
Chẳng may trong trường hợp mất đi người chồng, người phụ nữ thường
thiếu khả năng chống chọi nên dễ rơi vào đói nghèo.
• Các nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp đến kinh tế hộ gia đình
Tính ổn định và liên tục của nguồn thu nhập còn hạn chế nhất là trong
khu vực nông thôn do phải chịu nhiều rủi ro không lường trước được như
thiên tai, dịch bệnh, sâu bọ hay giá nông sản thấp.
Những người nghèo là những người thường có trình độ học vấn thấp,
ít có cơ hội kiếm được việc làm tốt và ổn định. Mức thu nhập của họ hầu
như chỉ đủ để đảm bảo cho nhu cầu dinh dưỡng tối thiểu và do vậy không có
điều kiện nâng cao trình độ của mình trong tương lai để thoát nghèo.
Trình độ học vấn thấp làm hạn chế khả năng kiếm việc làm trong các
khu vực khác, trong các ngành phi nông nghiệp, những công việc mang lại
thu nhập cao và ổn định. Các khu công nghiệp, khu chế xuất và khu đô thị
mới ngày càng phát triển ở khu vực ngoại thành là cơ hội cho người dân
sống nơi đây nhưng đồng thời đây cũng là thách thức lớn đối với người
nghèo, bởi lẽ do trình độ học vấn thấp họ khó có thể tìm được việc làm tốt
hơn trong các khu công nghiệp, khu chế xuất. Nếu tìm được chỗ làm cũng
chỉ là lao động phổ thông.
hoạch sản xuất cụ thểhoặc sử dụng vốn vay không đúng mục đích, do vậy họ
khó có điều kiện tiếp cận với các nguồn vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước
cũng như các tổ chức tín dụng.
Ý chí vươn lên thoát nghèo của người dân còn thấp, vẫn tồn tại thái độ
tiêu cực với cuộc sống. Nhiều người không thật sự muốn làm ăn, quanh năm
họ chỉ trông chờ vào sự cứu trợ của chính quyền, thậm chí khi chưa đến mức
bần cùng họ cũng không thể hiện chút nỗ lực nào, ngược lại là tìm mọi cách
để có tên trong sổ nghèo với hi vọng được thụ hưởng một số quyền lợi cho
không. Một số cá nhân khác do có vấn đề tâm lý (làm ăn thất bại, gia đình
đổ vỡ…) nên không thiết tha với cuộc sống và trở nên rất tiêu cực (nghiện
rượu, bài bạc…). Đây là những trường rất khó để thoát nghèo cho dù cá biện
pháp chính sách có tốt đến đâu đi chăng nữa.
2.2.4. Quan điểm và mục tiêu xóa đói giảm nghèo của Việt Nam
2.2.4.1. Quan điểm của Đảng và nhà nước
Năm 1998 lần đầu tiên giảm nghèo đã trở thành một chính sách nằm
trong hệ thống chính sách xã hội của quốc gia. Từ đó đến nay, công tác xóa
đói giảm nghèo của Việt Nam đã đạt được những thành tựu nhất định như:
luôn đạt và vượt mục tiêu đề ra qua các giai đoạn, hoàn thành vượt mức mục
tiêu thiên niên kỷ về giảm nghèo trước 10 năm…Từ năm 1992 đến năm
1998 với rất nhiều nỗ lực, tỷ lệ đói nghèo ở Việt Nam bình quân mỗi năm
giảm từ 2 đến 3%. Đến hết năm 2010 tỷ lệ nghèo của Việt Nam là 9,45%,
vượt mức mục tiêu đề ra là 10%.
Hội nghị Trung ương lần thứ 5 (khóa VII) đã đề ra chủ trương xóa đói
giảm nghèo trong chiến lược phát triển nông thôn, nông nghiệp và nông dân
cũng như trong chiến lược phát triển chung của xã hội và đã trở thành một
chủ trương chiến lược, nhất quán, liên tục được bổ sung, hoàn thiện qua các
kỳ Đại hội của Đảng.Đại hội lần thứ VIII của Đảng một lần nữa nhấn mạnh
tầm quan trọng đặc biệt của công tác xóa đói giảm nghèo, xác định phải
nhanh chóng đưa các hộ nghèo thoát ra khỏi hoàn cảnh túng thiếu và sớm
hòa nhập với sự phát triển chung của đất nước; đề ra Chương trình quốc gia