Nghiên cứu lập kế hoạch quản lý chất thải nguy hại tại thị trấn Tân Yên, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang. - Pdf 29



ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ĐẶNG VĂN LUẬN

Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU LẬP KẾ HOẠCH QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI
TẠI THỊ TRẤN TÂN YÊN, HUYỆN HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN
QUANG” KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học môi trường
Khoa : Môi trường
Khoá : 2010 – 2014
Giảng viên hướng dẫn : TS. Nguyến Đức Nhuận

Thái Nguyên, 2014

CTR chất thải rắn
UBND ủy ban nhân dân 3
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 2.1 Phân loại theo tiêu chuẩn Việt Nam……………………………………5
Bảng 2.2. Lượng CTNH và cách thức xử lý của một số nước trên thế giới…… 10
Bảng 2.3. Mô hình xử lý CTNH ở Thổ Nhĩ Kỳ……………………………… 11
Bảng4.1 Dân số phân bố theo tổ nhân dân………………………………… … 29
Bảng 4.2 Lượng CTRNH phát sinh từ chợ trung tâm………………………… 34


5
PHẦN I
MỞ ĐẦU

1.1. Đặt vấn đề
Môi trường đang là vấn đề nóng bỏng của mọi quốc gia cho dù đó là quốc
gia phát triển hay đang phát triển. Cùng với sự phát triển công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước, các đô thị, các ngành sản xuất, kinh doanh và dịch vụ được mở rộng
và phát triển nhanh chóng, một phần đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế của
đất nước, mặt khác tạo ra một số lượng lớn chất thải rắn bao gồm: chất thải sinh
hoạt, chất thải công nghiệp, chất thải y tế, chất thải nông nghiệp, chất thải xây
dựng trong đó có một lượng đáng kể chất thải nguy hại đã và đang là nguyên nhân
gây ô nhiễm môi trường, từ quy mô nhỏ, đến ảnh hưởng trên quy mô rộng lớn và
tác động xấu tới sức khoẻ, đời sống con người và chất lượng môi trường chung.

Tân Yên
- Đề xuất khu liên hợp xử lý chất thải nguy hại, trạm trung chuyển chất thải
nguy hại và lộ trình thu gom chất thải nguy hại và các biện pháp xử lý chất thải
nguy hại nằm trên địa thị trấn Tân Yên.
- Thiết lập được mô hình thu gom, vận chuyển chất thải nguy hại
1.4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.4.1. Ý nghĩa khoa học
Nghiên cứu lập kế hoạch quản lý chất thải nguy hại tại thị trấn Tân Yên, góp
phần bổ sung, hoàn thiện cơ sở khoa học về quản lý chất thải nguy hại trên địa bàn
thị trấn Tân Yên.
1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài sẽ góp phần nâng cao được sự quan tâm của người
dân về việc bảo vệ môi trường. Đồng thời làm căn cứ để cơ quan chức năng
của Tỉnh có cách nhìn tổng thể và quản lý chất thải nguy hại tốt hơn.
7
PHẦN II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở khoa học
2.1.1 Một số khái niệm
Theo UNEP
Chất thải độc hại là những chất thải (không kể chất thải phóng xạ) có hoạt
tính hóa học hoặc có tính độc hại, cháy nổ, ăn mòn gây nguy hiểm hoặc có thể gây
nguy hiểm đến sức khỏe hoặc môi trường khi hình thành hoặc tiếp xúc với các chất

dầu, nhiên liệu, ngoài ra còn có cadmium, các hợp chất hữu cơ như benzen,
etylbenzen, toluen, hợp chất hữu cơ có chứa Clo…
- Chất có tính ăn mòn: Là những chất trong nước tạo môi trường pH <3 hay
pH >12.5; chất có thể ăn mòn thép. Dạng thường gặp là những chất có tính axít
hoặc bazơ…
- Chất có hoạt tính hoá học cao: Các chất dễ dàng chuyển hoá hóa học; phản
ứng mãnh liệt khi tiếp xúc với nước; tạo hỗn hợp nổ hay có tiềm năng gây nổ với
nước; sinh các khí độc khi trộn với nước; các hợp chất xyanua hay sunfit sinh khí
độc khi tiếp xúc với môi trường axít, dễ nổ hay tạo phản ứng nổ khi có áp suất và
gia nhiệt, dễ nổ hay tiêu huỷ hay phản ứng ở điều kiện chuẩn; các chất nổ bị cấm.
- Chất có tính độc hại: Những chất thải mà bản thân nó có tính độc đặc thù
được xác định qua các bước kiểm tra. Chất thải được phân tích thành phần trong các
pha hơi, rắn và lỏng. Khi có thành phần hoá học nào lớn hơn tiêu chuẩn cho phép
thì chất thải đó được xếp vàp loại chất thải độc hại. Chất độc hại gồm; các kim loại
nặng như thuỷ ngân, cadmium, asenic, chì và các muối của chúng; dung môi hữu cơ
như toluen, benzen, axeton, cloroform…; các chất có hoạt tính sinh học (thuốc sát
trùng, trừ sâu, hoá chất nông dược…); các chất hữu cơ rất bền trong điều kiện tự
nhiên nếu tích luỹ trong mô mỡ đến một nồng độ nhất định thì sẽ gây bệnh (PCBs:
Poly Chlorinated Biphenyls).
- Chất có khả năng gây ung thư và đột biến gen: Dioxin (PCDD), asen,
cadmium, benzen, các hợp chất hữu cơ chứa Clo…
2.1.2. Phân loại chất thải nguy hại
Trên thế giới hiện nay có rất nhiều cách phân loại chất thải nguy hại: Theo
tính chất, cách quản lý, mức độc … Tuy nhiên để áp dụng cách phân loại nào thì
còn phụ thuộc vào các quốc gia khác nhau do các yếu tố xã hội – kinh tế, môi
trường và sức khỏe cộng đồng. 9
Có một số cách phân loại CTNH như sau:

Chất thải có thể tự cháy Chất thải tạo ra khí dễ cháy

H 3

H 4.1 H 4.2 H 4.3

Chất thải lỏng có nhiệt độ bắt
cháy dưới 60
o

xúc với vận dụng, thùng chứa,
hàng hóa hoặc mô sống của
động vật, thực vật.
Chất thải lỏng có pH bằng 10

2.2

Chất thải là chất ăn mòn
hoặc nhỏ hơn 2.
Chất thải thể lỏng có thể ăn
mòn thép với tốc độ lớn hơn
6.35 mm/năm ở nhiệt độ 55
o
C.
3 Chất thải dễ nổ H 1 Là chất thải rắn hoặc lỏng
hoặc hỗn hợp rắn.
- lỏng tự phản ứng hóa học tạo
ra nhiều khí, nhiệt độ và áp
suất có thể gây nổ.
4
4.1 4.2 5.2

Chất thải gây độc cho người,
sinh vật.
Chất thải gây độc cấp tính.

Chất thải gây độc chậm hoặc
mãn tính. H 6.1

H 11
Chất thải có chứa chất độc có
thể gây tử vong hoặc tổn
thương trầm trọng khi tiếp xúc
qua đường tiêu hóa, hô hấp

H 12 Chất thải chứa thành phần mà
có thể gây ra tác động có hại
nhanh hoặc từ từ đối với môi
trường thong qua tích lũy sinh
học và /hoặc gây ảnh hưởng
tới các hệ sinh vật.
7 Chất thải lây nhiễm bệnh H 6.2 Chất thải có chứa các vi sinh
vất sống hoặc độc tố của
chúng, được biết hoặc nghi
ngờ là có các mầm bệnh có thể
gây bệnh cho người và cho gia
súc.
(Nguồn: TCVN 6706 : 2000)
* Phân loại theo nguồn phát sinh
Nguồn chất thải từ sản xuất công nghiệp: Các ngành công nghiệp phát sinh
chất thải nguy hại
+ Chế biến gỗ
+ Công nghiệp cơ khí
+ Khai thác mỏ
+ Công nghiệp sản xuất giấy
+ Nhựa và vật liệu tổng hợp 12
*Phân loại theo mức độ gây hại
Cách phân loại này dựa vào thành phần, nồng độ, độ linh động, khả năng
toàn lưu, lan truyền, con đường tiếp xúc, và liều lượng chất thải.
Ảnh hưởng của chất thải nguy hại
Những vấn đề tác động môi trường cơ bản liên quan đến việc chôn lấp các
chất thải nguy hại không đúng quy cách, có liên quan đến tác động tiềm tàng đối với

- Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 9/4/2007 của Chính phủ về quản lý chất
thải rắn
- Quyết định số 2149/2009/QĐ-TTg ngày 17/12/2009 của Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về Quản lý chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn
tới năm 2050
- Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14/4/2011 của Bộ Tài nguyên và
Môi trường quy định về quản lý chất thải nguy hại
- TCVN 6706:2000 Tiêu chuẩn Việt Nam về chất thải nguy hại - phân loại
- TCXDVN 320:2004 Tiêu chuẩn thiết kế - Bãi chôn lấp chất thải nguy hại
- TCVN 7629:2007 Tiêu chuẩn Việt Nam về ngưỡng chất thải nguy hại
- TCVN 6707:2009 Tiêu chuẩn Việt Nam về chất thải nguy hại - Dấu hiệu cảnh
báo
- QCVN 07: 2009/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng chất
thải nguy hại
2.3. Cơ sở thực tiễn
2.3.1. Tổng quan về quản lý chất thải nguy hại trên thế giới
Công tác quản lý chất thải nguy hại là một vấn đề thời sự nóng hổi hiện đang
được cả thế giới quan tâm, bởi tất cả đều nhận thức được rằng: nếu không có các
biện pháp để quản lý chất thải nguy hại một cách hiệu quả, đúng đắn thì những hậu
quả không thể lượng trước được của nó khiến chúng ta và cả thế hệ mai sau phải
gánh chịu. Chính vì vậy, các quốc gia đều có đưa ra các quy định pháp luật cụ thể
về công tác quản lý chất thải nguy hại để ngăn ngừa và giảm thiểu tối đa các tác hại
của chất thải nguy hại.
Trên thế giới, các nước tiên tiến đã có hệ thống thông tin quản lý hoá chất
hoàn chỉnh. Hệ thống quản lí hoá chất( REACH) cuả châu Âu có hiệu lực từ ngày
1/6/2007. REACH cung cấp thông tin miễn phí về mọi hoạt động hoá chất với nhiều
thứ tiếng sử dụng trong cộng đồng Châu Âu : Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Đức, Ý, … 14

Bỉ 2011

4.019.261

39

7

-

3

Đan Mạch 2011

561.310

33

37

-

2

Phần Lan 2011

1.128.561

49


Hy Lạp 2011

764.006

-

-

-

0

Ireland 2011

502.061

13

13

-

11

Italy 2011

6.731.767

24


Bồ Đào Nha 2011

407.223

-

-

-

0

Tây Ban Nha 2011

3.959.863

70

2

-

1

Thụy Điển 2011

484.881

-



Xử lý Chôn lấp

Đốt
Sử dụng
làm phân
bón
Các biện
pháp khác
Loại chất thải Số lượng ( 1000 tấn)
Chất thải rắn nguy
hại
1250 400 850 40 100 710
Bùn thải nguy hại 2400 0 2400 345 55 185 1815
Tổng số 3650 400 3250 385 15 185 2515
Lượng và loại chất thải nguy hại ở Thổ Nhĩ Kỳ nhiều hơn hẳn các nước phát
triển do trình độ sản xuất còn lạc hậu, công nghệ sản xuất với hiệu suất kém tạo ra
nhiều chất thải. Các hình thức xử phạt chưa đủ sức răn đe các cơ sở vi phạm. Các
cơ sở xử lý và tái chế không đủ công suất để xử lý các chất thải nguy hại tạo ra.
(Nguồn: European Union Council Directive (EUCD), (2011) “Integrated
Pollution Prevention and Control (96/61/EC)”, 24 September) [3]
* Công tác quản lý chất thải nguy hại ở Pháp
Ở Pháp, văn bản quy định đầu tiên về những cơ sở sản xuất bị đưa vào danh
sách xếp hạng gây ô nhiễm môi trường là một sắc lệnh Napoléon ký năm 1810, và
từ năm 1917 trở đi văn bản này được liên tục sửa đổi, bổ sung. Cũng chính tại Luật
này đã đưa ra những công cụ và cơ chế để quản lý những loại hình rác thải đặc biệt
(hay còn gọi là chất thải nguy hại).Ngày 2/2/1995, Pháp lại có thêm một bộ luật mới
là Bộ luật về tăng cường bảo vệ môi trường đã thiết lập thêm phụ phí đối với việc
xử lý chất thải nguy hại, tương đương 40F (frăng Pháp)/1 tấn chất thải được loại bỏ


quyết. (Nguồn: European Commission (EC), (2011) “The European Pollutant
Emission Register”) [2] 17
2.3.2 Tổng quan về quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam
Quản lý chất thải nguy hại (CTNH) vẫn còn là một vấn đề tương đối mới mẻ
và đang khá bức xúc trong công tác bảo vệ môi trường tại Việt Nam hiện nay. Cùng
với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá mạnh mẽ của nước ta, lượng chất thải
cũng liên tục gia tăng, tạo sức ép rất lớn đối với công tác bảo vệ môi trường. Theo
kết quả nghiên cứu năm 2004, tổng lượng CTNH phát thải của Việt Nam trong năm
2003 vào khoảng 160 ngàn tấn và dự báo tăng lên khoảng 500 ngàn tấn vào năm
2010. Tuy nhiên, theo báo cáo của 35/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
năm 2009, số lượng CTNH phát sinh từ các địa phương này đã vào khoảng gần 700
ngàn tấn. Riêng số lượng CTNH được thu gom, vận chuyển, xử lý bởi các đơn vị
hành nghề quản lý CTNH liên tỉnh do Tổng cục Môi trường cấp phép trong năm
2009 là hơn 100 tấn, chỉ đáp ứng được một phần nhỏ tổng lượng phát sinh.
2.3.2.1 Nguồn phát sinh CTNH
CTNH ở Việt Nam phát sinh theo nguồn sau đây:
- Chất thải nguy hại phát sinh từ hoạt động công nghiệp
- Chất thải nguy hại phát sinh từ hoạt động nông nghiệp
- Chất thải nguy hại phát sinh từ hoạt động sinh hoạt
- Chất thải nguy hại phát sinh từ hoạt động y tế
2.3.2.2 Lượng và loại CTNH phát sinh tại Việt Nam
* Chất thải nguy hại nông nghiệp
Cộng hoà liên bang Đức đã đưa ra các biện pháp chiến lược để quản lý các
chất thải nguy hại như: ngăn ngừa ngay từ nguồn thải, giảm thiểu số lượng chất thải
nguy hại, xử lý và tái sử dụng chúng. Trong vòng 20 năm lại đây, Cộng hoà liên
bang Đức đã ban hành nhiều đạo luật về quản lý chất thải. Có khoảng 2000 điều
luật, quyết định, quy định về hành chính… với nội dung phân loại các chất độc hại

và Bệnh viện K.
Theo số liệu điều tra của Cục Khám chữa bệnh - Bộ Y tế và Viện Kiến trúc,
Quy hoạch Đô thị và Nông thôn - Bộ Xây dựng thực hiện năm 2009 - 2010, cũng
như số liệu tổng kết của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) về thành phần CTR y tế tại
các nước đang phát triển có thể thấy lượng CTR y tế nguy hại chiếm 22,5%, trong
đó phần lớn là CTR lây nhiễm. Do đó, cần xác định hướng xử lý chính là loại bỏ
được tính lây nhiễm của chất thải.
* Chất thải nguy hại tại làng nghề 19
Hiện nay, cả nước có 1.324 làng nghề được công nhận và 3.221 làng có
nghề. Hoạt động sản xuất nghề nông thôn đã tạo ra việc làm cho hơn 11 triệu lao
động, thu hút khoảng 30% lực lượng lao động nông thôn; đặc biệt có những địa
phương đã thu hút được hơn 60% lao động của cả làng, đã và đang có nhiều đóng
góp cho ổn định đời sống nông dân, góp phần phát triển kinh tế nông thôn (Bộ
TN&MT, 2011). Làng nghề phân bố không đồng đều giữa các vùng, miền (miền
Bắc khoảng 60%, miền Trung 30%, miền Nam 10%). Trong đó các làng nghề có
quy mô nhỏ, trình độ sản xuất thấp, thiết bị cũ và công nghệ lạc hậu chiếm phần lớn
(trên 70%). Vì vậy, đã và đang nảy sinh nhiều vấn đề môi trường tại các làng nghề.
Thống kê năm 2008 cho thấy các làng nghề tại miền Bắc phát sinh nhiều chất
thải nguy hại nhất, đặc biệt là các làng nghề tái chế kim loại, đúc đồng với nguồn
chất thải rắn phát sinh bao gồm bavia, bụi kim loại, phôi, rỉ sắt với lượng phát sinh
khoảng 1 - 7 tấn/ngày ( nguồn: Bộ xây dựng, 2009)
* Chất thải nguy hại công nghiệp
CTNH chiếm khoảng 15%-20% lượng CTR công nghiệp. Đây là nguồn ô
nhiễm tiềm tàng rất đáng lo ngại cho môi trường và sức khỏe của cộng đồng. CTNH
phát sinh từ các KCN của khu vực phía Nam khoảng 82.000 - 134.000 tấn/năm, cao
hơn các khu vực khác (gấp 3 lần miền Bắc và khoảng 20 lần miền Trung). Gần một
nửa số lượng chất thải công nghiệp phát sinh ở các vùng kinh tế trọng điểm phía

2004 cho thấy: Mức tiêu thu pin R6 Zn-C ở khu vực nội thành là 5÷8
cái/người/năm, khu vực ngoại thành là 3÷5 cái/người/năm. Ước tính lượng pin thải
R6 Zn-C ở Hà Nội năm 2004 là 200÷350 tấn/năm (con số tương ứng năm 2010 có
thể đạt tới 750 tấn). Ắc-quy chạy xe gắn máy chủ yếu là loại ắc-quy chì-axit, tuổi
thọ trung bình là 5 năm/cái với trọng lượng 2,5 kg/ắc-quy. Ước tính lượng ắc-quy
xe máy chì-axit vào năm 2004 ở Hà Nội là 580 tấn/ năm (con số tương ứng cho năm
2010 có thể đạt trên 1.200 tấn).
Hiện tại, CTNH trong sinh hoạt vẫn chưa được thu gom và xử lý riêng và bị
thải lẫn với CTR sinh hoạt để đưa đến bãi chôn lấp. Việc chôn lấp và xử lý chung sẽ
gây ra nhiều tác hại cho những người tiếp xúc trực tiếp với rác, ảnh hưởng tới quá
trình phân hủy rác và hòa tan các chất nguy hại vào nước rỉ rác. Do vậy, các cơ
quan quản lý cần có chính sách và yêu cầu các URENCO có kế hoạch thu gom
riêng biệt CTNH trong CTR sinh hoạt.
2.3.2.3 Công tác thu gom, vận chuyển CTNH ở Việt Nam 21
* Công tác thu gom CTNH nông nghiệp
Trong thời gian qua công tác thu gom, lưu giữ và xử lý các loại hóa chất, vỏ
bao bì hóa chất BVTV đã được nhiều tỉnh, thành phố tổ chức thực hiện như: Nghệ
An, Tuyên Quang, Vĩnh Long Việc triển khai này đã bước đầu hạn chế ảnh hưởng
tác hại của hóa chất BVTV tồn lưu trong vỏ bao bì tới sức khỏe con người và môi
trường xung quanh. Tuy nhiên, các biện pháp thu gom bao bì thuốc BVTV được áp
dụng với quy mô nhỏ, phần lớn do hợp tác xã tự tổ chức thu gom, chủ yếu là gom
vào thùng chứa. Thùng chứa các bao bì hóa chất BVTV được sử dụng thường là
thùng phuy. Nhưng số lượng còn ít do giới hạn về kinh phí ít. Một số ít địa phương
đã xây bể xi-măng cố định. Bên cạnh đó hầu hết các địa phương còn chưa có hướng
xử lý các bao bì hóa chất BVTV sau thu gom.
* Công tác thu gom CTNH công nghiệp
Việc thu gom CTR công nghiệp và CTNH chủ yếu do các Công ty môi

các khu xử lý CTR công nghiệp liên tỉnh, liên vùng này hầu như chưa được hình
thành. Số lượng các đơn vị hành nghề vận chuyển và xử lý CTNH được Bộ
TN&MT cấp phép gia tăng hàng năm. Tính đến tháng 6 năm 2011, Bộ TN&MT đã
cấp 80 Giấy phép hành nghề vận chuyển CTNH và 43 Giấy phép hành nghề xử lý
CTNH cho các cá nhân, tổ chức đăng ký. Các doanh nghiệp này được Bộ TN&MT
hoặc Sở TN&MT cấp tỉnh cấp giấy phép hoạt động. Hầu hết các doanh nghiệp thu
gom và xử lý CTR công nghiệp nguy hại đều tập trung ở phía Nam
* Xử lý, tiêu hủy chất thải y tế nguy hại
Khối lượng CTR y tế nguy hại được xử lý đạt tiêu chuẩn chiếm 68% tổng
lượng phát sinh CTR y tế nguy hại trên toàn quốc. CTR y tế xử lý không đạt chuẩn
(32%) là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng tới sức khỏe cộng
đồng. Các thành phố lớn như Tp. Hồ Chí Minh và Hà Nội đã có xí nghiệp xử lý
CTR y tế nguy hại vận hành tốt, tổ chức thu gom và xử lý, tiêu huỷ CTR y tế nguy
hại cho toàn bộ cơ sở y tế trên địa bàn. CTR y tế nguy hại của các tỉnh, thành phố
khác hiện được xử lý và tiêu huỷ với các mức độ khác nhau: một số địa phương như
Thái Nguyên, Hải Phòng, Cần Thơ đã tận dụng tốt lò đốt trang bị cho cụm bệnh
viện, chủ động chuyển giao lò đốt cho công ty môi trường đô thị tổ chức vận hành
và thu gom xử lý CTR y tế nguy hại cho toàn tỉnh, thành phố; Nghệ An có lò đốt đặt
tại bệnh viện tỉnh xử lý CTR y tế nguy hại cho các bệnh viện khác thuộc địa bàn
thành phố, thị xã. Một số thành phố lớn đã bố trí lò đốt CTR y tế nguy hại tập trung 23
tại khu xử lý chung của thành phố. Tỷ lệ lò đốt CTR y tế phân tán được vận hành
tốt chỉ chiếm khoảng xấp xỉ 50% số lò được trang bị, có vùng chỉ đạt 20%. Nếu xét
mức độ xử lý của các cơ sở y tế theo tuyến trung ương và địa phương, các sở sở trực
thuộc Bộ Y tế có mức độ đầu tư xử lý CTR y tế nguy hại cao hơn hẳn các cơ sở
tuyến địa phương. Bên cạnh lí do về công nghệ và trình độ quản lý, thì thiếu kinh
phí vận hành là yếu tố quan trọng dẫn đến các lò đốt hoạt động phân tán không đạt
hiệu quả

3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Cộng đồng dân cư, các cơ quan, bệnh viện và chợ trên địa bàn thị trấn Tân
Yên.
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu lập kế hoạch quản lý chất thải nguy hại thị trấn Tân Yên.
3.1.3. Địa điểm và thời gian nhiên cứu.
- Địa điểm nghiên cứu: thị trấn Tân Yên huyện hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.
- Thời gian: từ tháng 01/2014 đến tháng 04/2014.
3.2 Nội dung nghiên cứu
3.2.1. Điều kiện tự nhiên-Kinh tế xã hội
3.2.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.2.1.2 Kinh tế xã hội
3.2.2 Thực trạng công tác quản lý CTNH trên địa bàn thị trấn Tân Yên.
- Khối lượng, thành phần chất thải nguy hại
- Hiện trạng thu gom, vận chuyển xử lý CTNH trên địa bàn thị trấn Tân Yên.
- Dự báo lượng và loại chất thải nguy hại phát sinh ở thị trấn Tân Yên trong 10 năm
và tính toán lượng chất thải nguy hại trên địa bàn thị trấn Tân Yên năm 2013.
3.2.3 Đề xuất quy hoạch tổng thể quản lý chất thải nguy hại tại thị trấn Tân Yên.
3.2.3.1 Công tác tổ chức quản lý nhà nước
- Giải pháp về quản lý hành chính
- Giải pháp về vốn để tăng cường đầu tư công tác quản lý CTNH
- Giải pháp về tuyên truyền giáo dục phổ biến kiến thức
- Giải pháp về quy hoạch khu liên hợp xử lý CTNH

Trích đoạn xuất quy hoạch tổng thể quản lý chất thải nguy hại thị trấn Tân Yên
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status