1
Phần 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những thập niên vừa qua, sự phát triển về khoa học kĩ thuật đã
dẫn tới sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế. Quá trình công nghiệp hoá - hiện đại
hoá ngày càng được đẩy mạnh. Chính sự phát triển này mà môi trường sống
của chúng ta đang bị đe doạ nghiêm trọng. Trong rất nhiều những nguyên
nhân gây ra ô nhiễm môi trường thì rác thải sinh hoạt là một trong những
nguyên nhân chính.
Thực tế cho thấy lượng rác thải tạo ra hàng ngày trong quá trình sống
của con người gia tăng cùng với sự phát triển kinh tế, tăng dân số, tăng mức
sống của người dân. Tuy nhiên việc bảo vệ môi trường chưa trở thành thói
quen, nếp sống của nhiều người.
Việc quản lý chất thải rắn là một trong những vấn đề cấp thiết và cần
được giải quyết kịp thời để đảm bảo cho việc vệ sinh chung, cho cảnh quan
đô thị, cho sức khỏe cộng đồng và đảm bảo cho việc giảm thiểu những tác
động xấu tới môi trường.
Tại thị trấn Đồng mỏ, huyện Chi lăng, tỉnh Lạng sơn nói chung công
tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt bước đầu đã được quan tâm. Tuy nhiên, do
chưa có biện pháp xử lý hữu hiệu, chưa có đầy đủ cơ sở khoa học nên công
tác quản lý chất thải rắn còn gặp nhiều khó khăn. Nhận thức được tầm quan
trọng của quản lý chất thải rắn, trước thực tế khó khăn của công tác quản lý
này, cùng với sự phân công của Khoa Tài nguyên và Môi trường dưới sự
hướng dẫn của giảng viên Lê Văn Thơ, em đã tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Đánh giá thực trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt thị trấn Đồng Mỏ huyện Chi Lăng – tỉnh Lạng Sơn”.
2
trường, các công cụ thực hiện giám sát chất lượng môi trường, các phương
pháp xử lý môi trường bị ô nhiễm được xây dưng trên cơ sở sự hình thành và
phát triển ngành khoa học môi trường.(Nguyễn Xuân Nguyên, 2004) [9].
Nhờ sự tập trung cao độ của các nhà khoa học trên thế giới, trong thời
gian từ 1960 tới nay nhiều số liệu, tài liệu nghiên cứu về môi trường đã được
tổng kết và biên soạn thành các giáo trình chuyên khoa. Trong đó có nhiều tài
liệu cơ sở, phương pháp luận nghiên cứu môi trường, các nguyên lý và quy
luật môi trường.
Nhờ kỹ thuật và công nghệ môi trường, các vấn đề ô nhiễm do hoạt
động sản xuất của con người đang được nhiên cứu xử lý hoặc phòn tránh,
ngăn ngừa. Các kỹ thuật phân tích, đo đạc, giám sát chất lượng môi trường
như kỹ thuật viễn thám, tin học được phát triển ở nhiều nước trên thế giới.
Tóm lại, quản lý môi trường là cầu nối giữa khoa học môi trường với
hệ thống tự nhiên, con người, xã hội đã được phát triển trên nền phất triển của
các bộ môn chuyên ngành.
2.1.1.Khái niệm về chất thải
“Chất thải là mọi thứ mà con người, thiên nhiên và quá trình con người
tác động vào thiên nhiên thải ra”. Chất thải là các chất hoặc vật liệu mà người
chủ hoặc người tạo ra chúng hiện tại không sử dụng và chúng bị thải bỏ.
4
Chất thải thường được phát sinh trong quá trình sinh hoạt của con
người, trong sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, thương mại, giao
thong vận tải, tại hộ gia đình, các cơ quan, trường học, nhà hang, khách sạn.
2.1.2 Khái niệm về chất thải rắn
Chất thải rắn là các loại vật chất ở thể rắn như vật liệu, đồ vật bị loại
thải từ một quá trình cụ thể của hoạt động sản xuất, dịch vụ, thương mại.
Phần lớn chất thải là ở thể rắn và có ở khắp mọi nơi xung quanh ta như:
các chất thải đặc biệt, các chất thải độc hại….
- Nông nghiệp: Các chất thải nông nghiệp, các chất thải độc hại…
(Nguyễn Đình Hương, 2003)[6].
2.2 Cơ sở pháp lý
Một số văn bản pháp luật liên quan đến quản lý chất thải rắn đô thị ở
Việt Nam:
1. Luật Bảo vệ môi trường được Chủ tịch nước ký ban hành số
29/2005/L/CTN, ngày 12/12/2005.
2. Nghị định 80/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 của Chính phủ: Quy định
chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.
3. Nghị định số 81/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 của Chính phủ về xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Bảo vệ môi trường.
4. Nghị định số 175.NĐ-CP ngày 18/10/1994 của Chính phủ: Hưỡng
dẫn thi hành luật Bảo vệ môi trường.
5. Nghị định số 121/2004/NĐ-CP ngày 12/5/2004 của Chính phủ:
Quyết định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Bảo vệ môi trường.
6. Chỉ thị 23/2005/CT-TTg ngày 21/6/2005 của Thủ tướng chính phủ
về việc đẩy mạnh công tác quản lý chất thải rắn tại các đô thị và khu công
nghiệp.
6
7. Thông tư số 4527-DTI ngày 8/1/1996 của Bộ y tế: Những hướng dẫn
về xử lý chất thải rắn của bệnh viện.
8. Thông tư 1350/TT-KCM ngày 2/9/1995 của Bộ Khoa học Công
nghệ và Môi trường: Hướng dẫn thi hành một số nghị quyết của Chính phủ số
02/CP ngày 5/1/1995 về việc buôn bán có điều kiện các hóa chất độc, các chất
phóng xạ, chất thải và bán sản phẩm kim loại, hóa chất nguy hại trong chất
thải tại thị trường trong nước.
Canada: 1,7kg/người/ngày.
Australia: 1,6kg/người/ngày.
Thụy Sỹ: 1,3kg/người/ngày.
Thụy Điển: 1,3kg/người/ngày.
Trung Quốc: 1,3kg/người/ngày.
Ở các nước phát triển thì việc thu gom đạt hiệu suất cao, một số quốc
gia hầu như lượng rác thải rắn phát sinh được thu gom toàn bộ như: Mỹ, Thụy
Điển…Ở các nước nghèo và các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam
thì việc đầu tư vào việc thu gom đạt hiệu suất chưa cao, chỉ đạt 60-70% thậm
chí còn thấp hơn.
Trên thế giới, ở một số nước đã có những mô hình phân loại và thu
gom rác thải sinh hoạt rất hiệu quả.
- Hà lan: Người dân phân loại rác thải và những gì có thể tái chế sẽ
được tách riêng. Những thùng rác với kiểu dáng và màu sắc khác nhau được
sử dụng trong thành phố. Thùng lớn màu vàng ở gần siêu thị để chứa các đồ
kính, thủy tinh. Thùng màu xanh nhạt để chứa giấy. Tại các nơi đông dân cư
8
sinh sống thường đặt hai thùng rác có màu sắc khác nhau, một loại chứa rác
có thể phân hủy được và một loại không phân hủy.
- Nhật Bản: các gia đình nhật bản đã phân loại chất thải thành 3 loại
riêng biệt và cho vào 3 túi với màu sắc khác nhau: rác hữu cơ, rác vô cơ và
giấy, vải, thủy tinh, các kim loại. Rác hữu cơ được đưa đến nhà máy xử lý
rác thải để sản xuất phân vi sinh. Các loại rác còn lại: giấy, vải, thủy tinh, kim
loại, nhựa…đều được đưa đến các cơ sở tái chế hàng hóa.
- Đức: Mỗi gia đình được phát 3 thùng rác với màu sắc khác nhau: màu
xanh để đựng giấy, màu vàng đựng túi nhựa và kim loại, còn màu đen đựng
những thứ khác. Các loại này sẽ được mang đến các nơi xử lý khác nhau.
ra ngoài tái chế vật liệu, còn rác hữu cơ được nghiền nhỏ, nhiệt phân và cuối
cùng thành sản phẩm than sạch. Công nghệ này đã có tính khả thi cao vì vốn
đàu tư thấp hơn phương pháp xử lý rác thông thường (tổng mức đàu tư cho
một nhà máy có công xuất sản xuất 6.400 tấn rác/ngày vào khoảng 300 triệu
USD), lại an toàn vì không có khả năng làm phát sinh khí thải. Để nâng cao
hiệu quả hệ thống công nghệ xử lý rác này cần có 3 hệ thống liên hoàn: nhà
máy xử lý rác thành than sạch, nhà máy sử dụng than sạch để sản xuất điện và
tận dụng khối lượng nước thu được trong quá trình sấy khô rác để trồng rau
sạch trong nhà. Trong quá trình sử dụng than sạch để sản xuất điện, nếu
không sử dụng hết thì có thể lưu trữ hoặc làm chất đốt cho nhiều ngành khác,
không nhất thiết phải sử dụng hết ngay thành phẩm chế biến được như là công
nghệ sản xuất điện bằng Phương pháp ủ hiếu khí đang ứng dụng tại một số
thành phố ở các nước trên thế giới như hiện nay. Lượng lưu huỳnh sinh ra
trong quá trình đốt than chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ, khoảng 0,2% rất an toàn cho
môi trường. Trong thời gian tới, công nghệ này sẽ được đánh giá, tính hiệu
quả kinh tế và khả năng ứng dụng để tiến tới có thể xây dựng nhà máy chế
biến với công suất 2.000 tấn rác/ngày .
10
Như vậy, việc sử dụng lại CTR là một vấn đề thuộc công nghệ sạch tạo
điều kiện cho phát triển bền vững. Vấn đề này vừa mang ý nghĩa vệ sinh vừa
mang ý nghĩa kinh tế cần được các nước trên thế giới quan tâm và đầu tư để
việc phân loại, thu gom và xử lý đạt hiệu quả cao hơn.
2.3.2 Tình hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở Việt nam
2.3.2.1 Tình hình phát sinh, thu gom và phân loại rác thải Việt nam.
Theo dự báo trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế với tốc độ nhanh chưa
từng thấy ở Viêt nam, lượng phát sinh chất thải của các hộ gia đình, các cơ sở
công nghiệp và thương mại, các bệnh viện sẽ tăng lên nhanh chóng trong thập
mỗi năm (tương đương với 50% lượng chất thải sinh hoạt của cả nước) do có
cuộc sống khá giả hơn, có nhiều hoạt động thương mại hơn và đô thị hóa diễn
ra với cường độ cao hơn. Chất thải ở các đô thị thường có tỷ lệ các thành phần
nguy hại lớn hơn như các loại pin, các loại dung môi sử dụng trong gia đình
và các loại chất thải không phân hủy như: nhựa, kim loại, thủy tinh. Ngược lại
lượng phát sinh chất thải của người dân các vùng nông thôn ít hơn mức phát
sinh của dân đô thị (0,5kg/người/ngày so với 0,7kg/người/ngày) và phần lớn
chất thải đều là chất hữu cơ dễ phân hủy ( tỷ lệ các thành phần dễ phân hủy
chiếm 99% trong phế thải nông nghiệp và 65% trong chất thải sinh hoạt gia
đình nông thôn, trong khi chỉ chiếm có 50 % trong chất thải sinh hoạt ở khu
đô thị.( Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt nam, 2009)[1] .
12
Bảng 2.1: Thông tin chung về quản lý chất thải rắn ở Việt Nam
Phát sinh chất thải toàn quốc (tấn/năm)
12.800.000
- Các vùng đô thị
6.400.000
- Các vùng nông thôn
6.400.000
Chất thải nguy hại phát sinh từ các cơ sở công nghiệp (tấn/năm)
Chất thải không nguy hại phát sinh từ các cơ sở công nghiệp
- Các vùng đô thị
71%
- Các vùng nông thôn
< 20%
- Các vùng đô thị nghèo
10 – 20%
- Bãi rác và chôn lấp không hợp vệ sinh
Bãi rác và chôn lấp hợp vệ sinh
Năng lực xử lý chất thải nguy hại (% tổng lượng)
74%
17%
50%
(Nguồn: báo cáo diễn biến Môi trường Việt nam về chất thải rắn,
2009)[2]
Nguồn phát sinh chất thải nguy hại lớn nhất là các cơ sở công nghiệp
(12.800.000 tấn/năm) và chất thải y tế nguy hại (21.000 tấn/năm). Ngoài ra
nông nghiệp cũng là nguồn phát sinh chất thải nguy hại, mỗi năm phát sinh
13
khoảng 8.600 tấn các loại thuốc trừ sâu, bao bì và thùng chứa thuốc trừ sâu và
điểm quan trọng để mở rộng ra cả nước, góp phần hỗ trợ tích cực cho việc chế
biến rác thải hữu cơ thành các loại phân bón hữu cơ sạch, có thể làm giá để
trồng rau an toàn. Việc tái chế các nguyên liệu như: chất dẻo, sắt, nhôm, thủy
tinh…làm giảm nhẹ rất nhiều khó khăn cho các cơ sở chế biến rác hiện có và
tiết kiệm được các nguyên liệu không đáng bỏ đi một cách phí phạm. Đây là
dự án rất quan trọng, góp phần giải quyết vấn nạn chất thải sinh hoạt đang rất
khó giải quyết ở nước ta hiện nay.
Bên cạnh đó, hơn 10 năm qua Việt nam đã ban hành rất nhiều Nghị
quyết, Quyết định từ Trung ương đến địa phương về quản lý CTR đê khắc
phục tình trạng thu gom CTR sản sinh hàng ngày giữ gìn môi trường đô thị
xanh, sạch nhằm bảo vệ sức khỏe cho con người, góp phần thúc đẩy sự phát
triển kinh tê – xã hội của đất nước, ngày 3/4/1997 Thủ tướng chính phủ đã
ban hành Chỉ thị số 199/TTg về các biện pháp cấp bách trong quản lý CTR tại
các khu đô thị và công nghiệp. Tại Chỉ thị này Thủ tướng đã yêu cầu các bộ
ngành các địa phương quán triệt sâu sắc việc thải bỏ chất thải bừa bãi, không
hợp vệ sinh ở các khu đô thị và các khu công nghiệp là nguồn gốc chính gây ô
nhiễm môi trường làm nảy sinh các loại bệnh tật, ảnh hưởng đến sức khỏe và
cuộc sống của con người, ảnh hưởng lâu dài đến thế hệ mai sau.Mỗi ngành,
mỗi địa phương phải kiểm điểm trách nhiệm của mình, đê ra các chương trình
và các biện pháp thiết thực,chỉ đạo sát sao và cụ thể việc quản lý chất thải, giữ
gìn môi trường đô thị trong sạch. Tiếp đó, vào ngày 16/7/1999, thủ tướng
chính phủ đã ban hành quyết định số 155/1999 QĐ-TTg về quy chế quản lý
chất thải nguy hại. Quy chế quản lý chất thải nguy hại được áp dụng đối với
các tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước có các hoạt động trên lãnh thổ
Việt nam liên quan tới việc phát sinh, thu gom, vận chuyển, quá cảnh, lưu
trữ, xử lý và tiêu hủy chất thải nguy hại, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà
15
Về thực chất, đa số bãi chôn lấp CTR đó chỉ đơn thuần là nơi đổ rác lộ
thiên, không được quy hoạch, thiết kế, xây dựng và vận hành đúng theo quy
định bãi chôn lấp vệ sinh, vị trí thường gần khu dân cư ( khoảng 200 – 500m,
thậm chí có bãi chỉ cách khu dân cư 100m), không có lớp chống thấm ở
thành, đáy ô chôn lấp, không có hệ thống thu gom và xử lý nước rác và khí
rác do phân hủy kỵ khí từ các thành phần nước rác, khí rác, quy trình vận
hành chôn lấp không đúng kỹ thuật. Đặc biệt là nước rác và khí rác do phân
hủy kỵ khí từ các thành phần nước rác trong bãi chôn lấp đã gây ô nhiễm môi
trường đất, nước, không khí và hệ sinh thái, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng
đồng. Chính vì vậy, trong 439 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
phải xử phạt triệt để ( theo Quyết định 64/3003/QĐ-TTg của Thủ tướng
Chính phủ) có 52 bãi chôn lấp CTR, trong đó có 3 bãi chôn lấp cần xử lý
khẩn cấp trước 2005 (đóng cửa), 29 bãi phải nâng cấp cải tạo, 20 bãi phải xây
dựng hệ thống xử lý ô nhiễm.
Gần đây một số đô thị đã xây dựng bãi chôn lấp CTR vệ sinh, bước đầu
hoạt động có hiệu quả, điển hình bãi chôn Nam sơn (Hà nội), khánh sơn 2 (Đà
nẵng)…
b. Chế biến phân vi sinh (compost)
Nước ta hiện có 10 nhà máy chế biến rác thải có thành phần hữu cơ cao
thành phân bón vi sinh. Các nhà máy xử lý CTR thành phân bón mới chỉ thực
hiện ở các thành phố lớn nhưng với quy mô và công suất nhỏ. Đó là nhà máy
chế biến rác thải Cầu Diễn (Hà Nội) với công suất xử lý 50 nghìn tấn rác/năm
(công nghệ Tây Ban Nha); Nhà máy xử lý rác nam định với công suất 250
tấn/ngày (công nghệ Pháp); Công nghệ Dano- Đan Mạch tại Hooc Môn, TP
Hồ Chí Minh với công suất 240 tấn/ ngày; nhà máy xử lý rác bà Rịa Vũng tàu
công suất 100 m3/ ngày…ngoài ra, một số đô thị khác như Việt Trì, Huế,
Ninh Thuận…cũng có nhà máy chế biến rác thành phân bón, trong đó công
18
d. Công nghệ xử lý Seraphin
Theo />Hiện nay trên thế giới đã có rất nhiều công nghệ xử lý rác, tuy nhiên
giá thành còn khá cao nên việc áp dụng ở Việt nam, một nước đang phát triển
còn gặp nhiều khó khăn. Nhưng từ năm 2003, khi công nghệ xử lý Seraphin
do Công ty cổ phần phát triển môi trường xanh giới thiệu đã được ứng dụng ở
nhiều địa phương như bãi rác Đông Vinh ( Nghệ An), bãi rác Thủy Phương
(Huế) với công suất 200 tấn/ ngày và bước đầu đã cho những kết quả khả thi.
Đây là công nghệ hoàn toàn mới lần đàu tiên xuất hiện trên thế giới có khả
năng tái sinh 100% rác thải để mang lại nhiều nguồn lợi cho cuộc sống của
con người.
Quá trình xử lý rác thải bằng công nghệ Seraphin được bắt đầu từ khâu
tập kết rác thải hỗn hợp đã dược phun khử mùi. Rác được chuyển tới máy xé
rác để phá vỡ mọi loại bao gói và sau đó tiếp tục đi qua tuyến từ để hút sắt
thép và các kim loại khác rồi lọt xuống sàng lọc, tách rác thành hai nguồn:
phế thải hữu cơ được chuyển sang sản xuất phân vi sinh, phế thải vô cơ được
đóng cứng vĩnh cửu và phối trộn cho ra sản phẩm vật liệu Seraphin. Trung
bình từ 1 tấn rác sẽ tái chế được 250-300 kg phân vi sinh và 300-350 kg
plastic, nguồn nguyên liệu chế tạo các chủng loại vật liệu mới như các tấm
panel, tấm sàn, ống bọc cáp điện, cột đèn, ống thoát nước,…có chất lượng
(Việt báo, 2003). Đây là công nghệ của Việt Nam sản xuất nên chi phí xây
dựng một nhà máy xử lý rác thải sinh hoạt chắc chắn rẻ hơn và phù hợp hơn
với đặc thù rác thải Việt Nam so với các công nghệ nhập ngoại.
Công nghệ Seraphin đã nhận được hàng loạt giải thưởng như: Cúp vàng
quốc gia và huy chương vàng tại triển lãm Tuần Lễ Xanh (Huế, tháng
8/2003), Hội chợ triển lãm Vietbuild 2003 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Với
19
-Thực trạng công tác thu gom.
- Địa điểm theo dõi (phân loại)…
21
3.3.3. Đề xuất một số giải pháp xử lý rác trên địa bàn thị trân
3.4. Phương pháp nghiên cứu
3.4.1. Phương pháp điều tra thu thập các tài liệu, số liệu
- Các tài liệu số liệu được thu thập tại các phòng ban chức năng
thuộc UBND huyện Chi Lăng, UBND thị trấn Đồng Mỏ
3.4.2. Phương pháp điều tra khảo sát thực địa
- Điều tra thực địa để xác định rõ nguồn thải, khu vực nguồn thải và
hiện trạng thu gom rác thải.
3.4.3. Đặt điểm theo dõi và phân loại rác
3.4.3.1. Đối với rác hộ gia đình và khu dân cư
Tiến hành phát cho các hộ thí điểm (20 hộ) phân loại tại nguồn 3 loại
túi mẫu khác nhau. Hướng dẫn hộ gia đình phân loại rác của gia đình trong
một ngày thành 3 loại: rác hữu cơ bỏ vào túi màu xanh; rác có thể tái chế bỏ
vào túi màu trắng; các loại rác khác bỏ vào túi màu đen.
Đến từng hộ gia đình thí điểm phân loại rác, cân từng loại rác trong các
túi khác nhau vào giờ cố định trong ngày (1 lần/ngày). Rác sau khi thu gom
được đổ vào xe thu gom và đổ ra bãi tập trung của thị trấn.
Số lần cân rác của mỗi hộ gia đình lặp lại 3 đến 6 lần (3 - 6 ngày) tuỳ
thuộc vào mức độ chênh lệch lượng rác giữa các ngày cân.
Từ kết quả cân rác thực tế tại hộ gia đình, tính được lượng rác thải
trung bình của 1 hộ/ngày, thành phần rác thải (rác hữu cơ, rác có thể tái chế
và các loại rác khác), lượng thải bình quân/người/ngày.
3.4.3.2. Đối với rác tại chợ trung tâm huyện
Sau mỗi phiên chợ, sau khi rác được thu gom thành đống, tiến hành
4.1.1.2. a hỡnh, a mo
Th trn ng M nm trong thung lng cú gii hn phớa Tõy bi dóy
nỳi ỏ cú cao trung bỡnh > 150 m, phớa Nam l dóy i t cú cao bỡnh
quõn 30 - 50 m, cú dc > 20%.
Thị trấn Đồng Mỏ có đờng quốc lộ 1A cũ và Đờng sắt Hà - Lạng chạy
qua trung tâm thị trấn, do đó có rất nhiều thuận lợi trong giao lu, phát triển
mọi mặt kinh tế-xã hội.
4.1.1.3. c im khớ hu
Khu vc th trn ng M chu nh hng ca khớ hu nhit i giú
mựa vũng cung ụng Bc - Bc B.
- Nhit khụng khớ bỡnh quõn nm 22,50C
- Lng ma hng nm 1418 mm, chia lm hai mựa rừ rt. Mựa ma t
thỏng 4 n thỏng 10, lng ma bỡnh quõn/nm l 1276 mm chim 90%
24
lượng mưa cả năm. Mùa khô từ tháng 11 - tháng 3 năm sau, lượng mưa trung
bình năm là 142 mm chiếm 10% lượng mưa cả năm.
- Chế độ gió: Hướng gió chủ đạo là Nam - Đông Nam, riêng mùa đông
chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc.
- Độ ẩm bình quân 83,4%.
- Lượng mưa trung bình hàng năm 1.243,4 mm (tập trung từ tháng 4
đến tháng 10, cao nhất là tháng 7 (278,3 mm).
Độ ẩm phân bổ không đều, lượng mưa trung bình hàng năm là 1.300
mm, Lượng mưa trung bình thấp nhất là 1000mm.
4.1.1.4. Tài nguyên đất.
Hiện trạng sử dụng đất
Bảng 4.1. Hiện trạng sử dụng đất thị trấn Đồng Mỏ năm 2011
TT
Nhóm đất chưa sử dụng
246,47
51,93
( Nguồn:thuyết minh số liệu thống kê 2011)
a) §Êt n«ng nghiÖp cã 127,12 ha, chiÕm 26,78 % tæng diÖn tÝch
tù nhiªn.
Trong ®ã:
- §Êt s¶n xuÊt n«ng nghiÖp cã 110,97 ha, chiÕm 87,30 % diÖn tÝch ®Êt
n«ng nghiÖp.
- §Êt l©m nghiÖp cã 16,15 ha, chiÕm 12,63 % diÖn tÝch ®Êt n«ng nghiÖp.
25
b) Đất phi nông nghiệp có 101,01 ha, chiếm 21,29 % tổng diện tích tự nhiên.
Trong đó:
- Đất ở đô thị có 39,12 ha, chiếm 38,73 % diện tích đất phi nông nghiệp.
- Đất chuyên dùng có 32,97 ha, chiếm 32,64 % diện tích đất phi nông nghiệp.
- Đất tôn giáo, tín ngỡng có 0,14 ha, chiếm 0,14 % diện tích đất phi
nông nghiệp.
- Đất nghĩa trang, nghĩa địa có 1,15 ha, chiếm 1,15 % diện tích đất phi
nông nghiệp.
- Đất sông suối và mặt nớc chuyên dùng có 27,63 ha, chiếm 27,56 %
diện tích đất phi nông nghiệp.
c) Đất cha sử dụng hiện có 246,47 ha, chiếm 51,93 % tổng diện tích tự
nhiên.