Báo cáo tốt nghiệp ngành khoa học môi trường thực trạng công tác thu gom và biện pháp xử lý rác thải sinh hoạt tại thị - Pdf 32

1

Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Ngày nay quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã giúp
cho tỉnh Thái Nguyên ngày càng một phát triển hơn, một mặt tạo sự phát
triển kinh tế, công ăn việc làm, nâng cao mức sống cho người dân mặt khác
đây cũng là nguy cơ làm giảm chất lượng môi trường. Hiện nay, ô nhiễm
môi trường không còn là xa lạ với chúng ta và nó đã trở thành một vấn đề
của toàn cầu. Nếu chúng ta không có biện pháp bảo vệ môi trường kịp thời
để ngăn chặn phòng ngừa mức độ ô nhiễm môi trường thì sự suy thoái môi
trường là điều không thể tránh khỏi.
Một trong những vấn đề môi trường cấp bách hiện nay ở nước ta đó là
rác thải sinh hoạt, một thách thức lớn đang được xã hội quan tâm.
Nền kinh tế ngày càng phát triển, dân số ngày càng gia tăng dẫn tới nhu cầu
tiêu thụ của con người cũng tăng theo, theo đó lượng rác thải phát sinh cũng ngày
càng nhiều và đặc biệt là rác thải sinh hoạt. Việc bùng nổ rác thải sinh hoạt là
nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ
cộng đồng, con người cũng như làm mất cảnh quan đô thị…
Hiện nay tình trạng rác thải nói chung và rác thải sinh hoạt nói riêng tại
thị trấn Đu - huyện Phú Lương - tỉnh Thái Nguyên chưa có đánh giá một
cách đầy đủ dẫn đến việc thu gom và xử lý cũng như quản lý rác thải gặp
nhiều khó khăn và chưa phù hợp trong công tác bảo vệ môi trường.
Xuất phát từ những yêu cầu thực tế trên và được sự đồng ý của Ban giám
hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Tài nguyên và Môi trường, dưới sự hướng
dẫn của thầy giáo Th.S Nguyễn Quý Ly, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Thực
trạng công tác thu gom và biện pháp xử lý rác thải sinh hoạt tại thị trấn Đu
- huyện Phú Lương - tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2009 - T4/2012”.
1.2. Mục tiêu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung


Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học
2.1.1. Các khái niệm liên quan
2.1.1.1. Khái niệm về chất thải
- Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác. (Luật BVMT, 2005).
Chất thải là sản phẩm được phát sinh trong quá trình sinh hoạt của con
người, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, thương mại, dịch vụ, giao thông,
sinh hoạt gia đình, trường học, các khu dân cư, nhà hàng, khách sạn. Ngoài
ra còn phát sinh trong giao thông vận tải như khí thải của các phương tiện
giao thông đường bộ, đường thuỷ… (GS.TS. Nguyễn Đình Hương, 2003).
2.1.1.2. Khái niệm về chất thải rắn
Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn, được thải ra từ quá trình sản xuất,
kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác. Chất thải rắn bao
gồm chất thải thông thường và chất thải rắn nguy hại.
Chất thải rắn phát thải trong sinh hoạt cá nhân, hộ gia đình, nơi công
cộng được gọi chung là chất thải rắn sinh hoạt. Chất thải rắn phát thải từ hoạt
động sản xuất công nghiệp, làng nghề, kinh doanh, dịch vụ hoặc các hoạt
động khác gọi là chất thải rắn công nghiệp.
Chất thải rắn nguy hại là chất thải rắn chứa các chất hoặc hợp chất có
một trong những đặc tính: phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm,
gây ngộ độc hoặc các đặc tính nguy hại khác. (Nghị định 59 NĐ-CP).
Phần lớn chất thải ở thể rắn và ở khắp mọi nơi xung quanh ta như gạch,
đá, xi măng, vôi, vữa, giấy, sắt vụn, … Loại chất thải này do các công trường,
nhà máy, hộ gia đình thải ra rất lớn.
Chất thải rắn gồm các chất hữu cơ như: thức ăn thừa, giấy, các tông, nhựa,
vải, cao su, gỗ, xác động thực vật,… và các chất vô cơ như: thuỷ tinh, nhôm, đất
cát, phế liệu, kim loại khác… (GS.TS. Nguyễn Đình Hương, 2003).

hoạt động khám chữa bệnh, điều trị bệnh vì vậy rác y tế trở thành phức tạp nó
bao gồm các loại bệnh phẩm, kim tiêm, trai lọ chứa thuốc...
- Từ hoạt động giao thông: Phát sinh từ các hoạt động xây dựng và tháo
dỡ công trình xây dựng, giao thông vận tải như: nâng cấp mở rộng đường
phố, cao ốc, xây dựng di dời nhà cửa...từ đó sinh ra các loại chất thải như đất,
đá, bê tông, gạch ngói, gỗ, sắt thép...


5

- Từ hoạt động công nghiệp: xây dựng, chế tạo, công nghiệp nhẹ, công
nghiệp nặng, lọc dầu, nhà máy hoá chất, nhà máy điện,…): Chất thải từ các
quá trình công nghiệp, các chất thải không phải từ các quá trình công nghiệp
như thức ăn thừa, tro bã, chất thải xây dựng, các chất thải đặc biệt, các chất
thải độc hại…
- Từ hoạt động nông nghiệp: Phát sinh từ thu hoạch đồng ruộng, vườn,
nông trại… các loại chất thải nông nghiệp gồm rơm rạ, phân từ các gia súc gia
cầm, thức ăn thừa...
2.1.1.4.2 Phân loại chất thải rắn

+ Phân loại chất thải theo nguồn gốc phát sinh.
- Chất thải sinh hoạt: Phát sinh hàng ngày ở đô thị, làng mạc, khu du
lịch, nhà ga, trường học, công viên…
- Chất thải công nghiệp: Phát sinh trong quá trình sản xuất công nghiệp
nặng, công nghiệp nhẹ, chế biến nông sản trước và sau thu hoạch…
+ Phân loại theo trạng thái chất thải
- Chất thải trạng thái rắn: Bao gồm chất thải sinh hoạt, chất thải nhà máy
chế tạo máy, xây dựng (kim loại, da, hoá chất, nhựa, thuỷ tinh, vật liệu xây
dựng..v..v.)
- Chất thải lỏng: Phân bùn bể phốt, nước thải từ nhà máy lọc dầu, rượu

Theo điều 3 Nghị định/2007/NĐ-CP ngày 09/04/2007 về quản lý chất
thải rắn.
- Hoạt động thu gom chất thải rắn: Là hoạt động tập hợp, đóng gói, và
tạm thời lưu giữ chất thải rắn tại nhiều điểm thu gom.
- Vận chuyển chất thải rắn: Là quá trình chuyên chở chất thải rắn từ
nơi phát sinh, thu gom, lưu giữ, đến nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng hoặc bãi
chôn lấp.
- Hoạt động quản lý chất thải rắn bao gồm các hoạt động quy hoạch,
quản lý, đầu tư xây dựng bãi xử lý chất thải. Lưu giữ, vận chuyển, tái sử
dụng, tái chế và xử lý chất thải rắn nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu các tác động
xấu đến môi trường.
- Xử lý chất thải rắn là quá trình sử dụng các biện pháp công nghệ, kỹ
thuật nhằm làm giảm, loại bỏ tiêu huỷ các thành phần có hại hoặc không có
ích trong chất thải rắn, thu hồi, tái chế, tái sử dụng lại các thành phần có ích.
2.1.1.7. Quản lý rác thải sinh hoạt và xử lý rác thải sinh hoạt
Mô hình quản lý chất thải sinh hoạt tại Việt Nam từ trước đến nay hầu
hết mới chỉ tập trung cho khu vực đô thị.


7

Nguồn phát sinh và thành phần chất thải

Phân loại, lưu trữ, xử lý
chất thải tại nguồn

Thu gom chất thải

Vận chuyển chất thải


09/8/2006 của Chính Phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một
số điều của Luật Bảo vệ Môi trường.
- Nghị định số 121/2004/NĐ-CP ngày 12/5/2004 của Chính phủ: Quyết
định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Bảo vệ Môi trường.
- Nghị định số 175/NĐ-CP ngày 18/10/1994 của Chính phủ: Hướng
dẫn thi hành Luật Bảo vệ Môi trường.
- Chỉ thị số 199-TTg ngày 3/4/1997 của Thủ tướng Chính phủ về những
biện pháp khẩn cấp để quản lý chất thải rắn ở khu công nghiệp và đô thị.
- Chỉ thị số 23/2005/CT-TTg ngày 21/6/2005 của Thủ tướng Chính phủ
về việc đẩy mạnh công tác quản lý CTR tại các đô thị và khu công nghiệp.
- Luật Bảo vệ sức khoẻ cộng đồng, 1991.
- Thông tư số 1350/TT-KCM ngày 2/8/1995 của Bộ Khoa học Công
nghệ và Môi trường: Hướng dẫn thi hành Nghị định số 02-CP ngày 5/1/1995
của Chính phủ về việc buôn bán có điều kiện các hoá chất độc, các chất
phóng xạ, chất thải và bán sản phẩm kim loại và hoá chất nguy hại trong chất
thải tại thị trường trong nước.
- Thông tư số 4527-DTI ngày 8/1/1996 của Bộ Y tế: Những hướng dẫn
về quản lý chất thải rắn của bệnh viện.
- Quy chế quản lý chất thải y tế, Bộ Y tế.
- Thông tư số 2433/TT-KCM ngày 3/10/1996: Hướng dẫn thi hành
Nghị định số 26/CP ngày 26/04/1996 về quy định xử phạt hành chính những
vi phạm Luật Bảo vệ Môi trường.
- Thông tư số 2891/KCM-TM ngày 19/12/1996 của Bộ Khoa học Công
nghệ và Môi trường về quy định tạm thời việc nhập phế liệu.
- Quyết định 23/2006/ QĐ-BTNMT về việc ban hành danh mục chất
thải nguy hại.
- Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT: Hướng dẫn điều kiện hành nghề
và lập thủ tục hồ sơ, đăng ký, cấp phép hành nghề, mã số quản lý chất thải
nguy hại.
- Chỉ thị số 36-CT/TW của Ban chấp hành Trung ương về việc tăng

- Thụy Sĩ: 1,3 kg/người/ngày
- Thụy Điển: 1,3 kg/người/ngày
- Trung Quốc: 1,3 kg/người/ngày
Nếu tính bình quân một người mỗi ngày đưa vào môi trường xung
quanh 0,5 kg chất thải thì mỗi ngày trên thế giới 6 tỷ người sẽ thải ra khoảng
3 triệu tấn và mỗi năm sẽ có khoảng 1 tỷ tấn rác thải.
Tuỳ theo điều kiện sống, số rác thải bình quân theo đầu người ở mỗi
nước có khác nhau. Ví dụ, Cộng hoà Liên bang Nga là 300 kg/người/năm như
vậy mỗi năm ở CHLB Nga có khoảng 50 triệu tấn rác, Matxcơva mỗi năm


10

thải ra khoảng 3 triệu tấn rác thải sinh hoạt. Ở Pháp điều kiện sống khác hơn,
lượng rác thải bình quân 1 tấn/người/năm và mỗi năm nước Pháp có khoảng
35 triệu tấn rác thải. Ở đây chúng ta mới đề cập đến lượng rác thải ra trong
quá trình sinh hoạt bình thường của con người, chứ chưa nói đến lượng chất
thải rắn trong quá trình sản xuất của các nhà máy chế biến đồ hộp, các loại
nông hải sản, các nhà máy bia, bánh kẹo, hoá chất…
Với sự gia tăng của chất thải rắn thì việc phân loại, thu gom xử lý
chúng là điều đầu tiên mà bất cứ một xã hội nào cũng phải quan tâm tới. Cũng
giống như ở Việt Nam, ở các nước nghèo và các nước đang phát triển thì việc
đầu tư vào việc thu gom đạt hiệu suất chưa cao, chỉ đạt 60 - 70%, thậm chí có
nơi còn thấp hơn. Còn ở các nước phát triển thì việc thu gom đạt hiệu suất
cao, một số quốc gia hầu như lượng chất thải rắn phát thải được thu gom toàn
bộ như ở Mỹ, Thụy Điển,… Quản lý chất thải đô thị là điều quan trọng đầu
tiên và có thể xem xét mức độ quan trọng của nó chẳng hạn như ở Hy Lạp
dành 50% ngân sách để thu gom và xử lý chúng. Ở các nước phát triển việc
phân loại rác thải được tiến hành ngay ở các hộ gia đình, các khu chung cư và
các nơi công cộng theo đặc điểm lý hoá và kích thước của chúng. Ví dụ như

tinh. Khối lượng rác này đốt thu được lượng nhiệt tương ứng với đốt 20 triệu
tấn dầu mỏ. (PGS. TS. Nguyễn Xuân Nguyên, 2004).
Như vậy, việc sử dụng lại chất thải rắn sinh hoạt là một vấn đề thuộc
chiến lược công nghệ sạch tạo điều kiện cho phát triển bền vững. Vấn đề này
mang ý nghĩa không chỉ vì lợi ích làm sạch bảo vệ môi trường mà còn mang ý
nghĩa về mặt kinh tế rất đáng được lưu tâm và đầu tư cho việc thu gom, phân
loại và xử lý đạt hiệu quả cao hơn.
2.2.1.2 Tình hình xử lý rác thải trên thế giới
- Xã hội càng phát triển thì rác thải càng nhiều và việc xử lý rác càng
trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Xử lý rác thải là một vấn đề tổng hợp cả
về kỹ thuật lẫn kinh tế. Vì vậy, việc nghiên cứu và áp dụng các biện pháp kỹ
thuật công nghệ xử lý chất thải rắn sinh hoạt đang trở thành vấn đề quan tâm
hàng đầu của nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước công nghiệp
phát triển.
- Hiện nay, nhiều nước đã nghiên cứu ra nhiều biện pháp tái sử dụng lại
chất thải rắn. Kinh nghiệm ở một số nước cho thấy có trên 90% chai và trên
90% cần được đưa vào sử dụng trung bình từ 15 - 20 lần và trong qua trình xử
lý rác người ta có thể tái chế ra các loại nhiên liệu rắn và than cốc.
- Tuỳ theo điều kiện thực tế mỗi nước mà phương pháp và trình độ
công nghệ xử lý chất thải cũng khác nhau:


12

+ Ở Mỹ: Hàng năm có 15% chất thải rắn được tái chế, khoảng 16%
được thiêu đốt, 67% còn lại được chôn lấp ở 2900 bãi rác. Mỹ đang thực hiện
phương pháp xử lý chất thải rắn thành năng lượng (113 nhà máy đang thực
hiện). Với phương pháp này có thể giảm 70-90% tổng lượng chất thải rắn và
thu hồi nhiệt lượng chuyển thành điện năng.
+ Ở Thụy Điển: Thực hiện chiến lược giảm thiểu lượng chất thải rắn và

Đơn vị: %
Các phương pháp xử lý (%)
TT Tên nước
Đốt
Các
Chôn lấp Chế biến
phân
phương
Không Thu hồi
thu năng
năng
lượng
lượng
1
Đức
46
2
0
36
16 tái chế
2
Đan Mạch
29
4
0
48
19 tái chế
3
Canada
80

11
0
8
Thụy Điển
35
10
0
55
0
9
Nhật Bản
23
4,2
0
72,8
0
10 Mỹ
67
2
0
16
15 tái chế
(Nguồn: Tạp chí bảo vệ môi trường, 2003 (Nguyễn Đình Hương 2006)
2.2.2. Hiện trạng quản lý rác thải ở Việt Nam
2.2.2.1. Tình hình phát sinh, thu gom và phân loại rác thải Việt Nam
Khoảng hơn chục năm trước đây vấn đề xử lý rác ở nước ta chưa trở
nên bức xúc.
Rác thải thường được đem san lấp ở hồ, ao, nhưng dân số ở các thành
phố ngày một tăng, lượng rác thải ngày càng nhiều. Các hệ thống ao, hồ,
sông, ngòi thoát nước do bị đổ rác san lấp nhiều nên gây úng lụt trong thành

TP. Hồ Chí Minh, Biên Hoà cũng chưa phát huy được tác dụng.
Hiện tại chất thải rắn sinh hoạt chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng lượng
chất thải phát sinh, đặc biệt ở các đô thị nó lại đứng đầu, chiếm tỷ trọng lớn
nhất. Xu hướng hiện nay chất thải rắn sinh hoạt phát sinh gia tăng từ 10 - 16%
trong đó lượng chất thải rắn phát sinh trung bình theo đầu người ở các đô thị
nhỏ vào khoảng 0,6 - 0,65 kg/người/ngày đêm, tại các đô thị lớn thì lượng
phát sinh còn lớn hơn nhiều, vào khoảng 0,9 - 1,2 kg/người/ngày đêm.


15

Bảng 2.2: Lượng CTRSH phát sinh ở các đô thị Việt Nam năm 2008
Lượng CTRSH đô thị
Lượng CTRSH bình
phát sinh
STT Loại đô thị
quân trên đầu người
Tấn/ngày
Tấn/năm
(kg/người/ngày)
1
2
3
4
5

Đặc biệt
Loại I
Loại II
Loại III

đang là một nguy cơ đe doạ cuộc sống cộng đồng. Hiện nay, khoảng 80%
trong số 2,6 triệu tấn chất thải công nghiệp phát sinh mỗi năm là từ các trung
tâm công nghiệp lớn ở miền Bắc và miền Nam. Trong đó, 50% lượng chất
thải công nghiệp của Việt Nam phát sinh ở thành phố Hồ Chí Minh và các
tỉnh lân cận, 30% còn lại phát sinh ở vùng đồng bằng sông Hồng và Bắc
Trung Bộ. Thêm vào đó, gần 1500 làng nghề tập trung chủ yếu ở các vùng
nông thôn miền Bắc mỗi năm phát sinh cỡ 774.000 tấn chất thải công nghiệp.
Trong các loại chất thải, chất thải nguy hại (chất thải công nghiệp nguy
hại và chất thải y tế) là mối hiểm hoạ đặc biệt. Nguồn phát sinh chất thải nguy
hại lớn nhất là các cơ sở công nghiệp (với 130.000 tấn/năm) và các bệnh viện
(21.000 tấn/năm). Theo thống kê, lượng chất thải công nghiệp nguy hại phát
sinh từ vùng kinh tế trọng điểm phía Nam chiếm tới 75% tổng lượng chất thải
công nghiệp nguy hại của cả nước. Trong khi đó, lượng chất thải y tế nguy hại


16

phát sinh từ thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Thanh Hoá chiếm 27% tổng
lượng chất thải y tế của cả nước.
Hiệu quả thu gom chất thải rắn ở nước ta còn thấp một phần cũng do
hầu hết các đô thị đều chưa có hệ thống thu gom hoàn thiện. Mặt khác, chất
thải rắn sau khi được thu gom sử dụng vào hoạt động tái chế, tái sử dụng còn
thấp mới chỉ góp phần làm giảm 10 - 12%, lượng phát sinh còn lại là mang đi
chôn lấp hoặc đốt (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2006). Từ trước đến nay,
phần lớn chất thải của Việt Nam không được tiêu huỷ một cách an toàn. Hình
thức tiêu huỷ chất thải phổ biến vẫn là đổ ở bãi rác lộ thiên và trong số này có
49 bãi rác bị xếp vào số những địa chỉ gây ô nhiễm nghiêm trọng nhất, có khả
năng gây ra những rủi ro đối với môi trường và sức khoẻ con người. Trong số
91 điểm tiêu huỷ chất thải trong cả nước, chỉ có 17 điểm hợp vệ sinh mà chủ
yếu được xây dựng bằng nguồn vốn ODA. Các bãi chôn lấp được vận hành

5,7
3
Giấy
1,9
5,8
5,4
6,2
4
Nhựa
14,9
3,4
3,1
8,6
5
Kim loại
6,38
4,9
1,24
1,2
6
Thuỷ tinh
6,9
1,2
4,1
6,2
7
Cao su, da
0,6
5,8
3,2

hiểm, ảnh hưởng đến sức khoẻ và cuộc sống cộng đồng và còn ảnh hưởng lâu
dài tới những thế hệ mai sau. Mỗi ngành, mỗi địa phương phải kiểm điểm trách
nhiệm của mình, đề ra các chương trình và các biện pháp thiết thực, chỉ đạo sát
sao công tác quản lý chất thải rắn, giữ gìn vệ sinh môi trường trong sạch. Ngày
16/7/1999, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 155/1999QĐ-TTg
về quy chế quản lý chất thải nguy hại. Quy chế quản lý chất thải nguy hại được
áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài có các hoạt
động trên lãnh thổ Việt Nam liên quan tới các việc phát sinh, thu gom, vận
chuyển, quá cảnh, lưu giữ, xử lý và tiêu huỷ chất thải nguy hại, trừ trường hợp
điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc
tham gia có quy định khác.
Để đạt được một hiệu quả tối ưu trong công tác Bảo vệ Môi trường cần
có sự thống nhất từ các cấp, các địa phương. Đồng nhất trong công tác quản
lý, các văn bản pháp quy cũng như đầu tư kinh phí cho công tác quản lý chất
thải rắn phải đầy đủ, đáp ứng yêu cầu thiết yếu cho công tác BVMT.
2.2.2.2. Tình hình xử lý rác ở Việt Nam
+ Chôn lấp: Chôn lấp đơn thuần không qua xử lý, đây là phương pháp
phổ biến nhất. Theo thống kê, nước ta có khoảng 149 bãi rác cũ không hợp vệ
sinh, trong đó có 21 bãi rác thuộc cấp tỉnh - thành phố, 128 bãi rác cấp huyện -


18

thị trấn. Được sự giúp đỡ của nước ngoài, đã xây dựng các bãi chôn lấp hợp vệ
sinh ở các thành phố lớn như: Hà Nội, Hải Phòng, Huế, TP. Hồ Chí Minh.
+ Chế biến phân vi sinh: Phương pháp làm phân Compost có ưu điểm làm
giảm lượng rác thải hữu cơ cần chôn lấp, cung cấp phân bón phục vụ nông
nghiệp, xây dựng các công trình mới. Thành phần của rác thải xây dựng chủ
yếu là: đất, gạch, sắt, thép, bê tông… Khối lượng chất thải xây dựng ngày một
tăng do nhu cầu cải tạo, xây dựng các công trình ngày một nhiều. Một số nhà

84
14
2
7 Hàn Quốc
70
30
8 Việt Nam
20
10
1
69
(PGS. TS. Nguyễn Thị Kim Thái, 2007)
+ Thiêu đốt: Được áp dụng để xử lý rác thải bệnh viện. Các bệnh viện
Lao, Viện 108 mới xây dựng lò đốt chất thải. Tại Hà Nội có lò đốt chất thải
bệnh viện công suất 3,2 tấn/ngày đặt tại Tây Mỗ. Tại TP. Hồ Chí Minh có lò
đốt chất thải bệnh viện công suất 7,5 tấn/ngày. Phương pháp đốt chất thải còn
được dùng để xử lý chất thải công nghiệp như lò đốt chất thải giày da tại Hải
Phòng, lò đốt cao su 2,5 tấn/ngày tại Đồng Nai. Việc đốt chất thải công
nghiệp này đều không đạt tiêu chuẩn môi trường.
+ Các công nghệ khác: - Bộ quốc phòng và công ty TNHH Xuân Kiên
nghiên cứu chế tạo lò đốt CTR y tế với công suất nhỏ.


19

- Công ty cổ phần PTCN môi trường xanh nghiên cứu thử nghiệm mô
hình xử lý CTR theo công nghệ Seraphin tại nhà máy xử lý CTR Đông Vinh
(TP. Nghệ An) và nhà máy xử lý rác thải sinh hoạt tại Sơn Tây.
2.2.3. Tình hình quản lý rác thải tại Thái Nguyên
- Thị xã Sông Công: Thành lập ban quản lý đô thị với gần 30 công

20

khoản thu phí này do công ty môi trường đô thị đảm nhiệm, thường chỉ thu
được 50%. Nhiều người dân hoàn toàn chưa có thói quen đóng phí VSMT. Từ
khi giao cho đội vệ sinh môi trường phường, xã thì kinh phí này được thu khá
triệt để đạt trên 90%, việc làm này đã góp phần tiết kiệm cho ngân sách nhà
nước, giảm từ 7-9 tỷ/năm.
Cho đến nay đã có 22/28 đội vệ sinh phường, xã được thành lập và đi
vào hoạt động có hiệu quả. Cách thức quản lý đội vệ sinh môi trường như sau:
mỗi đội chia thành 2- 4 tổ, mỗi tổ có 1 tổ trưởng và 5-7 công nhân. Hiện nay
phần lớn các phường, xã giao trách nhiệm thu phí vệ sinh môi trường cho tổ
trưởng dân phố, đồng thời trong các cuộc bình bầu phố văn hoá đã đưa tiêu
chí việc tham gia đóng đầy đủ phí môi trường là một tiêu chí bắt buộc. Việc
hình thành các đội vệ sinh đã tạo việc làm và thu nhập cho gần 400 lao động,
phần lớn là người dân thuộc các hộ nghèo không có việc làm ổn định qua đó
làm ổn định xã hội.
Cho đến nay thành phố Thái Nguyên đã có 20 nhà để xe rác được xây
dựng và đi vào hoạt động đảm bảo tính hữu ích và vệ sinh môi trường.
Cùng với sự theo dõi, giám sát và chỉ đạo của thành phố kết hợp với
việc đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nhân dân nên hiện nay tình hình vệ
sinh môi trường dần đi vào ổn định. Công ty TNHH một thành viên môi
trường và công trình đô thị và các đội vệ sinh phường, xã đã duy trì thực hiện
các quy định về giờ thu gom rác, địa điểm tập kết rác nhằm đảm bảo việc phối
hợp nhịp nhàng, khoa học. Toàn bộ lượng rác thải được thu gom sẽ được vận
chuyển xử lý chôn lấp hợp vệ sinh tại bãi rác Đá Mài xã Tân Cương thành
phố Thái Nguyên.
- Để có được kết quả đó không thể không kể đến sự quan tâm đầu tư
của thành phố trong công tác thu gom và xử lý rác thải. Hàng năm tỉnh và
thành phố đã chi ngân sách cho công tác môi trường lên tới 18 tỷ đồng (2009)
ngoài ra còn phải kể đến sự hỗ trợ, phối hợp giữa các cơ quan, ban ngành có



22

Phần 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Rác thải sinh hoạt tại thị trấn Đu - huyện Phú Lương - tỉnh Thái
Nguyên.
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu
Thị trấn Đu - huyện Phú Lương - tỉnh Thái Nguyên.
3.2. Địa điểm, thời gian nghiên cứu
3.2.1. Địa điểm nghiên cứu
Phòng Tài Nguyên và Môi trường huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
3.2.2. Thời gian nghiên cứu
Từ 8/1 đến 30/4/2012.
3.3. Nội dung nghiên cứu
3.3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tại thị trấn Đu,huyện Phú
Lương, tỉnh Thái Nguyên
+ Điều kiện tự nhiên thị trấn Đu - huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
+ Đặc điểm kinh tế - xã hội của thị trấn Đu,huyện Phú Lương, tỉnh Thái
Nguyên.
3.3.2. Thực trạng công tác thu gom rác thải sinh hoạt tại thị trấn Đu huyện Phú Lương - tỉnh Thái Nguyên
+ Nguồn phát sinh rác thải sinh hoạt tại thị trấn Đu
+ Lượng phát sinh và thành phần rác thải sinh hoạt tại thị trấn Đu
+ Công tác thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt tại thị trấn Đu
+ Đề xuất biện pháp xử lý rác tại thị trấn Đu
3.3.3. Thực trạng quản lý rác thải sinh hoạt tại thị trấn Đu
+ Quản lý rác thải sinh hoạt tại thị trấn Đu bằng chính sách - pháp luật

Trực tiếp thu gom, phân loại thành phần rác thải sinh hoạt tại khu vực
nghiên cứu gồm hai phương pháp:
+ Thu gom, phân loại rác thải trực tiếp tại hộ gia đình: Tiến hành trong
thời gian 1 tháng, vào hai ngày cố định trong một tuần. Lựa chọn ngẫu nhiên
khoảng 30 hộ gia đình theo tiêu chí lựa chọn là có sự cân đối về tỷ lệ giữa các
hộ giàu, khá, nghèo trên địa bàn thị trấn. Hàng tuần, vào trước những ngày đã
định mỗi gia đình được phát ba túi đựng rác: vô cơ, hữu cơ, rác thải nguy hại.
Thu gom vào 18h00 tối những ngày đã định, sau đó phân rác thành nhiều loại,
đem cân để xác định tỷ lệ % khối lượng.


24

+ Phân loại rác tập trung tại bãi rác khu dân cư: Tiến hành phân loại rác
trong một tháng, mỗi tuần 2 lần vào 2 ngày cố định trong tuần thu gom, cân
trọng lượng rác thải vô cơ, rác thải hữu cơ quy tỷ lệ % trọng lượng.
Xác định trọng lượng chất thải rắn thu gom trong một tuần tại khu dân cư
và lượng rác thải phát sinh trên đầu người (phương pháp đếm tải): Số lượng xe
thu gom, đặc điểm và tính chất của rác thải được tiến hành giám sát trong 7
ngày. Khối lượng chất thải phát sinh trong thời gian khảo sát sẽ được tính toán
bằng cách sử dụng số liệu thu thập tại khu vực nghiên cứu và các số liệu đã biết
trước như: Hộ dân, nhân khẩu mỗi hộ, thể tích xe ép rác, xe đẩy tay.
3.4.3. Phương pháp xác định khối lượng và thành phần rác thải
* Phương pháp định tính.
Tiến hành điều tra khảo sát tại các địa điểm trong thị trấn.
+ Khảo sát chợ Đu.
+ Khảo sát trường cấp 3 và trường tiểu học, trường trung học trên địa bàn.
+ Khảo sát đoạn đường chạy qua thị trấn.
+ Khảo sát một số cơ quan trên địa bàn thị trấn.
* Phương pháp định lượng.

4.1. Đặc điểm về kinh tế, xã hội của thị trấn Đu - huyện Phú Lương- tỉnh
Thái Nguyên
4.1.1. Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1. Vị trí địa lý
Thị trấn Đu là trung tâm huyện lỵ của huyện Phú Lương, có diện tích tự
nhiên là 212,9 ha, có vị trí địa lý 1050 42’ 00” đến 1030 45’ độ kinh Đông và
210 42’ 32” đến 210 45’ độ vĩ Bắc.
- Phía Đông giáp với xã Động Đạt huyện Phú Lương.
- Phía Tây giáp với xã Động Đạt huyện Phú Lương.
- Phía Nam giáp với xã Phấn Mễ huyện Phú Lương.
- Phía Bắc giáp với xã Động Đạt huyện Phú Lương.
4.1.1.2. Địa hình địa mạo
Thị trấn Đu là một đô thị của huyện Phú Lương:
- Vùng phía Tây: có nhiều dãy đồi núi liên tiếp, nơi cao nhất là đỉnh
Đồi Cao, cao 97,2 m so với mặt nước biển; có độ dốc chủ yếu từ 100÷150.
- Vùng phía Đông: có nhiều dãy đồi cao liên tiếp kéo dài mà đỉnh cao
nhất là đồi Nạm Kho cao 87,6 m so với mặt nước biển; có độ dốc chủ yếu từ
150 - 250.
- Vùng phía Nam: có đỉnh cao nhất là 95,2 m so với mặt nước biển, với
những dãy đồi thấp có độ dốc chủ yếu từ 100÷150.
- Vùng phía Bắc: Có địa hình thung lũng bằng phẳng, với độ dốc chủ
yếu từ 00 - 80.
4.1.1.3. Khí hậu
Thị trấn Đu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết chia
làm 4 mùa, song chủ yếu là 2 mùa chính: mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa từ
tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau.
Nhiệt độ trung bình trong năm khoảng 220C.
Lượng mưa trung bình năm là 2.097 mm.
Độ ẩm trung bình năm là 82%.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status