1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Việt Nam là một nước đang trên đà phát triển, trong quá trình hội nhập
đã đạt được những thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội. Trong
quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa và sự mở cửa hòa nhập với các nước
trên thế giới đã làm thay đổi nhanh chóng bộ mặt của đất nước. Song song với
thành tựu này, chúng ta phải đối mặt với những thách thức liên quan tới vấn
đề môi trường. Với bất kỳ hoạt động kinh tế xã hội cũng như trong đời sống
sinh hoạt con người đều phải sử dụng các nguồn năng lượng khác nhau. Mặc
dù đó cú nhiều các nhà khoa học kỹ thuật đó tiến rất xa trên con đường tìm
kiếm nguồn năng lượng mới, nhưng chúng chưa thể thay thế cho nhiên liệu
hoá thạch truyền thống như than đá, dầu mỏ. Tình trang ô nhiễm môi trường
đã và đang gia tăng tới mức báo động, nhất là từ hoạt động của các hoạt động
khai khoáng, các khu công nghiệp, các khu đô thị. Điều này đã gây ảnh hưởng
rất lớn tới sức khỏe con người và môi trường sinh thái. Chính vì vậy, khai
thác và sử dụng hợp lý tài nguyên than đá là một trong những nhân tố để thúc
đẩy nền kinh tế quốc dân của mỗi quốc gia trên thế giới. Việt Nam là một
trong những quốc gia có trữ lượng than đá vào loại lớn và đa dạng trên thế
giới. Tuy nhiên lượng khoáng sản này lại nằm rải rác trong các khu vực với
trữ lượng nhỏ nên không kinh tế trong việc khai thác. Đồng thời, việc khai
thác khoáng sản đó và đang để lại những hệ lụy về môi trường.
Mỏ than Núi Hồng do công ty Than Núi Hồng - VVMI (Chi nhánh
Công ty TNHH Một thành viên Công nghiệp mỏ Việt Bắc - TKV) quản lý.
Nhà máy nằm trên khu vực xã Yên Lãng thuộc huyện Đại Từ, tỉnh Thái
Nguyên. Với sản phẩm chính là các loại than phục vụ cho sản suất công
nghiệp. Nhà máy đã cung cấp một lượng than lớn, đáp ứng nhu cầu sử dụng
than cho khu vực phía Bắc.
Nhìn chung trong quá trình khai thác, công ty đã chú trọng tới công tác
- Đề xuất giải pháp phòng ngừa, khắc phục các tác động tiêu cực của
hoạt động khai thác than đến môi trường nước và môi trường không khí.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu:
- Áp dụng, bổ xung và phát huy các kiến thức đã học vào thực tiễn.
- Nâng cao hiểu biết về kiến thức môi trường và các phương pháp đánh
giá hiện trạng môi trường.
- Bổ xung tư liệu cho học tập.
3
1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn:
- Đưa ra được các tác động của hoạt động khai thác than tới môi trường
nước và môi trường không khí để từ đó giúp cho đơn vị tổ chức khai thác có
các biện pháp quản lý, ngăn ngừa, giảm thiểu các tác động xấu tới môi trường
nước, không khí, cảnh quan và con người.
- Tạo số liệu làm cơ sở cho công tác lập kế hoạch xây dựng chính sách
bảo vệ môi trường và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của xã Yên Lãng.
- Nâng cao nhận thức, tuyên truyền và giáo dục về bảo vệ môi trường
cho mọi thành viên tham gia hoạt động khai thác khoáng sản.
4
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1. Cơ sở pháp lý
- Luật Bảo vệ môi trường do Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khoá
- Theo nguồn gốc: nội sinh (sinh ra trong lòng trái đất), ngoại sinh (sinh
ra trên bề mặt trái đất).
- Theo thành phần hoá học: khoáng sản kim loại (kim loại đen, kim loại
màu, kim loại quý hiếm), khoáng sản phi kim (vật liệu khoáng, đá quý, vật
liệu xây dựng), khoáng sản cháy (than, dầu, khí đốt, đá cháy).
2.1.2.2. Tài nguyên không khí và ô nhiễm môi trường không khí
* Tài nguyên không khí:
Tài nguyên không khí hay chính là khí quyển trái đất khá ổn định theo
phương nằm ngang và phân dị theo phương thẳng đứng. Phần lớn khối lượng
5.1015 tấn của toàn bộ khí quyển tập trung ở tầng đối lưu và bình lưu. Thành
phần khí quyển trái đất gồm chủ yếu là Nitơ, Oxy, hơi nước, CO 2, H2, O3,
NH4, các khí trơ.
Trong tầng đối lưu, thành phần các chất khí chủ yếu tương đối ổn
định, nhưng nồng độ CO 2 và hơi nước dao động mạnh. Lượng hơi nước
thay đổi theo thời tiết khí hậu, từ 4% thể tích vào mùa nóng ẩm tới 0,4 %
khi mùa khô lạnh. Trong không khí tầng đối lưu thường có một lượng nhất
định khí SO2 và bụi.
Trong tầng bình lưu luôn tồn tại một quá trình hình thành và phá huỷ
khí ozon, dẫn tới việc xuất hiện một lớp ozon mỏng với chiều dày trong
điều kiện mật độ không khí bình thường khoảng vài chục xentimet. Lớp khí
này có tác dụng ngăn các tia tử ngoại chiếu xuống bề mặt trái đất. Hiện
nay, do hoạt động của con người, lớp khí ozon có xu hưởng mỏng dần, có
thể đe doạ tới sự sống của con người và sinh vật trên trái đất.
* Ô nhiễm môi trường không khí:
"Ô nhiễm không khí là sự có mặt một chất lạ hoặc một sự biến đổi
quan trọng trong thành phần không khí, làm cho không khí không sạch
hoặc gây ra sự toả mùi, có mùi khó chịu, giảm tầm nhìn xa (do bụi)". (Lưu
Đức Hải, 2001) [6].
Có rất nhiều nguồn gây ô nhiễm không khí. Có thể chia ra thành
nguồn tự nhiên và nguồn nhân tạo.
thông vận tải, bên cạnh đó phải kể đến sinh hoạt của con người.
* Các tác nhân nào gây ô nhiễm không khí?
Các chất và tác nhân gây ô nhiễm không khí gồm:
+ Các loại oxit như: nitơ oxit (NO, NO 2), nitơ đioxit (NO2), SO2, CO,
H2S và các loại khí halogen (clo, brom, iôt).
+ Các hợp chất flo.
+ Các chất tổng hợp (ete, benzen).
7
+ Các chất lơ lửng (bụi rắn, bụi lỏng, bụi vi sinh vật), nitrat, sunfat, các
phân tử cacbon, sol khí, muội, khói, sương mù, phấn hoa.
+ Các loại bụi nặng, bụi đất, đá, bụi kim loại như đồng, chì, sắt, kẽm,
niken, thiếc, cađimi...
+ Khí quang hoá như ozôn, FAN, FB2N, NOX, anđehyt, etylen...
+ Chất thải phóng xạ
+ Nhiệt độ
+ Tiếng ồn
Sáu tác nhân ô nhiễm đầu sinh ra chủ yếu do quá trình đốt cháy nhiên
liệu và sản xuất công nghiệp. Các tác nhân ô nhiễm không khí có thể phân
thành hai dạng: dạng hơi khí và dạng phần tử nhỏ. Tuy nhiên, phần lớn các
tác nhân ô nhiễm đều gây tác hại đối với sức khỏe con người.
Tác nhân ô nhiễm được chia làm hai loại: sơ cấp và thứ cấp. Sunfua
đioxit sinh ra do đốt cháy than đó là tác nhân ô nhiễm sơ cấp. Nó tác động
trực tiếp tới bộ phận tiếp nhận. Sau đó, khí này lại liên kết với ôxy và nước
của không khí sạch để tạo thành axit sunfuric (H 2SO4) rơi xuống đất cùng với
nước mưa, làm thay đổi pH của đất và của thủy vực, tác động xấu tới nhiều
thực vật, động vật và vi sinh vật. Như vậy, mưa axit là tác nhân ô nhiễm thứ
cấp được tạo thành do sự kết hợp SO 2 với nước. Cũng có những trường hợp,
cây xanh. Thông thường, lượng CO2 sản sinh một cách tự nhiên cân bằng với
lượng CO2 được sử dụng cho quang hợp. Hai loại hoạt động của con người là
đốt nhiên liệu hoá thạch và phá rừng đó làm cho quá trình trên mất cân bằng,
có tác động xấu tới khí hậu toàn cầu.
- Đioxit sunfua (SO2): Đioxit sunfua (SO2) là chất gây ô nhiễm không
khí có nồng độ thấp trong khí quyển, tập trung chủ yếu ở tầng đối lưu. Dioxit
sunfua sinh ra do núi lửa phun, do đốt nhiên liệu than, dầu, khí đốt, sinh khối
thực vật, quặng sunfua,.v.v... SO2 rất độc hại đối với sức khoẻ của người và
sinh vật, gây ra các bệnh về phổi khí phế quản. SO 2 trong không khí khi gặp
oxy và nước tạo thành axit, tập trung trong nước mưa gây ra hiện tượng
mưa axit.
- Cacbon monoxit (CO): CO được hình thành do việc đốt cháy không
hết nhiên liệu hoá thạch như than, dầu và một số chất hữu cơ khác. Khí thải từ
các động cơ xe máy là nguồn gây ô nhiễm CO chủ yếu ở các thành phố. Hàng
năm trên toàn cầu sản sinh khoảng 600 triệu tấn CO. CO không độc với thực
vật, cây xanh có thể chuyển hoá CO => CO 2 và sử dụng nó trong quá trình
quang hợp. Vì vậy, thảm thực vật được xem là tác nhân tự nhiên có tác dụng
làm giảm ô nhiễm CO. Khi con người ở trong không khí có nồng độ CO
khoảng 250 ppm sẽ bị tử vong.
9
- Nitơ oxit (N2O): N2O là loại khí gây hiệu ứng nhà kính, được sinh ra
trong quá trình đốt các nhiên liệu hoá thạch. Hàm lượng của nó đang tăng dần
trên phạm vi toàn cầu, hàng năm khoảng từ 0,2 - 0,3%. Một lượng nhỏ N 2O
khác xâm nhập vào khí quyển do kết quả của quá trình nitrat hoá các loại
phân bón hữu cơ và vô cơ. N 2O xâm nhập vào không khí sẽ không thay đổi
dạng trong thời gian dài, chỉ khi đạt tới những tầng trên của khí quyển nó mới
tác động một cách chậm chạp với nguyên tử oxy.
3% còn lại là nước ngọt nhưng gần hơn 2/3 lượng nước này tồn tại ở dạng
sông băng và các mũ băng ở các cực. Phần còn lại không đóng băng được tìm
thấy chủ yếu ở dạng nước ngầm, và chỉ một tỷ lệ nhỏ tồn tại trên mặt đất và
trong không khí.
Nước ngọt là nguồn tài nguyên tái tạo, tuy vậy mà việc cung cấp nước
ngọt và sạch trên thế giới đang từng bước giảm đi. Nhu cầu nước đó vượt
cung ở một vài nơi trên thế giới, trong khi dân số thế giới vẫn đang tiếp tục
tăng làm cho nhu cầu nước càng tăng. Sự nhận thức về tầm quan trọng của
việc bảo vệ nguồn nước cho nhu cầu hệ sinh thái chỉ mới được lên tiếng gần
đây. Trong suốt thế kỷ 20, hơn một nửa các vùng đất ngập nước trên thế giới
đó bị biến mất cùng với các môi trường hỗ trợ có giá trị của chúng. Các hệ
sinh thái nước ngọt mang đậm tính đa dạng sinh học hiện đang suy giảm
nhanh hơn các hệ sinh thái biển và đất liền.
* Ô nhiễm môi trường nước: là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tính
chất vật lý, hoá học, sinh học của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể
lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật. Làm
giảm sự đa dạng sinh vật trong nước.
Có nhiều cách phân loại ô nhiễm nước. Hoặc dựa vào nguồn gốc gây ô
nhiễm, như ô nhiễm do công nghiệp, nông nghiệp, sinh hoạt. Hoặc dựa vào
môi trường nước, như ô nhiễm nước ngọt, ô nhiễm biển và đại dương. Hoặc
dựa vào tính chất của ô nhiễm, như ô nhiễm sinh học, hóa học hay vật lý.
- Ô nhiễm môi trường nước có nguồn gốc tự nhiên: do sự nhiễm mặn,
nhiễm phèn, gió bão, lũ lụt. Nước mưa rơi xuống mặt đất, nhà cửa, đường
phố đô thị, khu công nghiệp kéo theo các chất bẩn xuống sông hồ, sản phẩm
của hoạt động sống của sinh vật, vi sinh vật kể cả xác chết của chúng…Sự ô
nhiễm này còn được gọi là sự ô nhiễm không xác định được nguồn.
- Ô nhiễm môi trường nước có nguồn gốc nhân tạo: chủ yếu là do nước
xả thải của các khu dân cư,hoạt động nông nghiệp (thuốc trừ sâu, thuốc diệt
cỏ…), khu công nghiệp, hoạt động giao thông vận tải, đặc biệt là giao thông
đường biển.
(1,6 – 1,9) x BOD5
Tổng chất rắn hòa tan (TDS)
170 – 220
Tổng chất rắn lơ lửng (TSS)
70 – 145
Clo (Cl )
4–8
Tổng Nitơ (tính theo N)
6 – 12
Tổng Photpho (Tính theo P)
0,8 – 4
(Nguồn: Dư Ngọc Thành, 2008) [9].
+ Nước thải đô thị: là loại nước thải được tạo thành do sự gộp chung
nước thải sinh hoạt, nước thải vệ sinh và nước thải từ các cơ sở thương mại,
sản suất công nghệp nhỏ trong khu đô thị. Nước thải đô thị thường được thu
gom vào hệ thống cống thải của thành phố, đô thị để xử lý chung. Thông
thường ở các đô thị có hệ thống cống thải, khoảng 70 – 90% tổng lượng nước
sử dụng của đô thị sẽ trở thành nước thải đô thị và chảy vào đường cống thải
chung, nhìn chung nước thải đô thị có thành phần tương tự như nước
thải sinh hoạt.
+ Nước thải công nghiệp: nước thải từ các nhà máy, cơ sở sản xuất
công nghệp, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề… Thành phần cơ bản phụ thuộc
vào từng ngành công nghiệp cụ thể. Nước thải công nghiệp thường chứa
nhiều hóa chất độc hại như kim loại nặng (Hg, As, Pb, Cd…), các chất khó
12
phân hủy sinh học (phenol, dầu mỡ…), các chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học
13
- Độ cứng: gây ra độ cứng của nước là do trong nước có chứa các muối
Ca và Mg với hàm lượng lớn.
- Độ dẫn điện: độ dẫn điện của nước có lên quan tới sự có mặt của các
ion trong nước. Các ion này thường là các muối của kim loại như NaCl, KCl,
SO42-... nước có tính độc cao thường liên quan tới các ion hòa tan trong nước.
- Độ pH: độ pH có ảnh hưởng tới điều kiện sống bình thường của các
sinh vật sống trong nước. Sự thay đổi pH trong nước thường liên quan đến sự
hiện diện của các hóa chất axit hoặc kiềm, sự phân hủy hữu cơ, sự hòa tan
một số anion SO42-, NO3...
- Nồng độ oxi hòa tan trong nước (DO): nồng độ oxy hòa tan trong
nước nằm trong khoảng 8 - 10ppm, dao động mạnh, yếu phụ thuộc vào nhiệt
độ, sự phân hủy hóa chất, sự quang hợp của tảo. Khi nồng độ oxy hòa tan
trong nước thấp sẽ làm giảm hoạt động của cac sinh vật trong nước, nhiều khi
dẫn đến chết.
- Nhu cầu oxy sinh học (BOD): là lượng oxy mà vi sinh vật cần dùng
để oxy hóa các chất hữu cơ có trong nước.
- Nhu cầu oxy hóa học (COD): là lượng oxy cần thiết cho quá trình
oxy hóa các hợp chất hóa học bao gồm cả chất hữu cơ và vô cơ. (Nguyễn
Thị Lợi, 2006) [7].
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1. Tình hình khai thác than trên Thế giới
Vỏ trái đất có phần lục địa chiếm khoảng 50% khối lượng toàn bộ của
vỏ trái đất tương đương với 2,9% khối lượng của trái đất. Phần lớn vỏ trái đất
được cấu tạo bởi các nham thạch bị nóng chảy, nguội dần và kết tinh. Thành
phần các nguyên tố cấu tạo nên vỏ trái đất được biết nhưng chưa đầy đủ vì
những nghiên cứu chỉ mới được thực hiện trên lục địa mà thôi. Hơn nữa trên
Cấp
A+ B
C1
C2
Trữ lượng (triệu tấn)
Tỉ lệ (%)
466
14,0
1.813
54,5
1.046
31,5
(Nguồn: sở công thương Quảng Ninh, 2010) [8].
Như vậy, cấp A + B/A + B + C1 chỉ chiếm 20,4%, chưa đạt 50%, thể
hiện mức độ tin cậy chưa cao, nhiều khoáng sàng cần phải thăm dò bổ sung
trước khi đầu tư hoặc khai thác. Bể than Quảng Ninh được phát hiện và khai
thác rất sớm, đó bắt đầu cách đây gần 100 năm dưới thời thuộc Pháp. Hiện
nay và có lẽ trong tương lai, sản lượng than khai thác từ các mỏ ở bể than
15
Quảng Ninh chiếm khoảng 90% sản lượng than toàn quốc. Trong địa tầng
chứa than của bể than Quảng Ninh gồm rất nhiều vỉa than:
+ Dải phía Bắc (Uông Bí - Bảo Đài) có từ 1 đến 15 vỉa, trong đó có 6 - 8
vỉa có giá trị công nghiệp.
+ Dải phía Nam (Hòn Gai, Cẩm Phả) có từ 2 đến 45 vỉa, có giá trị công
nghiệp là 10-15 vỉa. Phân loại theo chiều dày của bể than Quang Ninh được
trình bày trong bảng 2.3:
lượng; các mỏ mới lộ thiên lớn sẽ không có, nếu có là một số mỏ sản
lượng dưới 0,5 -1triệu tấn/năm. Tỷ lệ sản lượng than hầm lò tăng, nói lên
điều kiện khai thác khó khăn tăng, chi phí đầu tư xây dựng và khai thác tăng,
dẫn tới giá thành sản xuất tăng cao. Cho nên, tuy trữ lượng địa chất của bể
than Quảng Ninh là trên 3 tỷ tấn, nhưng trữ lượng kinh tế là 1,2tỷ tấn và trữ
lượng công nghiệp đưa vào quy hoạch xây dựng giai đoạn từ 2010 - 2020
mới ở mức 500 - 600triệu tấn. Mức độ khai thác xuống sâu là -150m. Còn từ
16
- 150m đến -300m, cần phải tiến hành thăm dò địa chất, nếu kết quả thăm dò
thuận lợi, thiết bị và công nghệ khai thác tiên tiến, việc đầu tư cho mức dưới
-150m sẽ được xem xét vào sau năm 2020. (Nguồn: vinacomin, 2010) [12].
Do đó, đối với than Antraxit Quảng Ninh, để đảm bảo khai thác bền
vững, thì sản lượng khai thác tối đa hợp lý cũng chỉ nên là 15triệu tấn/năm ở
giai đoạn 2010 - 2015.
- Than antraxit ở các vùng khác.
Có nhiều trữ lượng than đá antraxit khác nằm rải rác ở các tỉnh: Hải
Dương, Bắc Giang, Thái Nguyên, Sơn La, Quảng Nam với trữ lượng từ vài
trăm nghìn tấn đến vài chục triệu tấn. Ở các nơi này, quy mô khai thác thường
từ vài nghìn tấn đến 100 - 200nghìn tấn/năm. Tổng sản lượng hiện nay không
quá 200nghìn tấn/năm.
b. Than mỡ
Trữ lượng tiềm năng được đánh giá sơ bộ là 27triệu tấn, trong đó trữ
lượng địa chất là 17,6triệu tấn, chủ yếu tập trung ở 2 mỏ Làng Cẩm (Thái
Nguyên) và mỏ Khe Bố (Nghệ An).
Ngoài ra, than mỡ còn có ở các tỉnh: Sơn La, Lai Châu, Hoà Bình
nhưng với trữ lượng nhỏ.
Than mỡ được dùng chủ yếu cho ngành luyện kim với nhu cầu rất lớn
Chủ yếu tập trung ở mỏ Na Dương (Lạng Sơn), với trữ lượng địa chất
trên 100 triệu tấn. Hiện nay khai thác được thực hiện bằng phương pháp lộ
thiên, than khai thác chủ yếu phục vụ sản xuất xi măng ở Hải Phòng và Bỉm
Sơn với sản lượng trên dưới 100nghìn tấn/năm. Nhưng do nhà máy Xi măng
Hải Phòng sẽ ngừng hoạt động, nhà máy xi măng Bỉm Sơn được cải tạo với
công nghệ mới, nên không dùng than Na Dương từ 1999 trở đi. Than Na
Dương là loại than có hàm lượng lưu huỳnh cao, có tính tự cháy, nên việc khai
thác, vận chuyển, chế biến sử dụng rất khó khăn và hạn chế. Do đó, Tổng Công
ty Than Việt Nam đang nghiên cứu hợp tác với nước ngoài xây dựng nhà máy
điện trong vùng mỏ, để sử dụng loại than này. Vì nếu không khai thác, than sẽ
tự cháy và phá huỷ nguồn tài nguyên đồng thời gây tác động xấu hơn
đến môi trường.
e. Than Nâu
Tập trung chủ yếu ở đồng bằng Bắc Bộ, trữ lượng dự báo 100 tỷ tấn.
Theo đánh giá sơ bộ, than có chất lượng tốt, có thể sử dụng cho sản xuất điện,
xi măng và công nghiệp hoá học.
Nhưng để có thể khai thác được, cần tiến hành thăm dò ở khu vực Bình
Minh - Khoái Châu Hưng Yên, để đánh giá một cách chính xác trữ lượng, chất
lượng than, điều kiện kiến tạo của vỉa than, nghiên cứu công nghệ khai thác
thiết kế. Nói chung việc khai thác than này rất khó khăn về mặt địa hình, dân
cư trong vùng và về phương pháp khai thác v.v... Theo đánh giá của một số nhà
nghiên cứu địa chất và khai thác, đối với than Nâu ở đồng bằng sông Hồng thì
18
có thể đưa vào đầu tư xây dựng mỏ và khai thác từ 2015 - 2020 trở đi. (Bộ kế
hoạch và đầu tư, 2008) [1].
2.2.3. Ảnh hưởng của hoạt động khai thác than tới môi trường không khí
Tác động tới môi trường không khí của hoạt động khai thác than chủ
19
Khi tiến hành khai thác than sẽ hình thành các moong sâu đến hàng
trăm mét, là nơi tập trung nước cục bộ. Ngược lại, để đảm bảo hoạt động của
mỏ, phải thường xuyên bơm tháo khô nước ở đáy moong, hầm lũ, hình thành
các phễu hạ thấp mực nước dưới đất với độ sâu mực từ vài chục đến hàng
trăm mét và bán kính phễu hàng trăm mét. Điều đó dẫn đến tháo khô các công
trình chứa nước trên mặt như hồ ao,... xung quanh khu mỏ. Kèm theo đó là
ảnh hưởng do hoạt động của các phương tiện máy móc khai thác và sản xuất
than như: máy xúc, máy ủi, nổ mìn…
Song song với những tác động cơ học đến nguồn nước nói chung và
nguồn nước nông nghiệp nói riêng, những tác động hoá học đối với nguồn
nước cũng rất đáng kể. Sự phá vỡ cấu trúc của đất đá chứa quặng khi tiến
hành đào bới và khoan nổ sẽ thúc đẩy các quá trình hoà tan, rửa khô các thành
phần chứa trong quặng và đất đá, quá trình tháo khô mỏ, đổ các chất thải vào
nguồn nước, chất thải rắn, bụi thải không được quản lý, xử lý chặt chẽ, tham
gia vào thành phần nước mưa, nước chảy tràn cung cấp cho nguồn nước tự
nhiên,... là những tác động hoá học làm thay đổi tính chất vật lý và thành phần
hoá học của nguồn nước xung quanh các khu mỏ. Mức độ ô nhiễm hoá học
các nguồn nước phụ thuộc vào nhiều yếu tố như đặc điểm thân quặng, thành
phần thạch học và độ bền vững của đất đá chứa quặng, phương pháp và trình
độ công nghệ khai thác, chế biến quặng, biện pháp quản lý và xử lý chất
thải,... Nước ở các mỏ than thường có hàm lượng cao các ion kim loại nặng, á
kim, các hợp chất hữu cơ, các nguyên tố phóng xạ... cao hơn so với nước mặt
và nước biển khu vực đối chứng và cao hơn TCVN từ 1 - 3 lần. Đặc biệt là
khu vực từ Quảng Yên đến Cửa Ông. Sự biến đổi chất lượng nguồn nước, tải
lượng một số chất thải trong nước tháo khô các mỏ than.
Khai thác khoáng sản còn là nguyên nhân gây suy thoái nguồn nước.
Nguồn nước mặt và nước ngầm xung quanh các khu vực khai khoáng sử dụng
3.4. Các phương pháp nghiên cứu
3.4.1. Nghiên cứu các văn bản pháp luật, văn bản dưới luật đối với hoạt
động khai thác than
Nghiên cứu các luật, các thông tư, nghị định về khai thác than, khai thác
khoáng sản:
21
+ Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam 2005
+ Luật Khoáng sản Việt Nam 2010.
+ Thông tư 20/2009/TT-BCT ngày 7 tháng 7 năm 2009 Thông tư ban
hành Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về an toàn trong khai thác mỏ lộ thiên.
+ Nghị định 15/2012/NĐ-CP ngày 9 tháng 3 năm 2012 Nghị định quy
định chi tiết thi hành một số điều của Luật Khoáng sản
3.4.2. Phương pháp kế thừa sử dụng tài liệu thứ cấp
- Tài liệu, số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tình hình quản
lý tài nguyên khoáng sản.
- Tài liệu, số liệu về hoạt động, công nghệ sử dụng trong hoạt động
khai khoáng tại mỏ, báo cáo môi trường của mỏ than Núi Hồng.
3.4.3. Phương pháp thu thập thông tin theo phương pháp điều tra
Điều tra những ảnh hưởng của khai thác than của mỏ than Núi Hồng tới
môi trường nước và môi trường không khí tại xã Yên Lãng.
- Số hộ điều tra là 30 hộ
- Cách chọn hộ điều tra là chọn ngẫu nhiên 30 hộ dân cư xung quanh
Mỏ than bán kính 1 km.
3.4.4. Phương pháp điều tra khảo sát thực địa
- Nắm bắt được thông tin chung về khu vực nghiên cứu.
3.4.5. Phương pháp lấy mẫu
3.4.5.1 Phân tích mẫu nước
+ Thời gian lấy mẫu: ngày 15/11/2011
+ Thời gian phân tích: từ ngày 15/11/2011 đến ngày 22/11/2011
3.4.6. Phương pháp xử lý số liệu
- Trên cơ sở những tài liệu thu thập được tiến hành phân tích, chọn lọc.
- Xử lý số liệu trên máy tính bằng phần mềm Word và phần mềm Exel.
3.4.7. Phương pháp đối chiếu, so sánh
- Các chỉ tiêu bụi, ồn, khí: NO2, SO2, CO trong khu vực sản xuất được
so sánh với văn bản số 3733/202/QD-BYT.
- Các chỉ tiêu bụi, khí NO2, SO2, CO khu vực xung quanh được so sánh
với quy chuẩn QCVN 05:2009/BTNMT.
23
- Chỉ tiêu ồn khu vực xung quanh được so sánh với quy chuẩn QCVN
26:2010/BTNMT.
- Các chỉ tiêu về nước thải công nghiệp được so sanh với QCVN
24:2009/BTNMT (B) - quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp.
- Các chỉ tiêu về nước ngầm được so sánh với QCVN 09:2008/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiêu chuẩn nước ngầm.
So sánh giữa kết quả thu được với thực tế (ý kiến người dân), từ đó rút
ra được những kết luận về các tác động của khai thác than tới môi trường nước
và môi trường không khí. Qua đó có thể để suất ra những giải pháp hợp lí.
24
PHẦN 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của khu vực mỏ than Núi Hồng
4.1.1. Điều kiện tự nhiên
- Số ngày mưa trong năm: 150 – 160 ngày
- Lượng mưa tháng lớn nhất: 489 mm (tháng 8)
- Lượng mưa tháng nhỏ nhất: 22 mm (tháng 12)
- Số ngày mưa lớn hơn 50 mm: 12 ngày
- Số ngày mưa lớn hơn 100 mm: 2 – 3 ngày
- Lượng mưa ngày lớn nhất: 353 mm
b. Chế độ nhiệt
- Nhiệt độ trung bình năm: 23,60C.
- Nhiệt độ cao nhất trung bình của tháng nóng nhất: 28,90C (tháng 6).
- Nhiệt độ thấp nhất trung bình của tháng lạnh nhất: 170C (tháng 12).
c. Độ ẩm không khí
- Độ ẩm tương đối trung bình năm của không khí: 82%
- Độ ẩm tương đối trung bình tháng lớn nhất (tháng 3, tháng 7): 88%
- Độ ẩm tương đối trung bình tháng thấp nhất (tháng 2, tháng 11): 77%
d. Tốc độ gió và hướng gió
- Tại khu vực nghiên cứu, trong năm có 2 mùa chính là mùa đông gió
có hướng Bắc và Đông Bắc, mùa hè gió có hướng Nam và Đông Nam.
- Tốc độ gió trung bình trong năm: 1,9 m/s
- Tốc độ gió lớn nhất: 24 m/s
e. Nắng và bức xạ
- Số giờ nắng trung bình trong năm: 1 588 giờ
- Số giờ nắng trung bình trong tháng lớn nhất: 187 giờ
- Số giờ nắng trung bình trong tháng nhỏ nhất: 46 giờ
- Bức xạ trung bình năm: 122. (Nguồn: Cty Than Núi Hồng, 2010) [3].
4.1.1.4 Tài nguyên thiên nhiên
a. Tài nguyên nước
* Tài nguyên nước mặt:
Nước mặt chỉ yếu trong khu vực mỏ là hệ thống suối Đồng Bèn, suối
Đồng Măng và suối Đồng Cẩm. Suối Đồng Bèn chảy từ hướng Tây Bắc