khoa học môi trường Đánh giá hiện trạng và đề xuất biện pháp giảm thiểu ảnh hưởng của hoạt động khai thác tới môi trường nước và môi trường không khí tại mỏ than Núi Hồng–Công ty Than Nú - Pdf 39

1

PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Việt Nam là một nước đang trên đà phát triển, trong quá trình hội nhập
đã đạt được những thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội. Trong
quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa và sự mở cửa hòa nhập với các nước
trên thế giới đã làm thay đổi nhanh chóng bộ mặt của đất nước. Song song với
thành tựu này, chúng ta phải đối mặt với những thách thức liên quan tới vấn
đề môi trường. Với bất kỳ hoạt động kinh tế xã hội cũng như trong đời sống
sinh hoạt con người đều phải sử dụng các nguồn năng lượng khác nhau. Mặc
dù đó cú nhiều các nhà khoa học kỹ thuật đó tiến rất xa trên con đường tìm
kiếm nguồn năng lượng mới, nhưng chúng chưa thể thay thế cho nhiên liệu
hoá thạch truyền thống như than đá, dầu mỏ. Tình trang ô nhiễm môi trường
đã và đang gia tăng tới mức báo động, nhất là từ hoạt động của các hoạt động
khai khoáng, các khu công nghiệp, các khu đô thị. Điều này đã gây ảnh hưởng
rất lớn tới sức khỏe con người và môi trường sinh thái. Chính vì vậy, khai
thác và sử dụng hợp lý tài nguyên than đá là một trong những nhân tố để thúc
đẩy nền kinh tế quốc dân của mỗi quốc gia trên thế giới. Việt Nam là một
trong những quốc gia có trữ lượng than đá vào loại lớn và đa dạng trên thế
giới. Tuy nhiên lượng khoáng sản này lại nằm rải rác trong các khu vực với
trữ lượng nhỏ nên không kinh tế trong việc khai thác. Đồng thời, việc khai
thác khoáng sản đó và đang để lại những hệ lụy về môi trường.
Mỏ than Núi Hồng do công ty Than Núi Hồng - VVMI (Chi nhánh
Công ty TNHH Một thành viên Công nghiệp mỏ Việt Bắc - TKV) quản lý.
Nhà máy nằm trên khu vực xã Yên Lãng thuộc huyện Đại Từ, tỉnh Thái
Nguyên. Với sản phẩm chính là các loại than phục vụ cho sản suất công
nghiệp. Nhà máy đã cung cấp một lượng than lớn, đáp ứng nhu cầu sử dụng
than cho khu vực phía Bắc.
Nhìn chung trong quá trình khai thác, công ty đã chú trọng tới công tác

- Đề xuất giải pháp phòng ngừa, khắc phục các tác động tiêu cực của
hoạt động khai thác than đến môi trường nước và môi trường không khí.
1.4. Ý nghĩa của đề tài

1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu:
- Áp dụng, bổ xung và phát huy các kiến thức đã học vào thực tiễn.
- Nâng cao hiểu biết về kiến thức môi trường và các phương pháp đánh
giá hiện trạng môi trường.
- Bổ xung tư liệu cho học tập.


3

1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn:
- Đưa ra được các tác động của hoạt động khai thác than tới môi trường
nước và môi trường không khí để từ đó giúp cho đơn vị tổ chức khai thác có
các biện pháp quản lý, ngăn ngừa, giảm thiểu các tác động xấu tới môi trường
nước, không khí, cảnh quan và con người.
- Tạo số liệu làm cơ sở cho công tác lập kế hoạch xây dựng chính sách
bảo vệ môi trường và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của xã Yên Lãng.
- Nâng cao nhận thức, tuyên truyền và giáo dục về bảo vệ môi trường
cho mọi thành viên tham gia hoạt động khai thác khoáng sản.


4

PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài



5

- Theo nguồn gốc: nội sinh (sinh ra trong lòng trái đất), ngoại sinh (sinh
ra trên bề mặt trái đất).
- Theo thành phần hoá học: khoáng sản kim loại (kim loại đen, kim loại
màu, kim loại quý hiếm), khoáng sản phi kim (vật liệu khoáng, đá quý, vật
liệu xây dựng), khoáng sản cháy (than, dầu, khí đốt, đá cháy).
2.1.2.2. Tài nguyên không khí và ô nhiễm môi trường không khí
* Tài nguyên không khí:
Tài nguyên không khí hay chính là khí quyển trái đất khá ổn định theo
phương nằm ngang và phân dị theo phương thẳng đứng. Phần lớn khối lượng
5.1015 tấn của toàn bộ khí quyển tập trung ở tầng đối lưu và bình lưu. Thành
phần khí quyển trái đất gồm chủ yếu là Nitơ, Oxy, hơi nước, CO2, H2, O3,
NH4, các khí trơ.
Trong tầng đối lưu, thành phần các chất khí chủ yếu tương đối ổn
định, nhưng nồng độ CO2 và hơi nước dao động mạnh. Lượng hơi nước
thay đổi theo thời tiết khí hậu, từ 4% thể tích vào mùa nóng ẩm tới 0,4 %
khi mùa khô lạnh. Trong không khí tầng đối lưu thường có một lượng nhất
định khí SO2 và bụi.
Trong tầng bình lưu luôn tồn tại một quá trình hình thành và phá huỷ
khí ozon, dẫn tới việc xuất hiện một lớp ozon mỏng với chiều dày trong
điều kiện mật độ không khí bình thường khoảng vài chục xentimet. Lớp khí
này có tác dụng ngăn các tia tử ngoại chiếu xuống bề mặt trái đất. Hiện
nay, do hoạt động của con người, lớp khí ozon có xu hưởng mỏng dần, có
thể đe doạ tới sự sống của con người và sinh vật trên trái đất.
* Ô nhiễm môi trường không khí:
"Ô nhiễm không khí là sự có mặt một chất lạ hoặc một sự biến đổi
quan trọng trong thành phần không khí, làm cho không khí không sạch
hoặc gây ra sự toả mùi, có mùi khó chịu, giảm tầm nhìn xa (do bụi)". (Lưu

Các ngành công nghiệp chủ yếu gây ô nhiễm không khí bao gồm: nhiệt
điện, vật liệu xây dựng, hoá chất và phân bón, dệt, giấy, luyện kim, thực
phẩm, các xí nghiệp cơ khí, các nhà máy thuộc ngành công nghiệp nhẹ, giao
thông vận tải, bên cạnh đó phải kể đến sinh hoạt của con người.
* Các tác nhân nào gây ô nhiễm không khí?
Các chất và tác nhân gây ô nhiễm không khí gồm:
+ Các loại oxit như: nitơ oxit (NO, NO2), nitơ đioxit (NO2), SO2, CO,
H2S và các loại khí halogen (clo, brom, iôt).
+ Các hợp chất flo.
+ Các chất tổng hợp (ete, benzen).


7

+ Các chất lơ lửng (bụi rắn, bụi lỏng, bụi vi sinh vật), nitrat, sunfat, các
phân tử cacbon, sol khí, muội, khói, sương mù, phấn hoa.
+ Các loại bụi nặng, bụi đất, đá, bụi kim loại như đồng, chì, sắt, kẽm,
niken, thiếc, cađimi...
+ Khí quang hoá như ozôn, FAN, FB2N, NOX, anđehyt, etylen...
+ Chất thải phóng xạ
+ Nhiệt độ
+ Tiếng ồn
Sáu tác nhân ô nhiễm đầu sinh ra chủ yếu do quá trình đốt cháy nhiên
liệu và sản xuất công nghiệp. Các tác nhân ô nhiễm không khí có thể phân
thành hai dạng: dạng hơi khí và dạng phần tử nhỏ. Tuy nhiên, phần lớn các
tác nhân ô nhiễm đều gây tác hại đối với sức khỏe con người.
Tác nhân ô nhiễm được chia làm hai loại: sơ cấp và thứ cấp. Sunfua
đioxit sinh ra do đốt cháy than đó là tác nhân ô nhiễm sơ cấp. Nó tác động
trực tiếp tới bộ phận tiếp nhận. Sau đó, khí này lại liên kết với ôxy và nước
của không khí sạch để tạo thành axit sunfuric (H2SO4) rơi xuống đất cùng với

là CFC) và Mêtan (CH4).
- Cácbon đioxit (CO2): CO2 với hàm lượng 0,03% trong khí quyển là
nguyên liệu cho quá trình quang hợp để sản xuất năng suất sinh học sơ cấp ở
cây xanh. Thông thường, lượng CO2 sản sinh một cách tự nhiên cân bằng với
lượng CO2 được sử dụng cho quang hợp. Hai loại hoạt động của con người là
đốt nhiên liệu hoá thạch và phá rừng đó làm cho quá trình trên mất cân bằng,
có tác động xấu tới khí hậu toàn cầu.
- Đioxit sunfua (SO2): Đioxit sunfua (SO2) là chất gây ô nhiễm không
khí có nồng độ thấp trong khí quyển, tập trung chủ yếu ở tầng đối lưu. Dioxit
sunfua sinh ra do núi lửa phun, do đốt nhiên liệu than, dầu, khí đốt, sinh khối
thực vật, quặng sunfua,.v.v... SO2 rất độc hại đối với sức khoẻ của người và
sinh vật, gây ra các bệnh về phổi khí phế quản. SO2 trong không khí khi gặp
oxy và nước tạo thành axit, tập trung trong nước mưa gây ra hiện tượng
mưa axit.
- Cacbon monoxit (CO): CO được hình thành do việc đốt cháy không
hết nhiên liệu hoá thạch như than, dầu và một số chất hữu cơ khác. Khí thải từ
các động cơ xe máy là nguồn gây ô nhiễm CO chủ yếu ở các thành phố. Hàng
năm trên toàn cầu sản sinh khoảng 600 triệu tấn CO. CO không độc với thực
vật, cây xanh có thể chuyển hoá CO => CO2 và sử dụng nó trong quá trình
quang hợp. Vì vậy, thảm thực vật được xem là tác nhân tự nhiên có tác dụng
làm giảm ô nhiễm CO. Khi con người ở trong không khí có nồng độ CO
khoảng 250 ppm sẽ bị tử vong.


9

- Nitơ oxit (N2O): N2O là loại khí gây hiệu ứng nhà kính, được sinh ra
trong quá trình đốt các nhiên liệu hoá thạch. Hàm lượng của nó đang tăng dần
trên phạm vi toàn cầu, hàng năm khoảng từ 0,2 - 0,3%. Một lượng nhỏ N2O
khác xâm nhập vào khí quyển do kết quả của quá trình nitrat hoá các loại

10

hoạt động trên đều cần nước ngọt. 97% nước trên Trái Đất là nước mặn, chỉ
3% còn lại là nước ngọt nhưng gần hơn 2/3 lượng nước này tồn tại ở dạng
sông băng và các mũ băng ở các cực. Phần còn lại không đóng băng được tìm
thấy chủ yếu ở dạng nước ngầm, và chỉ một tỷ lệ nhỏ tồn tại trên mặt đất và
trong không khí.
Nước ngọt là nguồn tài nguyên tái tạo, tuy vậy mà việc cung cấp nước
ngọt và sạch trên thế giới đang từng bước giảm đi. Nhu cầu nước đó vượt
cung ở một vài nơi trên thế giới, trong khi dân số thế giới vẫn đang tiếp tục
tăng làm cho nhu cầu nước càng tăng. Sự nhận thức về tầm quan trọng của
việc bảo vệ nguồn nước cho nhu cầu hệ sinh thái chỉ mới được lên tiếng gần
đây. Trong suốt thế kỷ 20, hơn một nửa các vùng đất ngập nước trên thế giới
đó bị biến mất cùng với các môi trường hỗ trợ có giá trị của chúng. Các hệ
sinh thái nước ngọt mang đậm tính đa dạng sinh học hiện đang suy giảm
nhanh hơn các hệ sinh thái biển và đất liền.
* Ô nhiễm môi trường nước: là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tính
chất vật lý, hoá học, sinh học của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể
lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật. Làm
giảm sự đa dạng sinh vật trong nước.
Có nhiều cách phân loại ô nhiễm nước. Hoặc dựa vào nguồn gốc gây ô
nhiễm, như ô nhiễm do công nghiệp, nông nghiệp, sinh hoạt. Hoặc dựa vào
môi trường nước, như ô nhiễm nước ngọt, ô nhiễm biển và đại dương. Hoặc
dựa vào tính chất của ô nhiễm, như ô nhiễm sinh học, hóa học hay vật lý.
- Ô nhiễm môi trường nước có nguồn gốc tự nhiên: do sự nhiễm mặn,
nhiễm phèn, gió bão, lũ lụt. Nước mưa rơi xuống mặt đất, nhà cửa, đường
phố đô thị, khu công nghiệp kéo theo các chất bẩn xuống sông hồ, sản phẩm
của hoạt động sống của sinh vật, vi sinh vật kể cả xác chết của chúng…Sự ô
nhiễm này còn được gọi là sự ô nhiễm không xác định được nguồn.
- Ô nhiễm môi trường nước có nguồn gốc nhân tạo: chủ yếu là do nước


2

COD

(1,6 – 1,9) x BOD5

3

Tổng chất rắn hòa tan (TDS)

170 – 220

4

Tổng chất rắn lơ lửng (TSS)

70 – 145

5

Clo (Cl-)

4–8

6

Tổng Nitơ (tính theo N)

6 – 12

có thể làm ô nhiễm nguồn nước do có chất rắn, dầu mỡ, hóa chất, vi trùng.
(Dư Ngọc Thành, 2008) [9].
* Các tác nhân gây ô nhiễm nguồn nước:
- Màu sắc: nước tự nhiên sạch thường trong suốt và không có màu, cho
phép ánh sáng mặt trời chiếu xuống tầng nước sâu. Khi nước chứa nhiều chất
rắn lơ lửng, các loại tảo, chất hữu cơ... nó trở nên kém thấu quang với ánh
sáng mặt trời. Các loại sinh vật sống ở đáy thường bị thiếu ánh sáng. Các chất
rắn trong môi trường nước làm cho sinh vật hoạt động trở nên khó khăn hơn,
một số trường hợp có thể gây tử vong cho sinh vật.
- Mùi và vị: nước tự nhiên sạch không có mùi và không có vị. Khi
trong nước có các sản phẩm phân hủy chất hữu cơ, chất thải công nghiệp, các
kim loại thì mùi trở nên khó chịu.
- Nhiệt độ: nhiệt độ nước tự nhiên phụ thuộc vào khí hậu, thời tiết của
lưu vực hoặc môi trường khu vực. Nước thải công nghiệp, đặc biệt là nước
thải của các nhà máy nhiệt điện, nhà máy điện hạt nhân thường có nhiệt độ
cao hơn nước tự nhiên trong khu vực. Chất thải làm tăng nhiệt độ môi trường
nước làm cho quá trình sinh, lý, hóa của môi trường nước thay đổi, dẫn tới
một số loài sinh vật sẽ không chịu đựng được sẽ dẫn tới chết hoặc di chuyển
tới nơi khác, một số còn lại thì phát triển mạnh mẽ. Sự thay đổi nhiệt độ của
nước thông thường không có lợi cho sự cân bằng tự nhiên của hệ sinh
thái nước.
- Chất rắn lơ lửng: chất rắn lơ lửng và các hạt chất rắn vô cơ hoặc hữu
cơ, kích thước bé, rất khó lắng trong nước như sét, bụi than, mùn... Sự có mặt


13

của các chất rắn lơ lửng trong nước làm cho nước trở nên đục hơn, làm thay
đổi màu sắc và các tính chất khác trong nước.
- Độ cứng: gây ra độ cứng của nước là do trong nước có chứa các muối



14

năng lượng này có trữ lượng ít và phân tán nên khó xác định được chính xác.
Trong những chỉ số về phát triển kinh tế xã hội ở mỗi quốc gia, người
ta thường quan tâm đến ba chỉ số: tăng trưởng dân số, tăng trưởng sản xuất
công nghiệp và tăng tổng sản lượng thu hoạch, vì sự gia tăng các chỉ số này
luôn gắn liền với nhu cầu ngày càng cao về năng lượng. Ở nhiều quốc gia có
nền công nghiệp phát triển thì nhu cầu về các năng lượng này chiếm tỉ lệ
80% - 90% tổng lượng năng lượng sử dụng trên thế giới. Ngoài ra nhu cầu
về khoáng sản năng lượng cũng tăng lên, chủ yếu được sử dụng làm nguyên
liệu cho các ngành công nghiệp, nông nghiệp và rất nhiều ngành khác.

2.2.2. Tình hình khai thác than tại Việt Nam:
Than ở Việt Nam có 5 loại chính
- Than antraxit
- Than mỡ
- Than bùn
- Than ngọn lửa dài
- Than nâu.
a. Than antraxit (than đá)
Trữ lượng than đá được đánh giá là 3,5tỷ tấn trong đó ở vùng Quảng
Ninh trên 3,3tỷ tấn (tính đến độ sâu -300m), còn lại gần 200 triệu tấn là nằm
rải rác ở các tỉnh: Thái Nguyên, Hải Dương, Bắc giang,...
- Than antraxit Quảng Ninh:

Bảng 2.2: Trữ lượng than antraxit Quảng Ninh
Cấp
A+ B


Bảng 2.3: Phân loại theo chiều dày của bể than Quang Ninh
Loại
Vỉa rất mỏng
Vỉa mỏng
Vỉa trung bình
Vỉa dày
Vỉa rất dày

Chiều dày (m)
Trữ lượng (%)
3,5-15
16,78
>15
1,07
(Nguồn: vinacomin, 2010) [12].
Tính chất đặc trưng của than antraxit tại các khoáng sàng bể than
Quảng Ninh là kiến tạo rất phức tạp, tầng chứa than là những dải hẹp, đứt
quãng dọc theo phương của vỉa, góc dốc của vỉa thay đổi từ dốc thoải đến dốc
đứng (9o - 50o). Các mỏ than có nhiều vỉa, với cấu tạo và chiều dày vỉa thay
đổi đột ngột.
Đối với việc khai thác than ở bể Quảng Ninh trước đây, có thời kỳ sản
lượng lộ thiên đó chiếm đến 80%, tỷ lệ này dần dần đó thay đổi, hiện nay còn
60%, trong tương lai sẽ còn xuống thấp hơn. Vì còn có mỏ lộ thiên lớn đó và

nhưng với trữ lượng nhỏ.
Than mỡ được dùng chủ yếu cho ngành luyện kim với nhu cầu rất lớn
sau năm 2000, nhưng trữ lượng than mỡ ở ta lại rất ít, điều kiện khai thác rất
khó khăn. Sản lượng than mỡ khó có khả năng cao hơn 0,2 - 0,3triệu tấn/năm,
trong khi nhu cầu sẽ tăng đến 5 - 6triệu tấn/năm vào giai đoạn 2010 - 2020.
c. Than bùn
Than bùn ở Việt Nam nằm rải rác từ Bắc đến Nam, nhưng chủ yếu tập
trung ở đồng bằng sông Cửu Long (với hai mỏ than lớn là U Minh Thượng và
U Minh Hạ).
Cụ thể:
- Đồng bằng Bắc Bộ:
1.650 triệu m3
- Ven biển Miền Trung:
490 triệu m3
- Đồng bằng Nam Bộ:
5.000 triệu m3


17

Trước đây vùng đồng bằng Nam Bộ được đánh giá có trữ lượng là 1tỷ
tấn và còn cao hơn nữa. Nhưng nạn cháy rừng đó phá huỷ đi rất nhiều trữ
lượng than.
Từ trước tới nay than bùn được khai thác chủ yếu dùng làm chất đốt
sinh hoạt (pha trộn với than antraxit của Quảng Ninh) và làm phân bón ruộng
với quy mô nhỏ, khai thác thủ công là chính, sản lượng khai thác hiện nay
được đánh giá là chưa đến 10 vạn tấn/năm. Khai thác than bùn làm chất đốt
hay làm phân bón đều không có hiệu quả cao, mặt khác việc khai thác than sẽ
ảnh hưởng đến môi trường, môi sinh trong vùng, nhất là ở vùng đồng bằng
sông Cửu Long, bên cạnh đó điều kiện khai thác, vận chuyển tiêu thụ, chế


2.2.3. Ảnh hưởng của hoạt động khai thác than tới môi trường không khí
Tác động tới môi trường không khí của hoạt động khai thác than chủ
yếu là tạo ra bụi và các khí độc hại. Bụi thường xuyên phát sinh trong quá
trình nổ mìn, đào xúc đất đá, bốc xúc và vận chuyển than. Các khí độc hại này
gồm các dạng cacbuahydro (mêtan. Butan..) , SiO2, CO2, CO, Nox, khí trơ và
nhiều loại khác và vật liệu nổ mìn. Theo chính một bản báo cáo về môi trường
của TKV trong tháng 6/2009, hàm lượng bụi tại các khu vực khai thác, chế
biến than, khoáng sản đều vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1,2 - 5,2 lần (trung
bình trong 24giờ). Các khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất do bụi là Mạo
Khê, Đông Triều, Uông Bí, Cẩm Phả. Ở các vùng khai thác than như Quán
Triều (Thái Nguyên), hàm lượng bụi tại các khu vực dân cư gần các công
trường xưởng sàng than cũng vượt tiêu chuẩn cho phép 2,2 - 4,2 lần.

2.2.4. Ảnh hưởng của hoạt động khai thác than tới môi trường nước
Trong những năm gần đây, hoạt động khai thác và chế biến than phát
triển một cách ồ ạt, những tác động tiêu cực tới môi trường, đặc biệt gây ô
nhiễm và suy thoái nguồn gây nước sản xuất nông nghiệp.
Trong quá trình khai thác, nước được sử dụng với khối lượng lớn cho
hầu hết công đoạn sản xuất. Quá trình sản xuất, tháo khô mỏ, đổ thải, v.v...,
gây những tác động tiêu cực tới nguồn nước sản xuất nông nghiệp ở khu vực
xung quanh khai trường, làm thay đổi địa hình, hệ thống nước mặt, điều kiện
tàng trữ và thoát nước (tác động cơ học), làm thay đổi tính chất vật lý, thành
phần hoá học của nước (tác động hoá học).
Quá trình đào xới, vận chuyển đất đá và quặng làm địa hình khu khai
trường bị hạ thấp, ngược lại, quá trình đổ chất thải rắn làm địa hình bói thải
được tâng cao. Những thay đổi này sẽ dẫn đến những biến đổi về điều kiện
thuỷ văn, các yếu tố của dũng chảy trong khu mỏ như thay đổi khả năng thu,
thoát nước, hướng và vận tốc dòng chảy mặt, chế độ thuỷ văn của các dòng
chảy như mực nước, lưu lượng,v.v... Sự tích tụ chất thải rắn do tuyển rửa

khu vực từ Quảng Yên đến Cửa Ông. Sự biến đổi chất lượng nguồn nước, tải
lượng một số chất thải trong nước tháo khô các mỏ than.
Khai thác khoáng sản còn là nguyên nhân gây suy thoái nguồn nước.
Nguồn nước mặt và nước ngầm xung quanh các khu vực khai khoáng sử dụng
làm nguồn cấp cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt đang bị suy giảm về trữ
lượng và ô nhiễm, suy thoái về chất lượng.


20

PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tiến hành nghiên cứu các tác động hoạt động khai thác than đến
môi trường không xung quanh khu vực mỏ than Núi Hồng của Công ty than
Núi Hồng, xã Yên Lãng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

3.1.2. Phạm vi nghiên cứu
- Mỏ than Núi Hồng, xã Yên Lãng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành

3.2.1. Địa điểm nghiên cứu
- Mỏ than Núi Hồng, xã Yên Lãng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

3.2.2. Thời gian tiến hành
- Từ ngày 8/1/2012 đến ngày 30/4/2012
3.3. Các nội dung nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của khu vực Mỏ than Núi Hồng.


3.4.3. Phương pháp thu thập thông tin theo phương pháp điều tra
Điều tra những ảnh hưởng của khai thác than của mỏ than Núi Hồng tới
môi trường nước và môi trường không khí tại xã Yên Lãng.
- Số hộ điều tra là 30 hộ
- Cách chọn hộ điều tra là chọn ngẫu nhiên 30 hộ dân cư xung quanh
Mỏ than bán kính 1 km.

3.4.4. Phương pháp điều tra khảo sát thực địa
- Nắm bắt được thông tin chung về khu vực nghiên cứu.

3.4.5. Phương pháp lấy mẫu
3.4.5.1 Phân tích mẫu nước
- Lấy mẫu tại hai vị trí:
+ 2 mẫu tại khu vực văn phòng công ty
+ 2 mẫu lấy tại khu vực khai thác
- Phương pháp lấy mẫu: Lượng nước được lấy chung cho các phép
phân tích trong phòng thí nghiệm là 2lít/mẫu. Mẫu nước được đựng trong
chai lọ sạch. Các mẫu được cố định, bảo quản trước khi vận chuyển về
phòng thí nghiệm théo đúng các tiêu chuẩn chuẩn ban hành (TCVN).


22

- Dụng cụ: Lấy vào ca định lượng, lấy mẫu tổ hợp theo không. Mẫu
được chứa trong bình polyetylen.
- Chỉ tiêu phân tích và phương pháp phân tích:
+ Các chỉ tiêu pH, DO… được đo bằng thiết bị đo đạc chất lượng nước
trên diện rộng nhằm tránh sai số trong quá trình bảo quản mẫu.
+ Các kim loại nặng (Zn, Cu, Pb…) được phân tích bằng phương pháp

26:2010/BTNMT.
- Các chỉ tiêu về nước thải công nghiệp được so sanh với QCVN
24:2009/BTNMT (B) - quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp.
- Các chỉ tiêu về nước ngầm được so sánh với QCVN 09:2008/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiêu chuẩn nước ngầm.
So sánh giữa kết quả thu được với thực tế (ý kiến người dân), từ đó rút
ra được những kết luận về các tác động của khai thác than tới môi trường nước
và môi trường không khí. Qua đó có thể để suất ra những giải pháp hợp lí.


24

PHẦN 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của khu vực mỏ than Núi Hồng

4.1.1. Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1. Vị trí địa lý
Mỏ than Núi Hồng nằm ở địa phận xã Yên Lãng, huyện Đại Từ, tỉnh
Thái Nguyên, cách thành phố Thái Nguyên 40km về phía Tây Bắc, mỏ nằm
trong giới hạn tọa độ địa lý:
- 21037’ đến 21045’ vĩ độ Bắc.
- 105027’ đến 105039’ kinh độ Đông.
Khu mỏ Núi Hồng được nối với thành phố Thái nguyên bằng con
đường quốc lộ số 13A và đường sắt chuyên dụng, khổ đường 1000mm, dài
35km chạy qua địa bàn 10 xã, ngoài ra trong mỏ còn có hệ thống đường nội
bộ thuận lợi đến các khu vực khai thác.
4.1.1.2. Địa hình và thổ nhưỡng
Khu vực mỏ than Núi Hồng nằm trong thung lũng giữa hai dãy núi Núi
Hồng và dãy Tam Đảo, có độ chênh lệch địa hình rất lớn, nơi cao nhất là đỉnh
Núi hồng với độ cao +747m (so với mực nước biển), nơi thấp nhất là cánh

- Độ ẩm tương đối trung bình tháng thấp nhất (tháng 2, tháng 11): 77%
d. Tốc độ gió và hướng gió
- Tại khu vực nghiên cứu, trong năm có 2 mùa chính là mùa đông gió
có hướng Bắc và Đông Bắc, mùa hè gió có hướng Nam và Đông Nam.
- Tốc độ gió trung bình trong năm: 1,9 m/s
- Tốc độ gió lớn nhất: 24 m/s
e. Nắng và bức xạ
- Số giờ nắng trung bình trong năm: 1 588 giờ
- Số giờ nắng trung bình trong tháng lớn nhất: 187 giờ
- Số giờ nắng trung bình trong tháng nhỏ nhất: 46 giờ
- Bức xạ trung bình năm: 122. (Nguồn: Cty Than Núi Hồng, 2010) [3].
4.1.1.4 Tài nguyên thiên nhiên
a. Tài nguyên nước
* Tài nguyên nước mặt:
Nước mặt chỉ yếu trong khu vực mỏ là hệ thống suối Đồng Bèn, suối
Đồng Măng và suối Đồng Cẩm. Suối Đồng Bèn chảy từ hướng Tây Bắc
xuống Đông Nam tập trung vào suối Đồng Cẩm và ra sông Công (cách mỏ
2km về phía Núi Cốc).



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status